THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VI PHẠM BẢN QUYỀN: AI ĐỊNH GIÁ TANG VẬT XÂM PHẠM QUYỀN?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Theo yêu cầu của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp (KDCN) xe máy, cơ quan quản lý thị trường (QLTT) đã kiểm tra và phát hiện 106 xe máy xâm phạm KDCN. Để có căn cứ xác định khung tiền phạt và số tiền phạt cụ thể, cơ quan QLTT đã xác định giá trị của các chi tiết xâm phạm đối với xe xâm phạm kiểu dáng xe Future Neo. Các chi tiết tạo nên KDCN xâm phạm là toàn bộ phần đầu xe (cụm đèn pha, đèn xi nhan). QLTT định giá 30.000 đ/bộ, nhưng giá thực tế của cụm đầu xe này do Sở Tài chính xác định, cung cấp cho cơ quan điều tra là 90.000 đ/bộ (thời điểm tháng 9.2008) và 76.000 đ/bộ (thời điểm tháng 3.2009).

Đối với ốp sườn trước trái, phải (vè), QLTT định giá 50.000 đ/bộ nhưng Sở Tài chính xác định giá thực tế là 100.000-116.000 đ/bộ. Đối với chắn bùn sau (vè sau), QLTT định giá 20.000 đ/bộ nhưng Sở Tài chính định giá theo thực tế ngoài thị trường đến 50.000 đ/bộ.

Theo đó, mức giá của Sở Tài chính xác định dao động từ 425.000 đến 450.000 đ/bộ linh kiện có yếu tố xâm phạm, trong khi Chi cục QLTT thẩm định chỉ có 170.000-180.000 đ/bộ.

Trên cơ sở giá trị các chi tiết do Sở Tài chính xác định với tổng số xe xâm phạm là 106 xe, cơ quan cảnh sát điều tra cho rằng, có sự chênh lệch khi định giá giá trị lô hàng này, dẫn tới định giá sai làm thiệt hại cho Nhà nước. Cơ quan cảnh sát sẽ xem xét đề nghị xử lý theo hướng khởi tố vụ án hình sự hoặc xử lý hành chính, tùy theo mức độ sai phạm và tổng giá trị tài sản sau khi được thẩm định giá chính xác.

(Nguồn: Sài Gòn Giải phóng, ngày 16.6.2009)

Lời bình

1. Cơ quan QLTT đã xác định 106 xe là tang vật của vụ xâm phạm quyền về KDCN, vì trên các xe này có các yếu tố xâm phạm”. Đó là các yếu tố được tạo ra từ hành vi xâm phạm. Đối với KDCN đó là sản phẩm, phần sản phẩm bị coi là yếu tố xâm phạm quyền đối với KDCN thuộc trường hợp là trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét, kể cả trường hợp đã được cấp Bằng độc quyền KDCN, có tập hợp các đặc điểm tạo dáng hợp thành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao (gần như không thể phân biệt được sự khác biệt) KDCN của chủ sở hữu khác đã được bảo hộ mà không được sự đồng ý của người đó.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CHỨNG CỨ ĐÂU?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Công ty TNHH Thương mại xây dựng sản xuất Phương Nga (Công ty Phương Nga) có đơn yêu cầu Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thành phố Hồ Chí Minh xử lý vi phạm hành chính đối với hai công ty khác vì cho rằng hai công ty này đã xâm phạm độc quyền giải pháp hữu ích của mình.

Bản chất giải pháp hữu ích của Công ty Phương Nga là khi muốn vận chuyển xi măng từ nhà máy sản xuất đến các công trình xây dựng, thông thường phải dùng xe ô tô chuyên dụng (dạng như xe bồn). Muốn vận chuyển theo cách này thì ít nhất phải có đường sá để xe chở xi măng chạy đến được công trình. Do đó, Công ty Phương Nga đã mày mò tìm cách giải quyết và cuối cùng nghĩ ra cách lấy công nghệ của xe bồn sang áp dụng cho xà lan. Hiểu nôm na là, do xi măng có dạng hạt mịn và nhẹ nên Công ty Phương Nga dùng máy nén khí và các ống dẫn để tạo áp lực hút xi măng “chảy” trực tiếp từ nhà máy – theo ống dẫn – xuống tàu và khi đến công trình thì có thể bơm ngược xi măng từ tàu – theo ống dẫn – ra bồn chứa xi măng của công trình.

Tháng 5.2006, Công ty Phương Nga nộp đơn đến Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT), Bộ KH&CN xin được cấp bằng bảo hộ đối với giải pháp kỹ thuật: “Hệ thống chứa, bơm xi măng rời lên bờ từ phương tiện vận tải thủy bằng máy nén khí”. Đến tháng 11.2007, Cục SHTT đã cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho Công ty Phương Nga, có giá trị độc quyền trong vòng 10 năm (đến năm 2016).

Chính vì cách thức hiệu quả trên nên ngay sau khi Công ty Phương Nga áp dụng giải pháp hữu ích này thì một số đơn vị cung cấp xi măng khác cũng bắt chước làm theo. “Như vậy là vi phạm sự độc quyền về giải pháp hữu ích của công ty chúng tôi”, Công ty Phương Nga khẳng định và đã có văn bản yêu cầu hai công ty khác ngưng hành vi xâm phạm, nhưng đến nay hai đơn vị này vẫn chưa ngưng. Lý do là, các công ty bị cho là xâm phạm quyền cho rằng mình không xâm phạm gì – “Giải pháp của Công ty Phương Nga đã có từ lâu đời, nhiều nơi đã ứng dụng chứ không có gì mới lạ, độc quyền cả!”.

Từ thực trạng trên, Công ty Phương Nga đã gửi đơn yêu cầu Thanh tra Sở KH&CN xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu giải pháp của mình. Tuy nhiên, Thanh tra Sở cho rằng, muốn xử lý xâm phạm thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm, trong đó có tài liệu mô tả hệ thống chứa và bơm xi măng của bên xâm phạm và so sánh hệ thống này với hệ thống được cấp bằng độc quyền.

Trong khi đó, Công ty Phương Nga cho biết, chỉ có cách dùng “gián điệp kinh tế” thì may ra mới xâm nhập nội bộ của công ty kia mà lấy tài liệu mô tả chứ làm sao mà có được chứng cứ như Thanh tra Sở yêu cầu. Do đó, hiện tại Công ty Phương Nga đang chuẩn bị hồ sơ để kiện ra tòa yêu cầu các đơn vị này chấm dứt hành vi xâm phạm.

(Nguồn: Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh online, 30-31.12.2009).

Bình luận

Continue reading

BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

PGS-TS. TRẦN VĂN ĐỘ -  Tòa án Quân sự Trung ương

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

Continue reading

HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ

THS. BÙI THỊ KIM NGÂN – Giảng viên Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Sự cần thiết phải ban hành những quy định riêng đối với lao động nữ

Lao động nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới, họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình. Đó là những vấn đề mang tính tự nhiên (lao động nữ có thời kỳ mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hàng tháng, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau…) hay mang tính xã hội (tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người từ hàng ngàn đời nay. Đặc biệt đối với các nước Á Đông…). Điều này gây ra sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, chẳng hạn như: học vấn, việc làm, cơ hội thăng tiến, trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ trong gia đình…

Những vấn đề tự nhiên cũng như các vấn đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do độc lập, tự do lao động, cơ hội thăng tiến mà lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao động nam trong quan hệ lao động. Vì thế khi tham gia quan hệ lao động, lao động nữ phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở doanh nghiệp, công sở đến công việc gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái, phụng dưỡng bố mẹ…).

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, ngoài chức năng làm mẹ, chức năng chăm sóc gia đình của lao động nữ có những thay đổi nhất định. Do áp lực của công việc và khả năng lao động của lao động nữ (đặc biệt giới trí thức) đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan hơn, ngay trong mỗi gia đình, người chồng cũng phải có cách nhìn thực tế hơn, nhất là đối với những phụ nữ tài năng để chia sẻ và tạo cơ hội cho người bạn đời của mình phát huy được khả năng, trí tuệ phục vụ cho đất nước, xã hội và gia đình.

Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên cũng như xã hội không phải lao động nữ nào cũng nhận được sự thông cảm, chia sẻ từ người chồng, của xã hội mà thực tế nhiều trường hợp người phụ nữ đành phải lựa chọn hạnh phúc gia đình hoặc cơ hội học tập thăng tiến… Người xưa có câu “hạnh phúc người đàn ông là sự nghiệp, còn sự nghiệp của người đàn bà là tình yêu”, câu nói đó phần nào phản ánh những hạn chế về giới, người phụ nữ thường xem hạnh phúc gia đình là điều quý giá và khi bắt buộc phải lựa chọn thì đa số họ sẽ chọn hạnh phúc gia đình.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 25/2010/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 3 NĂM 2010 VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các doanh nghiệp được chuyển đổi theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

3. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc chuyển đổi, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Điều 3. Chủ sở hữu và phân công, phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Continue reading

VĂN MINH GIAO TIẾP THỜI HỘI NHẬP

DIỆU TRANG

Chuyện thứ nhất. Trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ gần đây của một đoàn doanh nghiệp Việt Nam, trên đường về, tại một sân bay ở Nhật, một doanh nhân của ta bước vào duty–free shop (cửa hàng miễn thuế). Anh này thản nhiên cầm một cái ví da hiệu Cartier, không cần xem giá, mang ra quầy tính tiền. Và kết cục là anh phải trả lại cái ví hơn 700 USD đó vì giá cao hơn anh tưởng nhiều…

Chuyện thứ hai. Trong một chuyến đi làm việc tại Thái Lan, một nữ doanh nhân có kinh nghiệm của Việt Nam đã phạm một sai lầm đáng tiếc. Chị vào siêu thị, chọn một cái kính, như người ta thì phải cầm ở tay cộng khai trước khi ra bàn thanh toán, đằng này chị lại "tiện tay" cho vào túi xắc và "quên" không trả tiền. Ra đến cửa mới nhớ thì sợ quá, chị không biết xử trí thế nào đành… vứt vào sọt rác. (Điều này thể hiện rằng chị không có ý ăn trộm). Theo hệ thống camera giám sát, bảo vệ siêu thị đã tìm ra chị và sau lời phân trần đã chấp nhận “hộ tống” cho chị ra thanh toán tiền. Chuyện có lẽ đã xong nếu anh em trong đoàn không nhìn thấy và nóng vội, chưa hiểu đầu đuôi thế nào đã lớn tiếng với người bảo vệ khiến anh này tức quá gọi cảnh sát tới. Kết quả là chị phải ở lại mấy tháng chờ xét xử xong, về nước cũng "thân bại danh liệt".

Hai câu chuyện với hai thời gian, hai điạ điểm và hai chủ thể hoàn toàn khác nhưng lại có nhiều nét tương đồng. Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội từng có nhiều chuyến công du đến các nước đã dành cho Tạp chí Truyền hình một cuộc nói chuyện thú vị về một điều "nhỏ mà không nhỏ": ứng xử văn minh trong môi trướng quốc tế. Đi công cán nước ngoài sao cho văn minh – đó là vấn đề cần được quan tâm trong thời buổi hội nhập như hiện nay. Câu chuyện dưới quan sát sắc sảo của một người làm công tác đối ngoại có lẽ sẽ làm nhiều người phải suy nghĩ.

Continue reading

KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VÀ CẤU TRÚC CỦA GIAO DỊCH SÁP NHẬP, MUA LẠI DOANH NGHIỆP

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

1. Các hình thức của giao dịch M&A

Sau khi đã hiểu được sự cần thiết của giao dịch M&A, câu hỏi đặt ra với các doanh nghiệp là thực hiện M&A như thế nào.

Thông thường một giao dịch M&A phải trải qua các bước:

– Tìm kiếm đối tác

– Thẩm định, xác định giá trị giao dịch

– Đàm phán, ký kết, thực hiện Hợp đồng M&A

Trong giao dịch M&A, vấn đề cần quan tâm trước tiên đó là hình thức pháp lý mà pháp luật cho phép để thực hiện giao dịch. Hình thức pháp lý ở đây được hiểu là các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định mà các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ. Hình thức pháp lý của giao dịch M&A sẽ quyết định các công việc cụ thể cần thực hiện cũng như quyết định chúng sẽ được thực hiện như thế nào và tại thời điểm nào.

Pháp luật Việt Nam quy định về các hình thức thực hiện giao dịch M&A như sau:

– Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp thông qua việc góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần.

– Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông của công ty. Không giống như hình thức góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp, đây là hình thức đầu tư không làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp nhưng có thể làm thay đổi cơ cấu sở hữu vốn góp/cổ phần của doanh nghiệp.

Continue reading

NHỮNG THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Theo Sắc lệnh ngày 29/5/2009 thông qua việc thành lập Cục Quan hệ Người tiêu dùng (Consumer Affairs Agency – CAA) trực thuộc Văn phòng Nội các (Cabinet Office), ngày 1/9/2009 CAA chính thức đi vào hoạt động với hơn 200 nhân viên để xử lý các vụ việc có liên quan đến người tiêu dùng . Trước đây, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng là một trong những chức năng của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC).

Việc tách riêng cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cùng khung khổ pháp lý mới liên quan đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng gắn với việc thay đổi đáng kể pháp luật về các hành vi thương mại không lành mạnh Nhật Bản với những thay đổi trong Đạo luật số 54 năm 1957 về chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại lành mạnh có hiệu lực từ ngày 4/1/2010. Theo đó, việc xử lý các hành vi thương mại không lành mạnh chủ yếu gây hậu quả đến người tiêu dùng sẽ được chuyển sang thuộc thẩm quyền của CAA .

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc ban hành Luật và Chính sách cạnh tranh ở châu Á, những kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực này có thể sẽ rất bổ ích cho Việt Nam. Thứ nhất, liên quan tới việc trong năm 2010Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng, theo hình mẫu Nhật Bản có thể nghĩ đến việc thành lập Cục Bảo vệ Người tiêu dùng như một cơ quan độc lập chứ không phải có một Ban Bảo vệ người tiêu dùng thuộc Cục Quản lý cạnh tranh như hiện nay.

Thứ hai, cần có biện pháp để áp dụng cơ chế đòi bồi thường thiệt hại đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh ở Nhật Bản chủ yếu được xử lý thông qua cơ chế đưa ra Toà án đòi bồi thường thiệt hại. Qua hơn 4 năm chính thức có hiệu lực, Luật Cạnh tranh năm 2004 mới được áp dụng để xử lý hơn 20 vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Continue reading

HƯỚNG DẪN TIẾN HÀNH HỌP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ HOẶC ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG TẠI VIỆT NAM

MỸ LY (Theo Mekong Capital và Luật Doanh nghiệp 2005)

1. Chuẩn bị cho cuộc họp

Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) là người chịu trách nhiệm điều khiển cuộc họp trừ trường hợp ủy quyền cho người khác. Người chịu trách nhiệm tiến hành họp có trách nhiệm chuẩn bị những phần sau đây:

1.1. Lên danh sách người dự họp

Danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công ty. Danh sách này phải lập xong chậm nhất ba mươi ngày trước ngày khai mạc họp Đại hội đồng cổ đông nếu Điều lệ công ty không quy định một thời hạn khác ngắn hơn.

1.2. Thông báo

Thông báo mời họp phải được gửi tới từng cổ đông hoặc các ủy viên HĐQT để họ biết được ngày và địa điểm tổ chức cuộc họp.

Điều 100.1 của Luật Doanh nghiệp quy định Người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải gửi thông báo mời họp đến tất cả cổ đông có quyền dự họp chậm nhất 7 ngày làm việc trước ngày khai mạc nếu Điều lệ công ty không quy định thời hạn. Thông báo được gửi bằng phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của cổ đông.

Luật Doanh nghiệp không quy định thời gian gửi thông báo đối với các cuộc họp HĐQT hoặc những cuộc họp đại hội cổ đông bất thường, nhưng có thể quy định điều này trong Điều lệ công ty. Tốt nhất nên gửi thông báo trước tối thiểu là 2 tuần trước ngày họp để mọi người có thể thu xếp thời gian đến dự.

Continue reading

MỘT SỐ LƯU Ý ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO KHI GIAO KẾT HỢP ĐỒNG QUA FAX

Legal.moit.gov.vn – Hợp đồng qua fax đã được coi là có giá trị pháp lý tương đương với hợp đồng bằng văn bản. Vì vậy, hiện nay các doanh nghiệp thực hiện giao dịch ký kết hợp đồng qua fax khá phổ biến. Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng qua fax có rất nhiều các rủi ro có thể xảy ra như: nguy cơ giả mạo, dữ liệu qua fax bị thất lạc gây rò rỉ thông tin, giá trị pháp lý của tài liệu giao dịch qua fax dễ bị các bên phủ nhận… Do vậy, khi giao kết hợp đồng qua fax, để hạn chế rủi ro, các doanh nghiệp cần lưu ý:

Thứ nhất, phải có một thỏa thuận chi tiết về giao kết hợp đồng qua fax phù hợp với Luật Giao dịch điện tử.

Thứ hai, mỗi bên phải có hệ thống kiểm soát nội bộ về giao dịch qua fax, bao gồm nhân lực, phương tiện và qui chế quản lý. Nhân lực tham gia phải thực sự trung thực, cẩn trọng và mẫn cán. Phương tiện phải hiện đại bảo đảm chất lượng, qui chế quản lý phải chặt chẽ và đầy đủ.

Thứ ba, các bên phải thống nhất được với nhau về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng qua fax trong đó phải thỏa thuận rõ về điều kiện để tài liệu giao dịch qua fax có hiệu lực, tính toàn vẹn của dữ liệu, qui trình khởi tạo dữ liệu qua fax, qui trình gửi, qui trình nhận, xác nhận việc gửi nhận, địa điểm gửi, địa điểm nhận, thời điểm tài liệu giao dịch qua fax có hiệu lực, qui tắc bảo mật thông tin, trách nhiệm bồi thường thiệt hại…

Thứ tư, các bên phải đăng ký với nhau về mẫu dấu công ty, mẫu dấu chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền ký hợp đồng, tên và nhân thân của nhân viên giao dịch của hai bên, số fax sử dụng để giao dịch, địa điểm giao dịch, số điện thoại, địa chỉ email liên hệ…

Thứ năm, các bên phải có bản gốc để đối chiếu và phải có nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn giữa bản gốc và bản fax tùy theo tính chất của từng giao dịch.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 33/2010/TT-BTC NGÀY 11 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH BAN HÀNH ĐIỀU LỆ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY MUA, BÁN NỢ VÀ TÀI SẢN TỒN ĐỌNG CỦA DOANH NGHIỆP

– Căn cứ Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003;
– Căn cứ Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 của Chính phủ về quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước;
– Căn cứ Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 và Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21/8/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 của Chính phủ về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước;
– Căn cứ Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
– Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
– Căn cứ Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác;
– Căn cứ Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày 05/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp;
– Căn cứ Quyết định số 55/2004/QĐ-TTg ngày 06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng tại công văn số 346/VPCP-ĐMDN ngày 15/1/2010 của Văn phòng Chính phủ về cơ chế hoạt động đối với Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, Bộ Tài chính ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp như sau:

I – QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp được thành lập theo Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 38/2010/TT-BTC NGÀY 19 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN

Căn cứ Luật Khoáng sản và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khoáng sản;
Căn cứ các Luật, Pháp lệnh về thuế, phí và lệ phí hiện hành và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các Luật, Pháp lệnh thuế, phí và lệ phí;
Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và các văn bản của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 50/VPCP-KTTH ngày 05/01/2010 của Văn phòng Chính phủ,
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các tổ chức, cá nhân chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định tại khoản 6 Điều 53 Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản như sau
:

Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng

Tổ chức, cá nhân được phép chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định tại khoản 6 Điều 53 Nghị định số 160/2005/NĐ-CP nay có chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản được xác định như chuyển nhượng dự án đầu tư và thực hiện nghĩa vụ thuế theo hướng dẫn tại Thông tư này.

Điều 2. Về Thuế giá trị gia tăng

Hoạt động chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Continue reading

SOẠN LUẬT – CUỘC GIẰNG XÉ GIỮA CÁC LỢI ÍCH

con0012 NGUYỄN LONG VÂN

Đã từ lâu, các nhà soạn Luật của chúng ta đa số là người trong bộ máy hành pháp, soạn thảo ra các bản dự thảo Luật, sau đó mới đưa ra Quốc hội thảo luận, góp ý, sửa đổi và thông qua. Với nhãn quan của một kẻ “bề trên”, với địa vị là người sẽ nắm công cụ quyền lực, với thói quen và sự hiểu biết của bộ máy còn nặng thói quan liêu…và vì sự sống còn của chính mình, các nhà soạn thảo có “công tâm” đến đâu chăng nữa thì  bản dự thảo Luật về Hội có đến lần thứ 100 cũng khó lòng đem lại dân chủ thực sự cho người dân trong vấn đề lập Hội.

Từ nóng ruột đến bức bối, rồi cảm giác ngạt thở khi chờ đợi các nhà lập pháp của nước nhà quy hoạch và thực hiện quá trình làm Luật. Có những Bộ luật, các nước đã thực hiện từ “tám mươi đời” rồi mà nay chúng ta vẫn loay hoay ở mức Dự thảo. Lại có những Bộ luật ra đời sau một thời gian dài thai nghén như “voi chửa” nhưng vẫn chưa thể áp dụng vào cuộc sống vì chưa có Nghị định hướng dẫn. Lại có những Bộ luật có Nghị định hướng dẫn rồi nhưng không được cuộc sống chấp nhận vì xa rời thực tế…

Chỉ riêng việc soạn thảo các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005 đã có dự thảo đến lần thứ 17 rồi mà vẫn chưa ngã ngũ. Nếu nhìn vào con số này, thật khó lòng trách cứ các nhà soạn Luật của chúng ta thờ ơ với số phận của đất nước, chểnh mảng với sự nghiệp phục vụ nhân dân.

Cuộc sống thì vẫn trôi như dòng nước chảy. Chỉ có điều nó cứ phải biến dạng, uốn lượn theo sự xuống cấp của đạo đức và văn hóa công sở và vì sự thiếu hụt các hành lang pháp lý. Tốn thời gian, giảm nguồn lực, vì thế tụt hậu là điều cũng dễ hiểu.

Continue reading

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – Washington DC

Binh Pháp Tôn Tử có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thế có nghĩa là nếu đối thủ biết bí mật thương mại của ta thì ta trăm trận trăm thua. Bí mật thương mại của một công ty là tất cả những thông tin và kiến thức dùng trong công việc làm ăn của công ty mà chỉ có người của công ty biết được: công thức sản phẩm, danh sách các đối tác, danh sách các nhà cung cấp, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, kế hoạch tiếp thị, v.v… Các loại thông tin này nếu bị lộ ra ngoài có thể đặt công ty trong tình trạng ra trận trong khi địch đã rõ hết đường đi nước bước của ta. Vậy thì làm thế nào để các công ty có thể bảo vệ được các bí mật thương mại của mình?

Bí mật thương mại khác với sở hữu trí tuệ (intellectual property) ở chỗ là tài sản trí tuệ như bằng sáng chế (patent), thương hiệu (trademark) và tác quyền (copyright) là tài sản công khai, phải đăng ký với Nhà nước cho mọi nguời biết. Phần thưởng cho việc đăng ký công khai là độc quyền khai thác trong một thời gian luật định. 

Bí mật thương mại (trade secret) có lợi ở chỗ là công ty có độc quyền khai thác bí mật vô hạn định, ngày nào bí mật còn là bí mật thì công ty còn độc quyền khai thác.  Tuy nhiên, bí mật thương mại nếu bị “bật mí” thì xem như không còn giá trị mấy.  Coca Cola là một trong những công ty đã chọn con đường không đăng ký bằng sáng chế (để được bảo vệ độc quyền trong một thời gian) công thức làm nước Coca Cola, mà giữ công thức này hoàn toàn bí mật (để được độc quyền vĩnh viễn). Cho đến ngày nay, Coca Cola vẫn thành công trong việc bảo vệ bí mật công thức này.  McDonald cũng có nhiều công thức làm thực phẩm bí mật không đăng ký bằng sáng chế với Nhà nước.

Dĩ nhiên là các đối thủ của một công ty có quyền tìm cách khám phá ra công thức bí mật bằng cách “thiết kế ngược,” nghĩa là phân tích một sản phẩm để tìm ra công thức chế tạo. Cách này hoàn toàn hợp pháp, và nếu công ty không đăng ký bằng sáng chế, thì công thức có thể bị mất. Tuy vậy, trong một số các lĩnh vực, như là thực phẩm chẳng hạn, thiết kế ngược để tìm đúng công thức cho ra đúng mùi vị không phải là việc dễ dàng.

Continue reading

“NHÃN HIỆU” VÀ “THƯƠNG HIỆU”

NGUYỄN ĐÌNH SAN

“Nhãn hiệu” và “Thương hiệu” là 2 từ lúc đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, thương trường rồi sau đó mới mở rộng, hàm chứa nghĩa sang những lĩnh vực khác. “Nhãn hiệu” là cái vỏ, cái mác bên ngoài; còn “Thương hiệu” là cái làm nên giá trị của thứ đó. Nhãn hiệu thì có thể gắn với nội dung, chất lượng, có thể không. Hiểu nôm na, nhãn hiệu chỉ đơn giản là tên của một hãng, một sản phẩm hàng hoá.

Ví dụ như Sony, Daewoo, Hanel… (hàng địên tử); 555, Dunhill, Marlboro, Vinataba, Thăng Long… (Thuốc lá) là nhãn hiệu. Còn thương hiệu gắn với những sản phẩm nổi tiếng, chiếm được sự ưa chuộng của đa số khách hàng. Bản thân các nhãn hiệu không có tính cạnh tranh nhau vì đơn thuần chỉ là cái tên, sự phân biệt giữa các đơn vị kinh tế. Chỉ thương hiệu mới có tác dụng này, mới có khả năng loại bỏ nhau do chất lượng, uy tín đối với khách hàng khác nhau. Nhãn hiệu có thể đi liền với thương hiệu, có thể không. Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, nhiều người ở Hà Nội đều biết đến hiệu dầu cao con hổ nổi tiếng Chính đại dược hàng. Đây là loại thuốc dùng để xoa bóp khi bị cảm lạnh, đau bụng rất hiệu quả. Dầu nhờn, được đựng vào hộp tròn, dẹt, to hơn đồng xu một chút, màu đỏ, có hình con hổ nổi. Không hiểu vì sao đến nay không thấy nữa. Bây giờ có thể có nhiều loại thuốc mới nhập khẩu từ nước ngoài cũng tốt, nhưng người ta vẫn không quên dầu cao con hổ của Chính đại dựơc hàng. Nhãn hiệu này đã là một thương hiệu. Khi đó không có dầu bôi nào sánh bằng. Hoặc như hiện nay, trong rất nhiều hãng cà phê đã nổi bật hãng Trung Nguyên. Thương hiệu này đã lấn át tất cả các hãng cà phê khác, gần như độc chiếm thị phần toàn quốc và một số nước trên thế giới. Đó là thương hiệu.

Như vậy, chỉ thương hiệu mới có giá trị, còn nhãn hiệu thì chẳng có ý nghĩa nếu không gắn liền với thương hiệu. Nhìn sang lĩnh vực khác – nghiên cứu khoa học hoặc văn học nghệ thuật chẳng hạn – điều đang bàn cũng không nằm ngoài những lẽ trên. Tất cả những bằng cấp (trung học, cao đẳng, đại học); học hàm (phó giáo sư, giáo sư); học vị (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), rồi những kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, thi sĩ… đều chỉ là “nhãn hiệu”, để phân biệt với các nghề nghiệp khác. Ngoài thông tin về công việc, nghề nghiệp, chưa nói lên điều gì. Phải là “thương hiệu”. Ví như ở nước ta, có tới hàng nghìn người làm nghề châm cứu nhưng chỉ Nguyễn Tài Thu mới là “thương hiệu” hàng đầu. Cũng như vậy trong những “thương hiệu” ở lĩnh vực nông học, phải nhắc đến 2 “thương hiệu” là Lương Đình Của và Vũ Tuyên Hoàng (cả 2 vị đều đã qua đời). Không thể kể hết mọi lĩnh vực đều có những “thương hiệu” đặc biệt, vượt lên, nổi trội hơn các “nhãn hiệu” khác.

Continue reading

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học ngoại thương Hà Nội

Nếu không vì lý do bất khả kháng, người bán không nên tự tuyên bố ngừng thực hiện hợp đồng

Khi một bên vi phạm hợp đồng và vi phạm đó là vi phạm cơ bản thì bên kia có quyền hủy hợp đồng. Thực tiễn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế cho thấy không dễ dàng để xác định đâu là vi phạm cơ bản.

Tranh chấp giữa Bên mua là các Cty của Argentina và của Hungary, Bên bán là một Cty của Nga. Bên mua kiện bên bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã không giao hàng như cam kết. Bên bán cho rằng Bên mua đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã chậm thanh toán. Tranh chấp được xét xử tại Hội đồng trọng tài Zurich, phán quyết tuyên ngày 31/5/1996. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng.

Diễn biến tranh chấp

Từ năm 1991, người bán Nga (một tổ chức của Chính phủ) ký kết một số hợp đồng bán nhôm cho một số người mua có trụ sở kinh doanh ở Argentina và Hungary (bên mua). Việc giao hàng được tiến hành đúng thời hạn cho tới khi Cty người bán chuyển quyền sở hữu cho một Cty tư nhân của Nga. Cty này ngay lập tức tuyên bố sẽ không tiếp tục thực hiện việc giao hàng. Trong quá trình trao đổi thư từ giữa hai bên sau đó, bên mua lưu ý rằng, họ sẽ phải chịu những thiệt hại nặng nề nếu như hàng hoá không được giao đúng hạn. Bên bán đưa ra hoá đơn theo đó ghi rõ số tiền cụ thể đòi bên mua phải thanh toán theo nhiều chuyến hàng trước đó. Bên bán cho rằng, việc bên mua trì hoãn thanh toán tiền hàng những lô hàng trước dẫn tới vi phạm cơ bản nghĩa vụ của bên mua, do vậy, bên bán có quyền từ chối thực hiện hợp đồng. Bên mua đề nghị đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng bên bán từ chối. Bên mua đã kiện bên bán ra trọng tài đòi bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh do không giao hàng.

Continue reading

HỦY BỎ HỢP ĐỒNG DO CHẬM GIAO HÀNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương Hà Nội

Thông thường, khi người bán chậm giao hàng, người mua không được quyền hủy hợp đồng mà chỉ được đòi bồi thường thiệt hại. Tuy vậy, trong một số tình huống nhất định, người mua có quyền hủy hợp đồng ngay khi người bán không thể giao hàng khi hết thời hạn.

Tranh chấp giữa Cty Diversitel Communications Inc. (Canada) và công ty Glacier Bay Inc. (Mỹ). Người bán Mỹ không giao hàng khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng. Hai bên tranh cãi về việc liệu người mua Canada có quyền hủy hợp đồng hay không. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Công lý tối cao tại Ontario (Ontario Supreme Court of Justice), phán quyết tuyên ngày 6/10/2003.

Diễn biến tranh chấp

Người mua Canada và người bán Mỹ đã ký kết một hợp đồng mua bán hệ thống cách nhiệt chân không. Để đáp ứng những thỏa thuận đã tồn tại từ trước tới nay với Bộ Quốc phòng Canada về chất lượng thiết bị và quá trình lắp đặt hệ thống tại một nhà máy ở Bắc Cực, người mua đã cố định một lịch trình giao hàng cụ thể.

Người mua đã thanh toán theo giá hợp đồng nhưng người bán không giao hàng trong thời gian đã thỏa thuận. Người mua đã kiện người bán ra Tòa án Công lý tối cao bang Ontario yêu cầu hủy hợp đồng. Người bán không đồng ý, cho rằng người bán không có đủ căn cứ để hủy hợp đồng.

Phân tích và quyết định của Tòa án

Về luật áp dụng, Tòa tuyên bố rằng Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp vì Canada và Mỹ đều là thành viên của công ước này. Để xem xét hợp đồng có thể bị hủy hay không, Tòa đã dẫn chiếu điều 25 CISG: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1334/BGDĐT-VP NGÀY 18 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỀ PHÔI BẰNG TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Kính gửi:

Ban biên tập Báo Tuổi trẻ

Báo Tuổi trẻ ngày 17/3/2010 có đăng bài “Hàng vạn phôi bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng bị lỗi” trong đó có nội dung phôi bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng có dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nhưng không có dòng chữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” và không có chỗ để dán ảnh người học. Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo có ý kiến như sau:

Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp trình độ đại học, cao đẳng. Việc in phôi bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được dựa trên cơ sở quy định tại Thông tư số 21/2009/TT-BGDĐT ngày 12/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mẫu bằng tốt nghiệp cao đẳng, Thông tư số 22/2009/TT-BGDĐT ngày 12/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mẫu bằng tốt nghiệp đại học. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng không phải là văn bản quy phạm pháp luật hay công văn hành chính. Vì vậy, mẫu bằng tốt nghiệp đại học, bằng tốt nghiệp cao đẳng không thể hiện thể thức trình bày theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật hoặc công văn hành chính.

Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng còn được cấp cho người nước ngoài học tập tại Việt Nam. Do đó, mẫu bằng tốt nghiệp đại học, bằng tốt nghiệp cao đẳng được xây dựng trên cơ sở tham khảo bằng tốt nghiệp đại học của một số nước và mẫu giấy tờ mang tính quốc tế của một số bộ, ngành cũng chỉ ghi “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Một số giấy tờ có yêu cầu dán ảnh như Giấy chứng minh nhân dân sau một thời gian nhất định phải làm thủ tục cấp đổi để dán ảnh lại mới nhằm đảm bảo việc quản lý nhân thân bằng hình thức nhận diện qua ảnh. Tuy nhiên, theo quy định bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ cấp một lần không cấp lại và không thể sau một thời gian nhất định cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng lại yêu cầu người học làm thủ tục cấp đổi văn bằng do ảnh đã cũ. Văn bằng là loại giấy tờ đặc biệt, được sử dụng lâu dài và đi theo suốt cuộc đời người được cấp văn bằng. Hơn nữa, tham khảo mẫu văn bằng các trình độ đào tạo của một số nước trên thế giới, đều không dán ảnh trên văn bằng. Ảnh dán trên văn bằng không đảm bảo độ chính xác để đối chiếu khi mà theo thời gian, người được cấp văn bằng sẽ thay đổi so với ảnh. Trong điều kiện công nghệ hiện đại, nếu có mục đích gian lận trong sử dụng văn bằng thì có thể thay ảnh, làm ảnh giả, làm giả dấu nổi đóng giáp lai trên ảnh. Do đó, việc dán ảnh không có tác dụng nhiều trong quản lý văn bằng.

Continue reading

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA MỘT NHÀ NƯỚC THÔNG MINH

LG. CAO BÁ KHOÁT

Chuyển các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thành công ty cổ phần (gọi tắt là cổ phần hóa) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là một xu thế tất yếu khách quan, không thể cưỡng lại được. Tuy nhiên, do lực cản từ nhiều phía, tốc độ cổ phần hóa hãy còn rất ì ạch. Đến hôm nay, có thể khẳng định rằng, đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cổ phần hóa tiến tới tư nhân hóa các DNNN là biểu hiện sinh động nhất cho một Nhà nước thông minh.

Trước hết, DNNN là sản phẩm tất yếu của mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị. Tùy điều kiện cụ thể của mỗi nước, các DNNN ra đời và tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng đều theo một con đường chung: Nhà nước lập ra DNNN để tăng thu ngân sách phục vụ cho lợi ích chung của xã hội; khi dân chưa biết kinh doanh thì Nhà nước lập ra DNNN để hướng dẫn, làm mẫu cho dân làm theo; khi dân đã biết kinh doanh thì Nhà nước chuyển giao cho dân làm, Nhà nước chỉ làm những gì dân chưa làm được, không cạnh tranh với dân mà là người tổ chức quản lý để dân kinh doanh trên một mặt bằng cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước từng bước thoát khỏi vị thế là nhà đầu tư, tập trung tài lực vào công việc quản lý an ninh xã hội và thu thuế để phục vụ xã hội. Đó là một trong những biểu hiện của Nhà nước thông minh.

DNNN không phải là sản phẩm độc quyền của một quốc gia nào. Tất cả các nước có nền kinh tế phát triển đều phải thực hiện lộ trình tư nhân hóa để Nhà nước thoát khỏi vị thế là nhà đầu tư. Đó chính là bài toán tối ưu, Nhà nước bỏ vốn đầu tư ít nhất và thu được nhiều thuế nhất và vẫn đảm bảo phát triển đất nước. Và chỉ khi Nhà nước thực hiện bài toán tối ưu hóa đầu tư như thế mới là một Nhà nước thông minh

Tối ưu hóa đầu tư trước hết phải là xã hội hóa đầu tư, tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh để mọi công dân đều có cơ hội đầu tư bình đằng như nhau, để mọi công dân đều có cơ hội thành lập doanh nghiệp tạo việc làm cho xã hội. Các nước phát triển có tiêu chí số dân/ doanh nghiệp trung bình 20 người dân có 1 DN, chỉ số đó ở ta hiện nay là 750 dân/1DN, có tỉnh lên tới 3.000 dân/1DN. Rõ ràng là tốc độ xã hội hóa đầu tư của ta còn quá thấp. Một Nhà nước thông minh phải biết tạo điều kiện cho sự phát triển kho tàng chất xám của 80 triệu dân Việt Nam. Đó là kho tài nguyên quý nhất mà lâu nay ta không khai thác hợp lý. Bằng nhiều chính sách và biện pháp khuyến khích dân kinh doanh, đó là một Nhà nước thông minh.

Continue reading