LUẬT KHUNG: SỐNG VỚI NÓ RA SAO?

NGUYỄN LÂM

Còn nhớ mấy tháng đầu năm 2005 xung quanh chuyện “sổ đỏ, sổ hồng”, bao nhiêu rắc rối đã nảy sinh từ một quy định trong Luật Đất đai, theo đó, trong khi chờ Luật Đăng ký bất động sản, tài sản trên đất chỉ được “ghi nhận”. Từ một chữ chung chung “ghi nhận” này mà người dân phải mệt mỏi, các Bộ phải “cãi nhau”, thị trường bất động sản đóng băng, thiệt hại khá đáng kể. Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp tương tự của “luật khung”. Bởi vậy, nói về các đạo luật hiện nay, các đại biểu Quốc hội, chuyên gia, báo chí đều than phiền về tình trạng quy định chung chung, nguyên tắc, giống như một bản tuyên ngôn hơn văn bản luật, vướng về mặt kỹ thuật lập pháp cũng như về nội dung.

Vậy phải làm thế nào? Có phải mọi tội lỗi đều do luật khung? Nếu không phải, tức là luật khung vẫn cần thiết (Xem Hộp 2). Lúc đó, một câu hỏi khác được đặt ra: phải soạn thảo, ban hành luật khung như thế nào để khắc phục những bất cập mà nó có thể gây ra, hay nói cách khác, sử dụng luật khung như thế nào? Trước khi bàn về những chuyện kỹ thuật cụ thể để khắc phục luật chung chung như ngôn ngữ soạn thảo luật, cấu trúc, nội dung một dự luật, chúng ta thử lùi xa hơn một chút. Tức là hãy bắt đầu từ những quan niệm có tính chủ thuyết, đó là: lý thuyết lập pháp, quan niệm về pháp luật thế nào cho đúng để sử dụng luật khung cho đúng, ví dụ như luật của ai, các nguồn của pháp luật gồm những gì, giải thích luật như thế nào; quan niệm về lập pháp…

Lý thuyết lập pháp

Trước hết, một lý thuyết lập pháp sáng sủa dẫn đường có thể tránh tình trạng ban hành luật có tính chất chung chung, mông lung. Lý thuyết đó khá là rộng lớn, nhưng liên quan đến luật khung có câu hỏi quan trọng: luật điều chỉnh cái gì? Các vấn đề đang tồn tại trong xã hội là rất nhiều, một đạo luật dù đồ sộ đến đâu cũng không thể giải quyết hết được. Nếu đặt tham vọng giải quyết một lúc nhiều vấn đề thì có thể chúng ta sẽ có trong tay một văn bản pháp luật đẹp đẽ, nhưng rồi cuối cùng không để làm gì, và một trong những hậu quả là cuộc sống chỉ nhận được những tuyên ngôn chung chung về chính sách, mà không có được những giải pháp lập pháp cụ thể được thể hiện trong đạo luật. Chỉ vì ý nghĩ phải ôm cho hết cuộc sống nên nhà làm luật có nguy cơ sa vào hai phương án sau đây:

Continue reading

BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ: NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TỪ THỰC TIỄN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Để huy động triệt để nguồn vốn đang nhàn rỗi trong nhân dân tham gia thị trường, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên góp vốn, các cổ đông chỉ góp vốn với một tỷ lệ nhỏ ( gọi chung là các cổ đông thiểu số). Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định của Luật Doanh nghiệp trong thực tế đã và đang gặp một số vướng mắc lớn cần được nghiên cứu, tháo gỡ.

Quy định của Luật

Về việc thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như sau:
“3. Quyết định của đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định;
b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định”.
Khoản 2 Điều 52, cũng có quy định tương tự đối với việc thông qua các quyết định của hội đồng thành viên của công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên.

Những vướng mắc từ thực tiễn…

Trước hết, quy định nêu trên của Luật Doanh nghiệp là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông thiểu số. Song, do quá nhấn mạnh đến việc bảo vệ các cổ đông thiểu số nên không ít trường hợp gây những khó khăn không đáng có cho việc quản trị công ty. Các cụm từ: “ít nhất 65%”, “ít nhất 75%” và “tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định” là nguyên nhân gây khó khăn cho việc quản trị các công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và các công ty cổ phần. Xin nêu một ví dụ điển hình như sau:

Continue reading

VỀ LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH, HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG, HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN

TS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM – Trưởng văn phòng luật sư Quang Trung

Nhu cầu bồi thường thiệt hại cho các công dân, các tổ chức là nghĩa vụ, trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, thể hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan nhà nước và mọi công dân. Trước đây do sự bức xúc của xã hội công dân trước những hậu quả thiệt hại cho công dân và xã hội xuất phát từ những hành xử, việc làm của một số cán bộ, công chức vô tình hay cố ý gây ra, trong tình hình còn thiếu các văn bản luật pháp qui định, nhà nước Việt Nam đã có sáng kiến đáp ứng giải quyết có tính chất tình thế, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bằng hai văn bản:

 Nghị định số 47/CP ngày 03/05/1997 của chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra cùng một số văn bản hướng dẫn thi hành và nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ Ban thường vụ quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Việc ưu tiên ban hành sớm các văn bản pháp luật trên, do quan tâm trước hết về việc bồi thường các oan sai trên lĩnh vực tố tụng hình sự là hoàn toàn đúng đắn và thể hiện tính cấp bách, vì sự oan sai này sẽ đưa đến những hậu quả hết sức nghiêm trọng vì xâm phạm đến nhân thân, danh dự và cả tính mạng con người. Và trong thời gian qua, kết hợp hai văn bản trên với các qui định của Luật Hình sự, Luật Dân sự và cả Luật khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thẩm quyền nhà nước (trong đó có cả cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân) đã bước đầu giải quyết được khá nhiều vụ bồi thường thiệt hại về oan sai trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cũng như một số thiệt hại trên lĩnh vực dân sự, quản lý hành chính về đất đai, thậm chí tiến xa hơn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với số cán bộ, công chức có hành vi gây thiệt hại lớn, thiệt hại nghiêm trọng cho công dân, cho đơn vị tổ chức và doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Nhưng hiện nay, đã đến lúc cần có yêu cầu luật hoá cao hơn về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trên nhiều lĩnh vực không chỉ có tố tụng hình sự mà cả tố tụng dân sự, quản lý hành chính nhà nước, hoạt động thi hành án.

Continue reading

VÀI Ý KIẾN VỀ TÍNH XÃ HỘI – NHÂN VĂN KHI HIỆN THỰC HÓA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

NGUYỄN TÔN THỊ TƯỜNG VÂN – Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM

Thực tế, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật ra đời nhưng hiệu quả thực tế không như mong muốn, đơn cử Nghị định 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Từ khi có hiệu lực đến nay, việc thực hiện Nghị định này của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn, khả năng triển khai vẫn rất thấp, trong khi doanh nghiệp vẫn tiếp tục tìm đến các văn phòng luật sư hay tư vấn luật tư nhân như trước khi có Nghị định. Như vậy, Nghị định ra đời chỉ mang đến sự hy vọng, hoặc sự sáng sủa hơn cho hoạt động tư vấn luật vốn khá sôi động hiện nay.

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tương tự, làm sáng tỏ hơn bức màn trách nhiệm của các cơ quan chức năng khi làm sai, làm ẩu. Bởi vì, trước khi có Nghị định này, với các văn bản quy phạm pháp luật khác như Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã tạo ra tính pháp lý của việc bồi thường trong tố tụng hình sự. Mảng còn khá xa lạ là bồi thường thiệt hại do công tác hành chính gây ra. Nhưng, ở cả hai mảng, đều cần phải xem lại khả năng hiện thực hóa. Các góp ý ở Toạ đàm JICA ngày 4/3/2010 dựa trên chuẩn mực pháp lý, còn bài viết này của tôi xét trên khía cạnh xã hội – nhân văn. Khía cạnh này, khi ban hành chính sách, ít khi được xem xét tới đã gây ra khá nhiều khúc mắc khi có hiệu lực và khó khăn khi thi hành.

Ở mảng tố tụng hình sự, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước kề thừa và luật hóa từ Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH và đã xảy ra trong thực tiễn nên khá rõ và đầy đủ, ý kiến góp ý cũng nhiều. Nhưng thực tế là, số vụ được bồi thường thể hiện sự không tương ứng với số vụ oan sai; và để được bồi thường, người bị thiệt hại phải trải qua một thời gian khá dài đeo đuổi vụ kiện, có khi đến tàn gia bại sản, đôi khi liên đới nhiều người khác. Vậy, khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đi vào cuộc sống, dự báo nào sau đây được đưa ra: (1) số lượng vụ oan sai sẽ giảm đi, (2) số lượng người được bồi thường và bị bồi thường sẽ tăng lên?

Continue reading

BAN HÀNH VÀ THỰC THI LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC- MỘT BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.

TS. DƯƠNG THANH MAI – Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020 đã xác định hai trọng tâm là xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng các đạo luật quan trọng đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân như Luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật về Hội, Luật Trưng cầu ý dân….Trong bối cảnh Quốc hội và Chính phủ đang triển khai việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 48 và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã bắt đầu có hiệu lực để đi vào cuộc sống, bài viết này xin góp một góc nhìn về vị trí của đạo luật này trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

1. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là một phương thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ khi đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định về kinh tế và dân chủ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là phương thức tổ chức nhà nước dân chủ nhân dân theo những giá trị phổ biến của nhân loại về pháp quyền và những giá trị riêng của Việt Nam phù hợp với các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

Cho đến nay, chưa có văn kiện nào của Đảng và Nhà nước ta xác định chính thức các tiêu chí/giá trị của Nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, qua phân tích quá trình phát triển nhận thức và quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng về vấn đề này, có thể nhận diện những đặc trưng sau đây của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
(i) Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;

(ii) Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội;

Continue reading

QUYỀN DỰ HỌP ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG CỦA CỔ ĐÔNG NHỎ CÔNG TY CỔ PHẦN HIỆN NAY

THS. TRƯƠNG VĨNH XUÂN – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia khu vực IV

Hiện nay, cổ đông có tỷ lệ vốn góp cổ phần nhỏ trong công ty cổ phần (CTCP) chiếm số lượng rất lớn, đặc biệt là từ khi xuất hiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Song song với mức phát triển về số lượng của cổ đông nhỏ là sự vi phạm quyền lợi của họ trong CTCP, trong đó quan trọng là quyền dự họp Đại hội cổ đông. Thông qua thực tiễn đã xảy ra tại các CTCP hiện nay, chúng tôi mong muốn sẽ có những phân tích và đánh giá đem lại tính khách quan khi xem xét vấn đề này.

1. Cổ đông nhỏ là ai?

Cổ đông là những người góp vốn vào công ty. Muốn trở thành cổ đông CTCP, cá nhân hoặc tổ chức hoặc góp vốn thành lập công ty hoặc mua cổ phần từ cổ đông khác. Cổ đông có nhiều loại, tùy từng tiêu chí mà chúng ta có các loại cổ đông khác nhau. Dựa vào khối lượng vốn góp, chúng ta có cổ đông nhỏ và cổ đông lớn1. Việc xác định cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn không có ý nghĩa khi góp vốn, mà chỉ có ý nghĩa khi các cổ đông thực hiện quyền, nghĩa vụ.

Luật Doanh nghiệp 2005 (Luật DN) xác định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 10% tổng số cổ phần trở lên sẽ có thêm một số quyền khác so với cổ đông phổ thông2. Đồng thời, Luật DN cũng quy định mức cổ đông sở hữu 5% tổng số vốn điều lệ có thể tham gia Hội đồng quản trị3 và mức này cũng là cơ sở để cổ đông phải đăng ký/báo cáo với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền kể từ ngày có được tỷ lệ sở hữu đó4.

Luật Chứng khoán 2007 quy định: Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành5. Theo quy định của luật này, cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần của công ty.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2010/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VIỆC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC CỦA CƠ QUAN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này bao gồm:

1. Tài sản nhà nước của Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là Cơ quan đại diện).

2. Tài sản nhà nước của các Cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài không thuộc cơ cấu tổ chức của Cơ quan đại diện (sau đây gọi chung là Cơ quan khác).

3. Tài sản là đất đai, trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện trao đổi theo hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước sở tại; bất động sản thuê theo hiệp định hoặc do Cơ quan đại diện, Cơ quan khác ký hợp đồng thuê là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nhà nước Việt Nam trong thời gian hiệp định hoặc hợp đồng có hiệu lực.

4. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của các doanh nghiệp của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

Continue reading

LUẬT GIỮA VÒNG VÂY LỢI ÍCH

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cũng vì việc vận động diễn ra công khai mà xã hội, tức là công luận, người dân có điều kiện theo dõi và giám sát việc cân nhắc, lựa chọn của người nắm quyền lực công giữa các phương án xây dựng, áp dụng pháp luật khác biệt.

image Dùng thế lực để chi phối việc làm luật cũng như việc thi hành luật là hiện tượng xã hội ở đâu thời nào cũng có: đơn giản, ai cũng muốn luật pháp phục vụ hơn là gây khó khăn cho mình.

Tuy nhiên, trong điều kiện các lợi ích được theo đuổi rất khác biệt, thậm chí đối lập nhau, sự tác động từ bên ngoài đối với người làm luật, người thi hành luật có thể mang dáng dấp của một cuộc tranh giành loại trừ: người được, thì kẻ mất; ở đây có người được đãi ngộ, nuông chiều, thì hẳn đồng thời ở đằng kia có người khác bị ruồng bỏ, bạc đãi. Chẳng hạn, bằng việc cho phép doanh nghiệp xăng dầu tăng giá bán, nhà chức trách đặt người tiêu dùng trong tình trạng buộc phải chi thêm (nghĩa là mất) một số tiền để mua cũng chừng đó nhiên liệu; phê duyệt một dự án quy hoạch xây dựng sân golf trên một vùng đất ruộng cũng đồng nghĩa với việc từ chối duy trì quyền canh tác, quyền định cư của những người nông dân đang sống trên đất đó.

Nếu cứ để mặc cho cuộc chơi dưới sự thống trị của quy luật hoang sơ “mạnh được, yếu thua”, thì sớm muộn gì các vùng đất “làm luật” và “thi hành luật” sẽ bị phe mạnh nhất đánh chiếm; hệ thống pháp lý tất yếu sẽ đi đến chỗ bị phân đôi, tương ứng với sự phân đôi của xã hội thành bên thắng, bên thua: quyền lợi và sự bảo đảm sẽ được ưu tiên dành cho một bộ phận thành viên có sức mạnh khống chế, còn gọi là tầng lớp trên; còn nghĩa vụ, rủi ro chủ yếu trút lên vai những thành viên yếu hơn, ở tầng lớp dưới. Người giàu có thể vào nhà người nghèo chẳng cần xin phép; còn người nghèo mà tự tiện đi vào đất của người giàu thì coi chừng bị chó dữ cắn chết, như trường hợp chết bi thảm của người phụ nữ mót cà phê mà báo chí và dư luận đề cập thời gian gần đây.

Continue reading

SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ MỘT VÀI LƯU Ý TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

 ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo. Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên. Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Là những câu hỏi sẽ được giải đáp bởi cơ chế "sự kiện bất khả kháng" trong luật hợp đồng.

1. Sự kiện bất khả kháng

Ngày 10/10/2008, Công ty A (Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu dưa chuột cho công ty B (Singapore), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B. Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xẩy ra ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam ảnh hưởng đến vụ mùa dưa chuột, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng. Vấn đề đặt ra là sự kiện lũ lụt ở khu vực Bắc Bộ có phải là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này hay không?

Ngày 15/12/2009, Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lô hải sản sang EU cho công ty B có trụ sở tại EU. Theo quy định của Hợp đồng thì hàng phải được giao tại cảng của EU trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 25/12/2009, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Tuy nhiên hàng đến chậm so với dự kiện 20 ngày, Công ty A nại lý do hàng đến chậm vì việc cơ quan hành chính Việt Nam còn lúng túng trong việc triển khai cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU nên thủ tục hành chính chậm chạp dẫn đến việc hàng đến chậm so với dự kiến và đề nghị được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Vậy việc cơ quan hành chính Việt Nam túng túng, chậm trễ trong việc triển khai thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Continue reading

QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP: CÓ MỘT “TỪ HẢI” THỜI NAY…

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Đã hai năm nay, nhiều người thân gọi đùa ông K., Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần KHB (vì lý do tế nhị, tên công ty và các nhân vật đã được thay đổi) là ông Từ Hải thời @, tức là ông K. đang bị “chết đứng”. Nhưng không phải ông K. chết đứng vì ái tình mà vì sự việc hy hữu của công ty cổ phần nơi ông là chủ tịch hội đồng quản trị. Kể câu chuyện của ông K. thiết nghĩ cũng bổ ích và lý thú đối với việc kinh doanh và luật pháp ở Việt Nam.

Tóm tắt sự việc

Đầu năm 2008, bốn người tâm đắc gồm các ông K., H., B., Đ. hợp tác, góp vốn thành lập Công ty cổ phần KHB, kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, tư vấn chuyển giao công nghệ, tổ chức sự kiện, đào tạo, quảng cáo… vốn là thế mạnh về chuyên môn của cả bốn người, đặc biệt là của ông K. và ông H. – những người đã có học vị tiến sĩ chuyên ngành. Số vốn điều lệ của công ty là 1 tỉ đồng, trong đó ông K. góp 300 triệu, ông H. 300 triệu, ông B. 200 triệu và ông Đ. 200 triệu đồng. Đáng lưu ý là ông B. và ông Đ. là hai anh em ruột. Ông B. được bầu làm Tổng giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty, còn ông K. là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Tháng 3-2008, việc góp vốn hoàn tất. Công ty đã thuê văn phòng và khai trương hoạt động. Ngay khi góp vốn, một sự kiện không bình thường đã xảy ra: ông Đ. đề nghị ông K. cho vay 200 triệu đồng để góp vốn và sẽ trả trong thời hạn 10 ngày. Ông K. đã đồng ý cho vay, ông Đ. đã có tên trong danh sách các cổ đông sáng lập và phiếu thu tiền góp vốn là 200 triệu đồng.

Nhưng sau đó, dù đã đôn đốc rất nhiều lần, ông Đ. vẫn không thanh toán trả cho ông K.Từ tháng 5 đến tháng 8-2008, ông B. – Tổng giám đốc công ty – đã lập nhiều giấy biên nhận “tạm ứng” tiền của công ty với tổng số tiền 400 triệu đồng. Sau khi đã “ứng” đủ 400 triệu đồng, ông B. bỗng dưng biến mất, không hề đến công ty nữa.

Continue reading

HÃY BỎ TRẦN LÃI SUẤT

TS. NGUYỄN QUANG A

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa có quyết định cho phép các ngân hàng thương mại có thể cho vay trung dài hạn theo lãi suất thoả thuận. Đây là một bước đi đúng hướng, tuy có muộn.

Trong thời gian qua có quá nhiều biện pháp hành chính đã được dùng trong nền kinh tế, gây lo ngại về xu hướng quay lại cách quản lý thời xưa đã bị cuộc sống phủ định. Ngân hàng Nhà nước có các công cụ “thị trường” của mình để điều tiết và nên huỷ bỏ các biện pháp hành chính, nhất là các loại trần lãi suất.

Dùng các trần lãi suất luôn làm méo mó thị trường, và các ngân hàng thương mại muốn hoạt động bình thường đều phải “lách”. Họ lách trần lãi suất cho vay bằng cách thu các loại phí.

Trần huy động tiền gửi thực ra không có, nhưng nếu bất cứ ngân hàng thương mại nào huy động trên 10,5%/năm là bị nhắc nhở, thanh tra toàn diện luôn. Các ngân hàng lại phải “lách” bằng cách thưởng, khuyến mãi đủ loại. Chi phí thực về huy động của các ngân hàng có khi lên đến 12%/năm hay hơn (gửi nhiều có thể được hưởng “lãi suất thật” lên đến 12 thậm chí 13%/năm). Họ không thể cho vay 13%/năm vì sẽ lỗ nặng.

Và như thế, khi cho vay, do bị trần lãi suất ràng buộc nên lãi suất ghi trên hợp đồng danh nghĩa luôn là mức trần (12%/năm), nhưng cái giá thật (lãi suất thực mà người vay phải trả) đã ở mức 15-17%/năm từ nhiều tháng nay rồi. Đó là thực tế cuộc sống, không thể trách các ngân hàng “lách” luật. Quy định chưa sát, không ăn nhập với cuộc sống, buộc họ phải làm vậy và làm thế không vi phạm luật hiện hành.

Continue reading

THỦ TỤC TỐ TỤNG PHẢI CHẶT CHẼ

PHẠM THÁI QUÍ

Báo ĐBND ra ngày 5.3.2010 có đăng bài “Thủ tục tố tụng còn phiền hà” của tác giả Phạm Dân. Sau khi đọc bài viết thấy rằng, công tác cải cách tư pháp mà đặc biệt là việc xây dựng pháp luật liên quan đến công tác tư pháp là vấn đề quan trọng được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, để có sự nhìn nhận đúng đắn, tôi thấy cần tham gia trao đổi về vấn đề mà tác giả đã nêu trong bài viết.

Nếu những ai quan tâm đến đời sống chính trị – xã hội dễ nhận thấy rằng, thời đại ngày nay đã có sự chuyển biến mạnh mẽ của tất cả các hình thức nhà nước, đó là đã giảm dần chức năng cai trị mà thay vào đó là chức năng phục vụ nhân dân. Theo đó, các quyền con người của mọi cá nhân phải được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Những bảo đảm đó chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn trong một nhà nước pháp quyền (nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải lấy tinh thần thượng tôn pháp luật làm đầu…). Thể hiện của sự tiến bộ trong quan hệ giữa Nhà nước và người dân, đó là đối với người dân thì được phép làm những gì mà pháp luật không cấm, nhưng đối với cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước thì chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi hoạt động công vụ của cơ quan, của cán bộ, công chức nhà nước liên quan đến quyền lợi của người dân ngày càng được pháp luật quy định cụ thể và kiểm soát chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong các lĩnh vực tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.

Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và triển khai thực hiện việc xây dựng nhà nước pháp quyền, tiến hành công cuộc cải cách tư pháp mà trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động của các cơ quan tư pháp được đặc biệt chú trọng. Thực hiện theo đúng tinh thần nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, hệ thống pháp luật của nước ta trong những năm qua đã được xây dựng, hoàn thiện dần theo hai xu hướng trái ngược nhau, đó là: Đối với hành lang pháp lý để người dân thực hiện các quyền công dân (sử dụng pháp luật) như: đăng ký kinh doanh, thương mại, hành nghề, thực hiện các quyền về cư trú, hộ tịch… thì quy định ngày càng thông thoáng. Còn đối với hành lang pháp lý để các cơ quan nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người dân (áp dụng pháp luật) như: xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là hệ thống pháp luật tố tụng (hình sự, dân sự và theo nghĩa rộng gồm cả thủ tục thi hành án hình sự, dân sự)… thì quy định ngày càng chặt chẽ và kín kẽ. Hai xu hướng này phù hợp với nhu cầu của xã hội trong cuộc sống văn minh, hiện đại và nhân văn.

Continue reading

VƯỚNG MẮC TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ

NGUYỄN PHƯƠNG MINH – Vietcombank

Trong thời gian gần đây, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ta đã đẩy mạnh việc cung ứng các sản phẩm ngân hàng bán lẻ trong đó có nghiệp vụ cho vay mua nhà trả góp. Đối tượng khách hàng nhắm đến của nghiệp vụ này thường là các cặp vợ chồng trẻ, hoặc các gia đình có mức thu nhập trung bình chưa đủ khả năng mua nhà.

Tuy nhiên, đối với bất kỳ NHTM nào thì điều kiện tiên quyết khi cung cấp sản phẩm này là người mua nhà phải thế chấp ngôi nhà sẽ mua cho ngân hàng cho đến khi nợ vay được thanh toán đầy đủ. Vấn đề đặt ra ở đây, là vào thời điểm ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng, người mua chưa có quyền sở hữu đối với căn nhà đó.

Câu chuyện sẽ rất đơn giản nếu chúng ta áp dụng điều 320 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

Theo hướng dẫn tại điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”.

Căn cứ theo các quy định này ngân hàng và bên vay (bên mua nhà) có thể tiến hành ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Với việc ký kết hợp đồng này các quyền lợi của ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp đã được bảo đảm.
Tại điều 8 Nghị định 163 quy định: “Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý”.

Continue reading

Một số ý kiến về đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân luật Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Continue reading

XU THẾ TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG M&A TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TS. THÂN THỊ THU THỦY

Theo qui định của Nghị định 14/2007/NĐ-CP thời hạn tăng vốn pháp định của công ty chứng khoán lên 300 tỷ đồng là ngày 31/12/2008, nhưng hiện nay có rất nhiều công ty chứmg khoán phải đứng trước sự lựa chọn tăng vốn hay giảm nghiệp vụ kinh doanh. Một lần nữa, bài toán sáp nhập và mua bán công ty chứng khoán đã trở thành một vấn đề quan tâm của mọi thành viên tham gia thị trường.

1. Hoạt động sáp nhập và mua bán M&A

M&A là một hoạt động không xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới .Xuất hiện ở VN từ những năm 2000, hiện nay hoạt động này đang có xu hướng phát triển mạnh, nhất là trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng. Sáp nhập là việc một hay nhiều công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình cho một công ty khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Bên bị sáp nhập gọi là công ty mục tiêu. Mua lại là việc một công ty mua lại hay thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tài sản của công ty khác. Hợp nhất là hình thức hai hay nhiều công ty sẽ chuyển toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình , quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành nên một công ty mới và kết thúc sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.

Trong thực tế ít xảy ra sáp nhập hay hợp nhất mà thường là mua lại, bởi vì sáp nhập và hợp nhất đòi hỏi sự hợp tác rất cao giữa các bên tham gia, trong đó cả hai bên phải cùng nhìn thấy được triển vọng của thương vụ và đặc biệt những cuộc hợp nhất luôn đỏi hỏi sự tương đồng và cân bằng về năng lực quản lý, năng lực tài chính … để cùng chia sẻ trên tinh thần hợp tác cao nhất.

Theo Andrew J.Sherman và Milledge A.Hart thì có nhiều lý do để làm cho xu hướng M&A ngày càng phát triển :

-M&A là cách thức hiệu quả để xâm nhập vào một thị trường mới. Và M&A cũng là phương cách hiệu quả để tiếp cận, mở rộng hoạt động và thị trường ra quốc tế

-M&A là cách để sở hữu những tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp khác.

-Việc thu hút vốn sau M&A có triển vọng hơn và nhất là có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ.

Continue reading

NHÌN NHẬN ĐÚNG VAI TRÒ CỦA FDI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN MINH NGỌC

Những tác động tiêu cực của vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không phải là thuộc tính riêng, và chúng thường là hệ quả của các chính sách và chất lượng quản lý kinh tế. Đây là điều các nhà hoạch định chính sách cần chú ý khi hoạch định một chính sách tổng thể về FDI ở Việt Nam.

Con số vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện qua từng tháng, quý và năm luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của nhiều người. Rất thường xuyên, những con số này được coi đồng nghĩa với thước đo thành công của chính sách phát triển kinh tế cũng như môi trường kinh doanh của Việt Nam. Bởi vậy, việc duy trì và không ngừng làm cho những con số này tăng lên là điều đặc biệt quan trọng đối với các cấp chính quyền, và cũng vì vậy mà người ta có xu hướng chạy đua, châm trước, và đưa ra quá nhiều ưu đãi để kéo nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền của vào Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng. FDI thường được nhìn nhận như một liều thuốc đại bổ cho nền kinh tế thiếu dinh dưỡng và không mấy ai mảy may nghĩ đến mặt trái của tấm huy chương FDI.

Bởi vậy, dường như chỉ mới gần đây những tác động tiêu cực của FDI mới được bộc lộ rõ nét và mới được công luận chú ý và bắt đầu có cái nhìn mang tính phê phán hơn so với cái nhìn mầu hồng mang nặng tính thực dụng trước đây. Mặt trái của tấm huy chương FDI thường được liệt kê dưới những tác động tiêu cực như gây ô nhiễm môi trường, thôn tính thị trường trong nước, hoặc có những hành vi thao túng giá cả. Một số ít thì chỉ ra rằng FDI vào các ngành dịch vụ nhiều một cách tương đối thì làm tăng thêm thâm hụt cán cân mậu dịch (tức là nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu). Thậm chí có người còn quy kết FDI làm tăng tính bất ổn định xã hội với nhiều vụ đình công v.v…

Continue reading

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI VIẾT ĐIỀU LỆ CHO CÔNG TY

LG. TRẦN MINH SƠN – Bộ Tư pháp

Luật Doanh nghiệp của Việt Nam không định nghĩa bản điều lệ là gì mà chỉ liệt kê các nội dung chính nó phải có (Điều 22 Luật Doanh nghiệp năm 2005)[1]. Luật công ty mẫu của Mỹ cũng không định nghĩa Bản điều lệ là gì. Còn từ điển về luật của Mỹ thì giải nghĩa đó là những điều khoản hành chính do một tổ chức lập nên để quy định công việc quản trị bên trong và giao dịch với bên ngoài của tổ chức ấy.

Nói một cách dễ hiểu thì Bản điều lệ là bản thỏa thuận giữa những người sáng lập công ty với các cổ đông và giữa các cổ đông với nhau cùng được soạn căn cứ trên những khuôn mẫu chung của luật pháp (luật doanh nghiệp, luật thuế, luật lao động, luật tài chính, kế toán…) để ấn định cách tạo lập, hoạt động và giải thể của một doanh nghiệp.

Trên ý nghĩa đó cho thấy, bản điều lệ giống như một bản hợp đồng có “tính chất quy định”. Tuy nhiên, vì công ty là “tổ chức do luật pháp đặt ra” nên khác với các bản hợp đồng thông thường, bản điều lệ có thể trưng ra được cho những người thứ ba và buộc họ phải chấp nhận “tính chất đối kháng” khi giao dịch với công ty. Ví dụ, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng…

Do “tính chất đối kháng” của bản điều lệ nên các ngân hàng và những người muốn mua, đầu tư công ty xem bản điều lệ rất kỹ; thậm chí cả các văn bản mà đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị ban hành theo các quy định của bản điều lệ để biết công ty được làm gì nhằm ràng buộc nó vào hành vi mà nó muốn thực hiện với họ (vay tiền, hay bán Công ty, kêu gọi đầu tư…).

Continue reading

KHUNG GIÁ ĐẤT CÁC TỈNH THÀNH TRONG CẢ NƯỚC NĂM 2010

Ghi chú: (chưa cập nhật) có nghĩa giá đất ở địa phương chưa được cập nhật năm 2010, tạm thời theo thông tin giá đất năm 2008 hoặc 2009

A. GIÁ ĐẤT CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
1. HÀ NỘI
 

Địa bàn

Giá đất

Quận Hai Bà Trưng Download
Quận Ba Đình Download
Quận Đống Đa Download
Quận Hoàng Mai Download
Quận Cầu Giấy Download
Quận Long Biên Download
Quận Tây Hồ Download
Quận Thanh Xuân Download
Quận Hoàn Kiếm Download

Quận Hà Đông

Download
Đất Nông Nghiệp Download

Thị xã Sơn Tây

 
Thành phố Sơn Tây Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Ba Vì

 
Thị trấn Tây Đằng Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Chương Mỹ

 
Các thị trấn thuộc huyện Chương Mỹ Download
Ven Trục giao thông Download

Huyện Đan Phượng

 
Thị trấn Phùng Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Đông Anh

 
Huyện Đông Anh Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Gia Lâm

 
Các thị trấn thuộc huyện Gia Lâm Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Khu vực giáp ranh Download

Huyện Hoài Đức

 
Thị trấn Trạm Trôi Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Mê Linh

 
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Mỹ Đức

 
Thị trấn Đại Nghĩa Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Phú Xuyên

 
Các thị trấn thuộc huyện Phú Xuyên Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Phúc Thọ

 
Thị trấn Gạch Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Quốc Oai

 
Thị trấn Quốc Oai Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Sóc Sơn

Thị trấn Sóc Sơn Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Thạch Thất

 
Thị trấn Liên Quan Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Phân loại xã Download

Huyện Thanh Oai

 
Thị trấn Kim Bài Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Thanh Trì

 
Các thị trấn Văn Điền Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Khu vực giáp ranh Download

Huyện Thường Tín

 
Thị trấn Thường Tín Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Từ Liêm

 
Các thị trấn Cầu Diễn Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Khu vực giáp ranh Download

Huyện Ứng Hòa

 
Thị trấn Vân Đình Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Continue reading