NHÂN DỊP 200 NĂM BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

NGUYÊN LÂM

Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 1995 (Bài này được viết vào thời điểm năm 2004 – Civillawinfor). Trong bối cảnh như thế, giới luật không thể không nhắc đến một sự kiện lịch sử lớn diễn ra trong năm nay: 200 năm Bộ luật Dân sự Pháp, một trong 5 Bộ luật của Napoleon. Ra đời năm 1804, nơi thì bị áp đặt, nơi được tiếp nhận tự nguyện, dù ít hay nhiều, Bộ luật Dân sự Pháp hiện nay là cơ sở cho bộ luật dân sự ở hơn 70 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Thoạt đầu có ý nghĩa làm biến đổi hệ thống pháp luật nước Pháp thế kỷ 19, sau đó tác động tới cả hệ thống dân luật (civil law) trên toàn thế giới. Đến nay, dù đã qua 200 năm với bao biến đổi về chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, Bộ luật này vẫn tràn đầy sức sống. Phải chăng, để Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng có được tuổi thọ như vậy, chúng ta  thử tìm hiểu xem, đằng sau các điều khoản, câu chữ của Bộ luật Dân sự Pháp ẩn giấu triết lý nào, chủ thuyết nào, tư tưởng nào, hay nói cách khác, tinh thần nào đã làm nên sức sống đó?    

Khi giải thích nguyên nhân tạo nên sức sống của Bộ luật Dân sự Pháp, các nhà nghiên cứu luật học có tiếng trên thế giới đều có chung nhận xét: tư duy của những nhà làm luật Pháp hồi đó xác định ngay từ đầu rằng, chức năng của nhà làm luật là “nén chặt” (compress) các nguyên tắc chung nhất, tránh quá sa vào chi tiết. Các nhà soạn thảo nhận thức rõ rằng, ngay cả một nhà làm luật nhìn xa trông rộng nhất cũng không thể thấy hết được mọi vấn đề nảy sinh trong thực tế, vì thế cần phải để một khoảng tự do cho thẩm phán trong quá trình áp dụng có thể làm cho luật phù hợp với cuộc sống, đáp ứng được những thay đổi trong cuộc sống. Mặt khác, thẩm phán cùng với nhà làm luật cùng phát triển, mở rộng các quy định của Bộ luật và đem lại những tư tưởng pháp lý mới cho Bộ luật.

Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH RÕ KHI NÀO GIAO DỊCH DÂN SỰ BỊ VÔ HIỆU

HẢI TOÀN

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) phần liên quan đến hợp đồng, nhất là những quy định về các trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu đã nhận được nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình lấy ý kiến xây dựng Luật.

Theo đánh giá chung của nhiều chuyên gia thì những quy định hiện hành về hợp đồng thể hiện sự can thiệp “quá mức” cần thiết của Nhà nước vào quá trình, hình thành tồn tại và phát triển của quan hệ hợp đồng. Điều này, ảnh hưởng đến quá trình vận hành của thị trường cũng như quyền tự do thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng. Điển hình, vi phạm hình thức hợp đồng (phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng, hoặc chứng thực…) được xem là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Ngoài ra, nhiều quy định chưa tạo điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quả việc khai thác, sử dụng các loại tài sản hiện có của Nhà nước. Theo Điều 320 thì vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch. Quy định này, không phù hợp với thực tế và không bảo đảm  tính linh hoạt của giao dịch dân sự khi mà một người có thể lấy tài sản của một người khác để đảm bảo cho nghĩa vụ của mình miễn là được sự đồng ý của người đó. Ngoài ra, những quy định về bảo hộ các quyền dân sự cũng chưa có sự thỏa đáng, nhất là thời hiệu yêu cầu Tòa tuyên bố giao dịch dân sư vô hiệu (Điều 136), thời hiệu yêu cầu Tòa giải quyết tranh chấp (Điều 427), thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 607)

Theo pháp luật hiện hành, có 3 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu: vô hiệu do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối và đe dọa; không tuân thủ các quy định về hình thức. Tại điều 131 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, các trường hợp bị tuyên là vô hiệu khi có sự nhầm lẫn về nội dung và có lỗi của một bên giao kết hợp đồng, còn đối với các trường hợp như : nhầm lẫn về chủ thể giao kết hợp đồng, cả hai bên trong quá trình giao dịch bị nhầm lẫn thì chưa được quy định trong luật. Từ thực tế, nhất là công tác xét xử cho thấy, đáng lẽ Tòa phải tuyên là vô hiệu trong các trường hợp trên để đảm bảo quyền lợi của các bên, nhưng không thể tuyên vì pháp luật không quy định.

Phó chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Từ Văn Nhữ nêu lên một thực tế trong quá trình xét xử là theo quy định công nhân quốc phòng không được chuyển nhượng nhà được phân nhưng trên thực tế việc chuyển nhượng vẫn phổ biến. Vậy, vấn đề đặt ra là hợp đồng chuyển nhượng đó có bị tuyên là vô hiệu không, và khi bị tuyên là vô hiệu thì quyền của người nhận chuyển nhượng được giải quyết như thế nào?

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT

NGUYỄN TRẦN BẠT -  Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group

Văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật. Văn hóa chính là cuộc sống, do đó, việc xây dựng pháp luật, theo lẽ tự nhiên, phải dựa trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở rất nhiều nơi trên thế giới, hệ thống pháp luật tỏ ra không tương thích với cuộc sống. Phải chăng yếu tố văn hóa, ở những nơi đó, đã bị tách rời khỏi pháp luật hay bản thân pháp luật được xây dựng trên một nền văn hóa méo mó, phi tự nhiên?

Phải khẳng định ngay rằng, một nền văn hóa phi tự nhiên chắc chắn sẽ dẫn đến một một hệ thống pháp luật phi tự nhiên. Vậy văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến pháp luật? Trước khi đi vào lý giải vấn đề, chúng tôi xin bắt đầu từ một nền văn hóa được hình thành và phát triển tự nhiên như chính cuộc sống của con người. Nền văn hóa đó, trước hết, là sản phẩm của tự do.

I. Văn hóa – Sản phẩm của tự do

Văn hóa, nhìn chung, hình thành từ sự tích lũy kinh nghiệm sống của một cộng đồng, một dân tộc, do đó, văn hóa chính là cuộc sống, nó có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Quá trình hình thành văn hóa là một quá trình tự nhiên và khách quan. Từ xưa đến nay, con người luôn sống và hành động theo những lẽ phải của tâm hồn mình, tức là nhận thức về "cái tất yếu", kết quả là tạo ra thành tựu. Những thành tựu đó, cùng với thời gian, đã kết tinh lại và trở thành văn hóa. Một nền văn hóa hình thành tự nhiên như vậy là một nền văn hóa lành mạnh. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cần phải thấy là, chất xúc tác cho quá trình hình thành của văn hóa không gì khác chính là tự do, vì nếu không có tự do thì đời sống tinh thần của con người không phát triển. Đời sống tinh thần của con người không phát triển thì không có đời sống văn hóa lành mạnh. Vậy tiêu chuẩn để phân biệt giữa một nền văn hóa lành mạnh và một nền văn hóa không lành mạnh là gì? Đó chính là tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống.

Continue reading

QUYỀN THÀNH LẬP, THAM GIA CÔNG ĐOÀN TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM

THS. CAO NHẤT LINH – Khoa luật, Đại học Cần Thơ

Sau gần 20 năm được ban hành và áp dụng, nhiều quy định của Luật Công đoàn năm 1990 đã trở nên hạn chế, bất cập so với điều kiện kinh tế, xã hội và các quan hệ lao động đa dạng trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Ngoài những hạn chế về sự vắng mặt của các chế tài, các quyền của công đoàn cơ sở quá nhiều dẫn đến việc thực hiện một số quyền chỉ mang tính hình thức…, Luật Công đoàn còn thể hiện một số hạn chế so với các quy định ở cấp độ quốc tế trong việc trao quyền thành lập, tự nguyện gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Quyền tự do công đoàn là quyền cơ bản của người lao động. Quyền này là một trong những yếu tố thể hiện nền dân chủ và sự phát triển của một quốc gia. Nói cách khác, nền dân chủ và sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia sẽ không tồn tại nếu một bộ phận dân cư bị tước đi quyền được tự thành lập các tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Do đó, tôn trọng nguyên tắc tự do công đoàn là việc làm hàng đầu để các mối quan hệ trong hoạt động nghề nghiệp được vận hành tốt và để cho nền dân chủ của một quốc gia được phát huy tích cực.

Trong luật lao động quốc tế, tôn trọng quyền tự do công đoàn được xem như là một nguyên tắc cơ bản trong lao động. Quyền này bao gồm quyền của mọi người lao động được tự do thành lập, tham gia hoặc không tham gia vào các công đoàn khác nhau. Do đó, theo các công ước quốc tế của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế, tất cả người lao động đều có quyền tự do thành lập, tham gia vào các công đoàn, nếu việc thành lập, tham gia đó không trái với trật tự công cộng hoặc xâm phạm an ninh, lợi ích của quốc gia sở tại.

Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân nên việc phê chuẩn những công ước quốc tế liên quan đến công đoàn, đặc biệt là các công ước của Tổ chức lao động quốc tế, chưa thể thực hiện được. Do đó, người lao động tại Việt Nam, bao gồm cả lao động Việt Nam và lao động là người nước ngoài, chưa có cơ hội thực hiện quyền tham gia thành lập và gia nhập vào các công đoàn một cách đầy đủ như những quyền được ghi nhận trong các công ước quốc tế của hai tổ chức quốc tế nói trên.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 34/2010/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 2010 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN XOÁ NỢ THUẾ VÀ CÁC KHOẢN PHẢI NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN SẮP XẾP CHUYỂN ĐỔI TRƯỚC NGÀY 01/7/2007

Căn cứ quy định của Luật Quản lý thuế, Luật Thuế, Pháp lệnh thuế.
Căn cứ Nghị định 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 của Chính phủ về quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần, Nghị định 109/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần và các Thông tư hướng dẫn thi hành các Nghị định (nêu trên) của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ ý kiến của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 7088/VPCP-KTTH ngày 12/10/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc xử lý nợ thuế đối với doanh nghiệp nhà nước sắp xếp, chuyển đổi trước ngày 01 tháng 7 năm 2007.

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xoá nợ thuế và các khoản phải nộp NSNN của các DNNN thực hiện sắp xếp, chuyển đổi trước 01/7/2007 như sau:

I. QUY ĐỊNH CHUNG.

Điều 1. Đối tượng xử lý.

Đối tượng được xử lý xoá nợ thuế và các khoản phải nộp NSNN (sau đây gọi chung là xoá nợ thuế) bao gồm: các Tổng công ty, Công ty, Nhà máy, Xí nghiệp…(sau đây gọi chung là DNNN) được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước tổ chức hạch toán độc lập, thực hiện sắp xếp, chuyển đổi trước 01/7/2007 theo quyết định của cấp có thẩm quyền thuộc các trường hợp được xoá nợ thuế theo quy định tại Quyết định số 172/2001/QĐ-TTg ngày 05/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Bao gồm các trường hợp cụ thể sau:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 33/2010/TT-BTC NGÀY 11 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH BAN HÀNH ĐIỀU LỆ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY MUA, BÁN NỢ VÀ TÀI SẢN TỒN ĐỌNG CỦA DOANH NGHIỆP

– Căn cứ Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003;
– Căn cứ Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 của Chính phủ về quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước;
– Căn cứ Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 và Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21/8/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 của Chính phủ về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước;
– Căn cứ Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
– Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
– Căn cứ Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác;
– Căn cứ Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày 05/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp;
– Căn cứ Quyết định số 55/2004/QĐ-TTg ngày 06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng tại công văn số 346/VPCP-ĐMDN ngày 15/1/2010 của Văn phòng Chính phủ về cơ chế hoạt động đối với Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, Bộ Tài chính ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp như sau:

I – QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp được thành lập theo Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp.

Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp được tổ chức và hoạt động theo quy định tại Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, các văn bản pháp luật có liên quan và Điều lệ tổ chức và hoạt động được quy định tại Thông tư này.

Continue reading

CHÍNH PHỦ VÀ TẬP ĐOÀN

MẠNH QUÂN

image “Các tập đoàn, tổng công ty mạnh khoẻ thì Chính phủ cũng khoẻ”. Tại hội nghị Thủ tướng Chính phủ làm việc với lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (TCTNN) ngày 10.3, trước vẻ lúng túng của một vị tổng giám đốc khi tìm lời chúc đầu năm, phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã đỡ lời như vậy. Câu hỏi được đặt ra: sức khoẻ các tập đoàn, tổng công ty năm qua như thế nào?

Quý 1/2009, khi khủng hoảng kinh tế thế giới tác động mạnh đến Việt Nam, nhiều ngành sản xuất, dịch vụ suy giảm mạnh thì đã sớm có những dự báo cho rằng, không chỉ các doanh nghiệp tư nhân khốn đốn mà khối doanh nghiệp nhà nước, kể cả nhiều tập đoàn, tổng công ty cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, theo kết quả tổng hợp chung của ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp (thuộc Chính phủ) về tình hình sản xuất, kinh doanh của 19 tập đoàn, tổng công ty 91 và 61 tổng công ty 90 trong năm qua thì tình hình không đến nỗi tệ. Theo ông Phạm Viết Muôn, phó trưởng ban chỉ đạo, dù năm 2009 rất khó khăn nhưng nhiều tập đoàn, tổng công ty vẫn tăng trưởng. Tổng doanh thu 19 tập đoàn, tổng công ty 91 đạt 737.282 tỉ đồng, vượt 34,7% kế hoạch năm, tăng 2,7% so với năm 2008. Một số doanh nghiệp lớn có doanh thu tăng mạnh: tập đoàn Dầu khí vượt 28,2% kế hoạch doanh thu cả năm; tập đoàn Viễn thông quân đội tăng 80,9% so với năm 2008 và vượt kế hoạch năm 33,8%…

Tổng lợi nhuận trước thuế của tất cả tập đoàn, tổng công ty đạt 80.799 tỉ đồng, vượt 52,8% so với kế hoạch năm, tăng 5% so với năm 2008 trong đó 19 tập đoàn, tổng công ty đạt 49.589 tỉ đồng, vượt 46,1% kế hoạch năm. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đạt 15,45% trong đó 19 tập đoàn, tổng công ty 91 đạt 18,19%. Tổng số tiền nộp ngân sách nhà nước của cả khối tập đoàn, tổng công ty năm qua đạt 175.406 tỉ đồng, vượt 40,5% kế hoạch năm và bằng 92,7% năm 2008. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu 3,1 lần, trong đó của 19 tập đoàn, tổng công ty 91 là 1,67 lần.

“Nếu lỗ còn kéo dài thì phải kiên quyết sắp xếp lại bằng cách cổ phần hoá, bán, khoán hay cho thuê doanh nghiệp”.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

Continue reading

“TỪ HẢI” KHÔNG CHẾT ĐỨNG!

NGUYỄN HỮU LONG

Bài viết “Có một ‘Từ Hải’ thời nay” của tác giả Vũ Xuân Tiền đăng trên TBKTSG số 11-2010 kể chuyện Công ty cổ phần KHB không thể thay đổi người đại diện pháp luật công ty do không thể triệu tập được đại hội đồng cổ đông có số cổ đông tham dự đại diện cho ít nhất 75% số cổ phần có quyền biểu quyết.

Trong bốn lần triệu tập họp, thành phần tham dự vẫn chỉ có hai người (ông K. và ông H.), chiếm 60% số vốn điều lệ của công ty; còn hai người còn lại (ông B. và ông Đ.), chiếm 40% vốn điều lệ công ty, thì liên tục vắng mặt.

Bài viết cũng cho rằng “Luật Doanh nghiệp quy định, để thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty phải có số phiếu nhất trí đại diện cho ít nhất 75% số vốn có quyền biểu quyết”. Từ đó, bài viết kết luận, việc thay đổi người đại diện pháp luật của Công ty KHB đi vào bế tắc và ông K. – Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty trở thành “Từ Hải thời @” – bị “chết đứng” vì không có cách nào tháo gỡ.

Thực ra, trong trường hợp này, Luật Doanh nghiệp không hề để cho “Từ Hải” phải chết đứng. Điều 102, Luật Doanh nghiệp quy định rất rõ:

1. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

2. Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 1 điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

3. Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 2 điều này thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai. Trong trường hợp này, cuộc họp của đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông dự họp”.

Continue reading

SUY NGHĨ BƯỚC ĐẦU về đặc trưng và vai trò của đạo đức tôn giáo

image PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC LỮ – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Cơ chế kinh tế mới đã thực sự kích thích tính năng động, sáng tạo và khơi dậy tiềm năng của con người. Những thành tựu về nhiều mặt, nhất là sự phát triển kinh tế trong những năm qua là một minh chứng đầy sức thuyết phục về tính hiệu quả của cơ chế mới.

Tuy nhiên, trong xã hội đã nảy sinh, đang tồn tại và có xu hướng phát triển những hiện tượng suy thoái  về đạo đức và nhân cách con người. Hiện tượng suy thoái đạo đức không chỉ diễn ra trên bình diện xã hội mà cả trong tổ chức đảng và cơ quan công quyền. Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…”(1) . Đó là nguy cơ lớn đối với sự sống còn của Đảng và chế độ ta.

Làm sao để ngăn chặn một cách hiệu quả sự suy thoái đạo đức đang có xu hướng gia tăng hiện nay? Điều này cần có sự nỗ lực của nhiều người, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; trong đó không thể bỏ qua vai trò của đạo đức tôn giáo. Đảng ta cũng thừa nhận rằng, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp trong công cuộc xây dựng xã hội mới.

Đạo đức tôn giáo luôn gắn với đạo đức xã hội và chịu ảnh hưởng của đạo đức xã hội. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo lại có tính đặc thù. Điều này biểu hiện ở chỗ:

Một là, tôn giáo phản ánh khát vọng về hạnh phúc của con người.

Trong lịch sử nhân loại đã từng tồn tại những quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Người vô thần quan niệm hạnh phúc khác người hữu thần; người lao động quan niệm hạnh phúc khác giai cấp bóc lột; kẻ đi xâm lược quan niệm hạnh phúc khác với người nô lệ; người già quan niệm hạnh phúc khác với người trẻ… Mỗi cá thể, mỗi cộng đồng người ở từng quốc gia, dân tộc cũng có quan niệm khác nhau về hạnh phúc.

Continue reading

SUY NGHĨ BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO

image PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC LỮ – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Cơ chế kinh tế mới đã thực sự kích thích tính năng động, sáng tạo và khơi dậy tiềm năng của con người. Những thành tựu về nhiều mặt, nhất là sự phát triển kinh tế trong những năm qua là một minh chứng đầy sức thuyết phục về tính hiệu quả của cơ chế mới.

Tuy nhiên, trong xã hội đã nảy sinh, đang tồn tại và có xu hướng phát triển những hiện tượng suy thoái  về đạo đức và nhân cách con người. Hiện tượng suy thoái đạo đức không chỉ diễn ra trên bình diện xã hội mà cả trong tổ chức đảng và cơ quan công quyền. Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: "Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…"(1) . Đó là nguy cơ lớn đối với sự sống còn của Đảng và chế độ ta.

Làm sao để ngăn chặn một cách hiệu quả sự suy thoái đạo đức đang có xu hướng gia tăng hiện nay? Điều này cần có sự nỗ lực của nhiều người, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; trong đó không thể bỏ qua vai trò của đạo đức tôn giáo. Đảng ta cũng thừa nhận rằng, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp trong công cuộc xây dựng xã hội mới.

Đạo đức tôn giáo luôn gắn với đạo đức xã hội và chịu ảnh hưởng của đạo đức xã hội. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo lại có tính đặc thù. Điều này biểu hiện ở chỗ:

Một là, tôn giáo phản ánh khát vọng về hạnh phúc của con người.

Trong lịch sử nhân loại đã từng tồn tại những quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Người vô thần quan niệm hạnh phúc khác người hữu thần; người lao động quan niệm hạnh phúc khác giai cấp bóc lột; kẻ đi xâm lược quan niệm hạnh phúc khác với người nô lệ; người già quan niệm hạnh phúc khác với người trẻ… Mỗi cá thể, mỗi cộng đồng người ở từng quốc gia, dân tộc cũng có quan niệm khác nhau về hạnh phúc.

Continue reading

NHỮNG RỦI RO PHÁP LÝ đối với doanh nghiệp trong giai đoạn hậu “hậu WTO”

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Những rủi ro pháp lý “hữu hình”

Về bản chất, WTO là một tập hợp các quy tắc thương mại chung, làm khuôn mẫu điều chỉnh và định hướng hoạt động thương mại quốc tế, tạo ra một sân chơi chung, bằng một luật chơi chung cho doanh nghiệp các nước trong hội nhập. Điều này cũng đồng nghĩa với việc WTO mang lại những đảm bảo an toàn về pháp lý cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình này.

Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

Tại sao là rủi ro?

Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

Continue reading

NHỮNG RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN “HẬU WTO”

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Những rủi ro pháp lý “hữu hình”

Về bản chất, WTO là một tập hợp các quy tắc thương mại chung, làm khuôn mẫu điều chỉnh và định hướng hoạt động thương mại quốc tế, tạo ra một sân chơi chung, bằng một luật chơi chung cho doanh nghiệp các nước trong hội nhập. Điều này cũng đồng nghĩa với việc WTO mang lại những đảm bảo an toàn về pháp lý cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình này.

Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

Tại sao là rủi ro?

Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005: HAI PHẢN ỨNG KHÁC NHAU CỦA NHÀ LÀM LUẬT

PGS. TS. PHẠM DUY NGHĨA

“Trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỷ luật báo cáo và bị giám sát thường xuyên (ex post control), thì Luật Đầu tư 2005 duy trì tư duy truyền thống, kiểm tra ngay từ khi tổ chức thực hiện dự án (ex ante control), duy trì kiểm soát khi đăng ký đầu tư”.

Bảo vệ quyền lợi của bên Việt Nam, suy cho cùng cũng là bài toán bảo vệ cổ đông, bảo vệ đối xử bình đẳng giữa các cổ đông trong một công ty – một chủ đích mà cả hai đạo luật về doanh nghiệp và đầu tư cùng quan tâm. Tuy nhiên, có thể nhận thấy hai đạo luật này tiếp cận bài toán bằng các công cụ khác nhau. Trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỷ luật báo cáo và bị giám sát thường xuyên (ex post control), thì Luật Đầu tư 2005 duy trì tư duy truyền thống, kiểm tra ngay từ khi tổ chức thực hiện dự án (ex ante control), duy trì kiểm soát khi đăng ký đầu tư, dự án đầu tư nước ngoài nhỏ hơn 300 tỷ đồng phải đăng ký, lớn hơn 300 tỷ đồng phải thẩm tra để cấp phép đầu tư.

Người soạn luật đã làm rõ mục đích của việc đăng ký tại điều 62 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư, theo đó cơ quan đăng ký chỉ ghi nhận các hồ sơ được nộp, mà không thẩm định, cũng không có quyền đòi thêm hồ sơ. Ngược lại, với các dự án lớn hơn 300 tỷ đồng, các tiêu chí thẩm tra cũng đã được liệt kê tại các điều 63. Hai quy chế này, theo thiển nghĩ của tôi, đã được thiết kế rõ ràng, thành công, dễ tiên liệu (tuy nhiên, mọi hoạt động tìm kiếm chấp thuận về góp đất và tài sản của DNNN của quan chức các cấp vẫn phải diễn ra trước khi đăng ký dự án như đã mô tả ở trên).

Continue reading

VĂN HÓA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VĂN HOÁ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

PGS. TS. NGUYỄN VĂN PHÚC – Trưởng phòng Đạo đức và Mỹ học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Phân tích sự thể hiện văn hoá trong các xã hội phương Đông phong kiến và các xã hội phương Tây hiện đại, tác giả cho rằng, sự gia tăng hàm lượng văn hoá là xu thế chung của sự phát triển của quản lý nhà nước. Chính sự gia tăng hàm lượng văn hoá là nhân tố tạo nên hiệu quả của quản lý nhà nước. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, những bất cập trong quản lý nhà nước thể hiện ở cả bình diện phương thức quản lý lẫn bình diện nhân cách con người quản lý. Vì vậy, đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm hoàn thiện phương thức quản lý, nâng cao đạo đức và tính chuyên nghiệp trong hoạt động của cán bộ công chức chính là nâng cao hàm lượng văn hoá của quản lý nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay.

Với sự phát triển của thực tiễn và lý luận hiện nay, văn hóa không còn bị quy giản chỉ về một số yếu tố cấu thành văn hóa, chẳng hạn, giáo dục, khoa học, nghệ thuật… Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng, là sự thể hiện và thực hiện những sức mạnh bản chất của con người trong toàn bộ các lĩnh vực hoạt động người. Do thể hiện và thực hiện những sức mạnh bản chất của con người mà văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần của xã hội và là mục tiêu, động lực của sự phát triển.

Với quan niệm như vậy về phạm vi thể hiện và vai trò của văn hoá, từ  Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2001 2010 đến Báo cáo Chính trị tại Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán chủ trương “nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”(1).

Với tư cách một lĩnh vực, một loại hình hoạt động của xã hội, quản lý nhà nước chính là một trong những địa bàn thể hiện sức mạnh bản chất của con người, nghĩa là địa bàn thể hiện văn hoá. Đồng thời, văn hoá quản lý nhà nước là động lực, là sự đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước có hiệu quả. Với tinh thần ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý…”(2).

Như chúng ta đều biết, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước vừa phụ thuộc vào phương thức quản lý (hoặc công nghệ quản lý), vừa phụ thuộc vào nhân cách (đức và tài) của các chủ thể quản lý. Vì thế, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cần phải nâng cao văn hoá của cả phương thức quản lý lẫn nhân cách người quản lý.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 24/2010/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Công chức quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức.

2. Cơ quan quản lý công chức, bao gồm:

a) Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội;

b) Tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương;

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 02/2010/TT-BVHTTDL NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG, GIẢI THỂ CƠ SỞ HỖ TRỢ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH; CƠ SỞ TƯ VẤN VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH; TIÊU CHUẨN CỦA NHÂN VIÊN TƯ VẤN; CẤP THẺ NHÂN VIÊN TƯ VẤN, CHỨNG NHẬN NGHIỆP VỤ CHĂM SÓC, TƯ VẤN VÀ TẬP HUẤN PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;
Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư này quy định một số nội dung tại khoản 3 Điều 36 của Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Điều 15, Điều 16 của Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết về:

1. Thủ tục đăng ký hoạt động; giải thể cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình;

2. Tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; việc cấp thẻ nhân viên tư vấn; chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình;

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN: KHÔNG THỂ KIỆN ĐÒI LẠI GIẤY TỜ NHÀ

HOÀNG YẾN

Hiện nay, tòa án không thụ lý việc khởi kiện đòi giấy tờ nhà vì nó không phải là tài sản. Đương sự nhờ cơ quan chức năng cấp phó bản hay nhờ công an giải quyết cũng không được.

TAND quận Gò Vấp (TP.HCM) vừa từ chối thụ lý đơn kiện đòi giấy tờ nhà của bà X. bởi nó không nằm trong danh mục vụ kiện mà tòa thụ lý. Điều này khiến bà X. không biết phải làm sao để đòi lại giấy tờ của mình.

Biết chỗ giữ nhưng không thể đòi

Trước đó, chồng bà lén mang giấy tờ nhà đi vay tiền của ông B. Thời gian sau, ông C. gọi điện thoại đến nói đang giữ giấy tờ trên. Gặp nhau, bà X. mới té ngửa khi biết ông B. đã dùng giấy tờ nhà của bà để vay tiền người này. Hiện giờ người này tìm ông B. không được nên buộc bà phải giao tiền để đổi giấy.

Không đồng ý, bà đi tìm ông B. nhưng chỉ nghe được điệp khúc… không biết gì cả. Vì thực chất người đứng tên cho chồng bà vay không phải ông. Bà quyết định trình báo công an nhưng lại bị từ chối vì cho rằng đây là việc dân sự, hai bên tự giải quyết. Bà chuyển sang báo mất giấy, rồi yêu cầu cơ quan chức năng cấp phó bản nhưng nơi đây biết bà đang có tranh chấp với người cho vay nên nhỏ nhẹ từ chối. Bà chạy qua tòa thì tòa cũng lắc đầu.

Đến lúc này, bà X. chỉ biết than khóc với khoản nợ lớn từ trên trời rơi xuống…

Continue reading

ĐẠO LÝ CÔNG CHỨC

right-way-wrong-way1 NGÔ MINH

Muốn quản lý xã hội nhất thiết phải có luật và quản lý theo luật. Nhưng luật pháp thì mỗi chính thể khác nhau lại có hệ thống luật pháp khác nhau. Cuộc sống phát sinh hàng ngày. Nhiều điều luật năm trước đúng, năm sau không còn phù hợp nữa, v.v… Cho nên, ngoài luật, ông cha ta còn phải dựa vào đạo lý để phân xử phải trái. Trên thực tế, đã xuất hiện rất nhiều hiện tượng các công chức Nhà nước gọi là làm theo pháp luật, nhưng thực chất là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để ức hiếp dân, trấn lột dân… rất thiếu đạo lý, gây nên sự phẫn nộ, bất bình trong nhân dân. Cho nên, ngoài xây dựng một nền pháp trị, chúng ta phải xây dựng một nền tảng “đạo lý công chức” thật căn bản.

Vậy đạo lý là gì?  Đạo lý là cách thức phải theo trong sự xử thế đối với người, lấy lẽ phải và điều hay làm mục đích. Nói tóm tắt, đạo lý là lẽ phải, đạo đức. Đạo lý yêu cầu là thật – giả, trắng – đen, phải – trái phải rõ ràng, phân minh. Có nghĩa đạo lý là cái trường tồn hơn luật, rộng hơn luật, do cộng đồng dân tộc hàng ngàn năm đúc kết và truyền từ đời này sang đời khác, không phụ thuộc một thể chế chính trị nào. Những người già ở làng bản không được học luật, thuộc luật, nhưng trước một vụ việc trong làng, họ phán xử rất đúng. Vì họ cứ theo đạo lý cha ông  mà phán xét… Đạo lý vừa là luật, vừa là lẽ phải, điều hay, đạo đức. Vậy “Đạo lý công chức” là gì? Trước khi bàn đến nội dung này, xin kể vài việc làm trái với đạo lý của bộ máy công quyền đối với công dân trong nhiều năm qua.

Có lần tôi vào bưu điện, thấy cụ già ở quầy lĩnh tiền đang vò đầu bứt tai vì không nhớ ra ai đã gửi tiền cho mình, nên cô nhân viên bưu điện quyết không cho cụ nhận. Câu hỏi: “Ai gửi tiền cho bác”, cô nhận viên đều hỏi tất cả những người vào lĩnh tiền theo phiếu mời. Cô cho biết đó là quy định của trên, cô phải tuân thủ. Đúng rồi. Dưới phải nghe lệnh trên. Nhưng quy định của trên đó rất thiếu đạo lý, vì nó vi phạm quyền của người dân. Ai cũng phản đối mà ngành bưu điện không chịu sửa. Phiếu mời đúng tên, địa chỉ, có chứng minh nhân dân, thì tôi lĩnh. Không việc gì anh phải văn vẹo “ai gửi”. Vì cá nhân có quyền bảo mật riêng của mình. Hơn nữa, có người gửi tiền, lĩnh tiền mới có nghề bưu điện cho các anh kiếm sống. Còn Nhà nước sợ những kẻ lợi dụng việc gửi tiền để “rửa tiền”, hay tài trợ cho những kẻ xấu, thì phải bí mật điều tra riêng.  y mới là sự hành xử có đạo lý ở đời.

Continue reading

KHÔNG THỂ LẬP MỘT CÔNG TY CỔ PHẦN NẰM NGOÀI LUẬT DOANH NGHIỆP

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Sự kiện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị thành lập một Công ty cổ phần Mua – bán điện (EPTC) đã làm sôi động dư luận trong những ngày qua. Các nhà nghiên cứu, giới luật sư, luật gia và cả Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã lên tiếng. Vậy EPTC là gì? Nó được sinh ra nhằm những mục đích gì? Phía sau nó là những bài toán gì?

Thực trạng thị trường điện

Để trả lời những câu hỏi trên, chúng ta cần có đôi điều nhận định về thực trạng của thị trường điện Việt Nam hiện nay. Không cần tranh cãi nhiều cũng hoàn toàn có thể kết luận rằng, thị trường điện Việt Nam hiện nay là thị trường độc quyền. Cao hơn nữa, đó là thị trường độc quyền tuyệt đối. Bởi lẽ, thiếu điện phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng đã, đang và sẽ còn là thách thức lớn đối với nhà nước ta. Toàn bộ hệ thống từ sản xuất, truyền tải, phân phối đến bán điện đang nằm trong tay EVN – một doanh nghiệp Nhà nước. Như vậy, về phía cung, EVN là độc quyền. Về phía người tiêu dùng, kể cả tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt, cũng không thể mua điện ở một địa chỉ nào khác là EVN. Tất nhiên, để thắp sáng, người dân cũng có thể sử dụng đèn dầu hỏa thay cho điện. Song, đến hôm nay, khi khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão mà lại khuyến khích người dân dùng đèn dầu hỏa thay cho điện thì cũng đồng nghĩa với việc “kéo Việt Nam quay về thời kỳ đồ đá”. Vì vậy, với việc bán điện, EVN cũng độc quyền tuyệt đối. Sự độc quyền tuyệt đối của EVN từ sản xuất đến tiêu thụ điện đã gây ra biết bao đau khổ cho cả người sản xuất (các nhà máy điện độc lập ngoài EVN) và người tiêu dùng – các nhà máy, công trường và hơn 80 triệu dân Việt Nam. Cho nên, xóa bỏ sự độc quyền này là đòi hỏi cấp bách của sự phát triển và bảo đảm sự minh bạch, công bằng trong đời sống xã hội.

Continue reading