TRỐN THUẾ HAY TRÁNH THUẾ

LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật P&P

Trong khi trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật thì “tránh thuế” có thể giúp người nộp thuế giảm thiểu số tiền phải đóng mà không trái với quy định pháp luật.

Trốn thuế là đề tài thường được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tùy theo mức độ nghiêm trọng và số tiền trốn thuế, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế theo Điều 161, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2010.

Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuế khác nhau. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bán hàng nước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cá nhân mua bán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai báo đầy đủ doanh thu hay khai khống chi phí (thuế thu nhập doanh nghiệp); cá nhân không kê khai thu nhập chịu thuế (thuế thu nhập cá nhân), hạ giá của hàng hóa mua bán chịu thuế trước bạ (như xe hơi hay nhà ở) để giảm thiểu số thuế trước bạ phải đóng…

Mặc dù luật pháp rất nghiêm khắc đối với việc trốn thuế, nhưng thực tế cho thấy, hành vi này diễn ra khá phổ biến, phức tạp và khó kiểm soát do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan. Đó là lý do khiến mọi người thường lầm tưởng rằng, khi có một cá nhân hay tổ chức nào đó tìm cách không đóng thuế thì đó là biểu hiện của việc trốn thuế và phải bị xử phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng đúng như vậy. Trong một số trường hợp, đó là tránh thuế hợp pháp.

Continue reading

ĐÌNH CÔNG VÀ NHỮNG NÚT THẮT

THS. TRẦN NGỌC THÍCH – Công ty Luật Phuoc & Partners

Những nút thắt trong Luật Lao động đang khiến cho hầu hết các cuộc đình công trở thành bất hợp pháp.

Bên cạnh các thị trường hàng hóa khác nhau ở Việt Nam, không thể không nói đến một loại thị trường đặc biệt, đó là thị trường sức lao động. Đây là nơi diễn ra hoạt động mua bán sức lao động giữa một bên là những người có nhu cầu bán sức lao động (người lao động) và một bên là những người cần mua sức lao động (người sử dụng lao động).

Người lao động luôn có nguy cơ bị người sử dụng lao động khai thác giá trị thặng dư thông qua việc tận dụng sức lao động của họ, như tăng giờ làm, tăng ca, giảm tiền lương, cắt phụ cấp, giảm chi phí mua các trang thiết bị an toàn vệ sinh lao động, hoặc trì hoãn, trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ khác đối với người lao động như đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp… Những điều này đã dẫn đến những phản ứng từ phía người lao động. Biểu hiện mạnh nhất là đình công.

Khó có thể đình công hợp pháp

Pháp luật lao động Việt Nam cho phép người lao động được quyền đình công. Tuy nhiên những quy định hiện nay về đình công còn mang tính hình thức, khiến người lao động hiếm khi sử dụng được quyền đình công một cách hợp pháp để bảo vệ quyền lợi cho mình. Thực tế cho thấy hầu hết các cuộc đình công của người lao động bị xem là bất hợp pháp, phần lớn vì các lý do: không do công đoàn lãnh đạo hoặc không tuân thủ các quy định về việc lấy ý kiến người lao động.

Theo quy định tại Điều 172a của Luật Lao động hiện hành, đình công phải do ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh đạo. Đây là một trong những điều kiện để xem cuộc đình công đó có hợp pháp hay không. Tuy nhiên, một thực tế là các thành viên của ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời lại được chỉ định hoặc được bầu từ người lao động. Hầu hết họ đều hưởng lương và các lợi ích khác từ người sử dụng lao động và đây là nguồn thu nhập chính để trang trải cho cuộc sống của họ. Chưa kể, hiện nay ở nhiều công ty, chủ tịch công đoàn thường kiêm nhiệm các chức danh quản lý trong công ty như giám đốc, phó giám đốc hoặc trưởng, phó các phòng ban.

Continue reading

TẬP ĐOÀN KINH TẾ: CỞI TRÓI!

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Nghị định 101 của Chính phủ đã góp phần xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 31.12.2008, tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn kinh tế nhà nước (Dầu khí, Than Khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Bưu chính viễn thông) là 128.786 tỉ đồng, tăng 20,54% so với cuối năm 2007, chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế. Những con số này cho thấy hoạt động của các tập đoàn kinh tế đang có nhiều vấn đề.

Thực tế, các tập đoàn kinh tế đang gặp khó khăn trong việc xác định mối quan hệ và liên kết giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phận quản lý trong bộ máy quản lý tập đoàn). Các tập đoàn kinh tế cho rằng, nguyên do nằm ở việc thiếu khung pháp lý điều chỉnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của tập đoàn là quan trọng, nhưng vấn đề không chỉ ở khung pháp lý.

Địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế

Nhằm đóng góp vào khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế tại Việt Nam, ngày 5.11.2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước (Nghị định 101). Theo Điều 4 Nghị định 101, tập đoàn kinh tế nhà nước được thí điểm thành lập theo nghị định này là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ – công ty con và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

Continue reading

Qui định về quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam – TRƯỜNG HỢP LUẬT TỤC THÁI VÀ LUẬT TỤC Ê ĐÊ

unnamed HOÀNG VĂN QUYNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Ở các dân tộc thiểu số nước ta từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm hữu đối với của cải vật chất, trong đó có các tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống. Việc xác định quyền sở hữu và chiếm hữu đối với các nguồn tài nguyên này chính là cơ sở để cộng đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua các quy định về quan hệ sở hữu trong các bộ Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Trường hợp Luật tục Thái và Luật tục Êđê).

Về vấn đề sở hữu, ở mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển của mỗi cộng đồng mà có các quy định về quan hệ sở hữu khác nhau. Ở đây hầu như chưa có các quan hệ sở hữu về tài sản, mà chủ yếu chỉ xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên, như đất đai, rừng núi, sông suối…

Nhưng các quan hệ sở hữu này lại là sở hữu chung của cả cộng đồng, sở hữu của cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng, động thực vật của cộng đồng dân tộc đó.

Việc xác định quan hệ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với các dân tộc ít người miền núi nói riêng và cả nước nói chung. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường. Phát huy truyền thống dân tộc kết hợp với pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý đất đai, rừng núi, sông suối và bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.

1. Quan niệm về vấn đề sở hữu

Vấn đề sở hữu luôn có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc người nào, trong bất cứ một chế độ xã hội nào. Theo Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” (Điều 173) [1].

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT TỤC CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP LUẬT TỤC THÁI VÀ LUẬT TỤC Ê ĐÊ

HOÀNG VĂN QUYNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

Tóm tắt. Ở các dân tộc thiểu số nước ta từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm hữu đối với của cải vật chất, trong đó có các tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống. Việc xác định quyền sở hữu và chiếm hữu đối với các nguồn tài nguyên này chính là cơ sở để cộng đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua các quy định về quan hệ sở hữu trong các bộ Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Trường hợp Luật tục Thái và Luật tục Êđê).

Về vấn đề sở hữu, ở mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển của mỗi cộng đồng mà có các quy định về quan hệ sở hữu khác nhau. Ở đây hầu như chưa có các quan hệ sở hữu về tài sản, mà chủ yếu chỉ xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên, như đất đai, rừng núi, sông suối…

Nhưng các quan hệ sở hữu này lại là sở hữu chung của cả cộng đồng, sở hữu của cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng, động thực vật của cộng đồng dân tộc đó.

Việc xác định quan hệ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với các dân tộc ít người miền núi nói riêng và cả nước nói chung. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường. Phát huy truyền thống dân tộc kết hợp với pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý đất đai, rừng núi, sông suối và bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.

1. Quan niệm về vấn đề sở hữu

Vấn đề sở hữu luôn có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc người nào, trong bất cứ một chế độ xã hội nào. Theo Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” (Điều 173) [1].

Continue reading

KIỂM SOÁT VIÊN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN LÀ TỔ CHỨC

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Vào ngày 01/7/2010, thời hạn chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước kết thúc, đương nhiên các công ty nhà nước đồng loạt chuyển thành công ty TNHH một thành viên là tổ chức. Khi đó nhà nước là một chủ sở hữu vô hình của các công ty TNHH một thành viên, còn tài sản của nhà nước lại được giao cho một số ít người quản lý trong bối cảnh pháp luật còn nhiều lỗ hổng để cho những người quản lý đó xâm hại đến tài sản của nhà nước.

Hiện nay, vấn đề quản trị công ty TNHH một thành viên là tổ chức chưa được thực sự quan tâm. Bởi vì, loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến so với công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Sau ngày 01/7/2010 (thời điểm cuối cùng để chuyển đổi các DNNN), nếu các DNNN không tiến hành cổ phần hoá hoặc không chuyển đổi thì đương nhiên các doanh nghiệp đó sẽ trở thành công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, quản trị công ty TNHH một thành viên là tổ chức trở thành vấn đề bức thiết và gay gắt nhất, không tìm hiểu kỹ có thể sẽ dẫn đến những sai lầm về quản trị.

Kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức là một cá nhân do tổ chức là chủ sở hữu bổ nhiệm để kiểm soát các hoạt động của công ty nên vài trò của kiểm soát viên rất lớn. Ý nghĩa của việc quy định chức danh kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức vì chủ sở hữu là một thực thể pháp lý vô hình, không thể trực tiếp quản lý hay điều hành công ty nên phải có một người thay mặt chủ sở hữu kiểm soát các hoạt động của công ty cũng như giám sát những người quản lý, điều hành nhằm đảm bảo tài sản của chủ sở hữu không bị thất thoát.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 20/2010/NĐ-CP NGÀY 8 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH SỬA ĐỔI ĐIỀU 10 CỦA PHÁP LỆNH DÂN SỐ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số ngày 27 tháng 12 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số

Điều 2. Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con

1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.

3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.

4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.

5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.

6. Cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh. Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện đang còn sống.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 09/2010/TT-BGDĐT NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BAN HÀNH QUY CHẾ HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên
,

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế Học viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hình thức vừa làm vừa học.

Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 4 năm 2010. Các quy định trước đây trái với quy định tại Thông tư này đều bị bãi bỏ.

Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Thủ trưởng đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc sở giáo dục và đào tạo, Giám đốc đại học, học viện, Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Quang Quý

QUY CHẾ

HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC
(Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2010/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 21/2010/NĐ-CP NGÀY 8 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ QUẢN LÝ BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về quản lý biên chế công chức, bao gồm: nguyên tắc quản lý biên chế công chức, căn cứ xác định biên chế công chức, nội dung quản lý biên chế công chức.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Văn phòng Chủ tịch nước.

4. Văn phòng Quốc hội.

5. Kiểm toán Nhà nước.

6. Tòa án nhân dân.

7. Viện kiểm sát nhân dân.

Continue reading

BÀN VỀ KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đề nghị và chấp nhận là các khái niệm luôn luôn đi liền với nhau trong việc nghiên cứu về giao kết hợp đồng, bởi chúng là các thành tố của sự thỏa thuận. Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đề xác định ngay đầu tiên khi nói về giao kết hợp đồng, tại các Điều 2.1 và Điều 2.1.1 tương ứng, với nội dung không thay đổi là: “Một hợp đồng có thế giảo kết hoặc bởi sự chấp nhận một đề nghị hoặc bởi cách hành xử của các bên mà đủ để thể hiện sự thỏa thuận”.

Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa:”Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”(Điều 396). Định nghĩa này được đưa ra có tính cách ứng dụng cho các trường hợp cụ thể theo pháp luật ViệtNam, nên bao hàm trong nó cả điều kiện của chấp nhận. Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đều định nghĩa: “Một tuyên bố hoặc cách hành xử khác nhau của người được đề nghị cho biết sự đồng ý với đề nghị là chấp nhận. Sự im lặng hoặc không hành động tự bản thân nó không có nghĩa là chấp nhận”(Điều 2.6 và Điều 2.1.6 tương ứng). Định nghĩa này của Unidroit đã khai thác bản chất của chấp nhận là sự đồng ý với đề nghị của người khác đối với mình và nói rõ cách thức chấp nhận hay hình thức của chấp nhận, có nghĩa là phương thức bộc lộ sự đồng ý ra bên ngoài. Tại đó đã không đề cập tới các điều kiện của chấp nhận, có lẽ bởi chấp nhận có nhiều điều kiện để có hiệu lực mà chúng ta có dịp nó tới đây.

Sự chấp nhận có thể chia thành ba loại cơ bản căn cứ vào hình thức của nó là: (1) Chấp thuận rõ ràng, cụ thể như trường hợp tuyên bố rõ ý chí ưng thuận với đề nghị, hoặc (2) Chấp nhận thông qua cách hành xử ngụ ý về sự chấp nhận, hoặc (3) Im lặng hay không hành động. Giống như khi phân tích hình thức hợp đồng, chấp nhận cũng có hình thức biểu hiện như vậy chứng minh cho sự chấp nhận. Các hình thức đó bao gồm văn bản, lời nói, cử chỉ hay hành động, hoặc sự im lặng hay không hành động. Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định ba hình thức đầu nói trên là hình thức của hợp đồng tại Điều 401, khoản 1. Còn hình thức thứ ba được nói một cách xa xôi tại Điều 404, khoản 2, có nghĩa là người được đề nghị có thể bằng sự im lặng của mình ngụ ý về sự chấp nhận đề nghị, tuy nhiên với điều kiện là phải có thỏa thuận im lặng là chấp nhận. Vấn đề này sẽ được nói lại dưới đây.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG CƠN SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU

PGS.TS. TRẦN VĂN THIỆN & THS. NGUYỄN SINH CÔNG

Cuộc khủng khoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ) đã làm cho các nền kinh tế đều rơi vào tình trạng suy thoái với những mức độ khác nhau. Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động mạnh mẽ đến vấn đề việc làm của các quốc gia. Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong năm 2009, toàn thế giới sẽ giảm khoảng 210 triệu chỗ làm và tỷ lệ thất nghiệp của thế giới sẽ ở mức 7,1%. Hậu quả là các quốc gia đều phải cắt giảm chỗ làm việc dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao, người lao động và chính phủ các nước phải đối mặt với vấn đề giải quyết việc làm. Khu vực các nước đang phát triển đã và sẽ là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

VN là một nước đang phát triển, ngày càng hội nhập sâu và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, vì vậy, cũng trong tình trạng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cơn suy thoái kinh tế thế giới mà một trong những vấn đề nan giải là việc làm. Suy thoái kinh tế không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng thấp mà còn dẫn đến tình trạng việc làm bị cắt giảm, xáo trộn, thất nghiệp gia tăng.

Lao động trong nước thất nghiệp gia tăng

Theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, những tháng cuối năm 2008, cả nước có gần 30.000 lao động tại các doanh nghiệp bị mất việc làm. Tính đến hết năm 2008, đã có 11 Liên đoàn Lao động tỉnh, thành báo cáo số lượng người mất việc là: Hà Nội 4.600 người, Bà Rịa – Vũng Tàu 1.624 người, Đà Nẵng 933 người, Vĩnh Phúc 500 người, Hải Phòng 900 người, Quảng Nam 8.000 người, Bình Dương 915 người, Đồng Nai 7.000 người, TP.HCM 8.000 người và Công đoàn Giao thông Vận tải 4.300 người. Các ngành bị cắt giảm nhiều lao động là dệt may, da giày, điện tử.

Continue reading

LÃI SUẤT VÀ RỦI RO PHÁP LÝ

THUẬN HẢI

Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát.

Với chủ các ngân hàng và doanh nghiệp, đây là quyết định không thể không hợp thức hóa hoạt động thực tiễn lâu nay của họ, giúp khơi thông nguồn vốn đã có dấu hiệu tồn đọng và phát sinh những khoản chi phí khi giao dịch mà không thể đưa vào sổ sách kế toán. Với một số ý kiến chuyên gia nhìn bằng lăng kính pháp lý hiện hành và những doanh nghiệp đang họat động chủ yếu bằng nguồn vốn vay, mà không thể huy động vốn bằng các nguồn khác, thì mức lãi suất mà họ có thể thỏa thuận hiện nay chắc chắn sẽ phạm Luật dân sự vì đã phải chấp thuận mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản (8%/năm) mà Ngân hàng Nhà nước công bố.

Giữa những luồng ý  kiến băn khoăn ấy, những thông tin về các vụ giật hụi, chủ nợ cho vay nặng lãi, doanh nghiệp đút lót cả chục tỷ đồng cho quan chức Ngân hàng để nhận được khoăn vay theo lãi suất quy định của pháp luật vẫn rộn ràng khắp nơi.

Ngoài vụ bị bắt quả tang như ở BIDV, dường như các vụ tranh chấp vay nợ theo lãi suất thỏa thuận nặng lãi bên ngoài không có dấu hiệu sẽ được giải quyết bằng thủ tục pháp lý bởi các cơ quan công quyền với lý do con nợ và chủ nợ tự thỏa thuận cách giải quyết với lý do "hành vi thỏa thuận nợ không được chính quyền công nhận, bất hợp pháp ngay từ khi nó phát sinh".

Hơn nữa, cần tách bạch hợp đồng tín dụng của các pháp nhân là ngân hàng thương mại với những thỏa thuận dân sự giữa các thể nhân là công dân có năng lực pháp lý và khả năng chịu trách nhiệm pháp luật về hành vi trong cuộc sống hàng ngày. Có như vậy, việc lãi suất ngân hàng vượt ngưỡng 150% lãi suất cơ bản có được coi là hoạt động vi phạm pháp pháp luật hay không hay cơ chế nào để giải quyết những vụ trốn nợ, giật hụi đây đó đang xảy ra.

Continue reading

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh tại TP.HCM – NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KIẾN NGHỊ

TS. TẦN XUÂN BẢO

1. Đặt vấn đề

Luật Doanh nghiệp (DN) ra đời đã có tác động rất tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nửụực ta, kể từ năm 2000 số lượng doanh nghiệp thuộc khu vưc ngoài Nhà nước mới đăng ký liên tục tăng lên. Tính đến hết tháng 6/2005 đã có gần 140 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký (trong 9 năm 1991-1999 có khỏang hơn 40.000 doanh nghiệp đăng ký); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở nước ta lên khoảng 180 nghìn doanh nghiệp. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong thời gian 2000-6/2005 cao gấp 3,5 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999).

Riêng đối với TP.HCM, chỉ sau 5 năm thực hiện luật DN, số lượng doanh nghiệp thành lập mới của thành phố tăng nhanh chóng. Từ đó đã thu hút được một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng vốn đầu tư cho xã hội, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động mỗi năm, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố và các Tỉnh lân cận. Tuy nhiên do Luật Doanh nghiệp mới ban hành, đồng thời Luật Doanh nghiệp lại được thực hiện trong bối cảnh hệ thống luật pháp chung của nước ta còn chưa đầy đủ, đồng bộ nên quá trình tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp còn gặp phải những vướng mắc, trở ngại là điều không thể tránh khỏi. Bài viết này nhằm mục đích góp phần phân tích, đánh giá, một số khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn để có cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý các DN của Nhà nước ngày càng có hiệu quả hơn.

2. Những khó khăn vướng mắc

Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh,qua khaỷo saựt thửùc teỏ,noồi leõn moọt soỏ những vấn đề chính sau đây:

Continue reading

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SAU ĐĂNG KÝ KINH DOANH TẠI TP.HCM – NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KIẾN NGHỊ

TS. TẦN XUÂN BẢO

1. Đặt vấn đề

Luật Doanh nghiệp (DN) ra đời đã có tác động rất tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nửụực ta, kể từ năm 2000 số lượng doanh nghiệp thuộc khu vưc ngoài Nhà nước mới đăng ký liên tục tăng lên. Tính đến hết tháng 6/2005 đã có gần 140 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký (trong 9 năm 1991-1999 có khỏang hơn 40.000 doanh nghiệp đăng ký); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở nước ta lên khoảng 180 nghìn doanh nghiệp. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong thời gian 2000-6/2005 cao gấp 3,5 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999).

Riêng đối với TP.HCM, chỉ sau 5 năm thực hiện luật DN, số lượng doanh nghiệp thành lập mới của thành phố tăng nhanh chóng. Từ đó đã thu hút được một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng vốn đầu tư cho xã hội, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động mỗi năm, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố và các Tỉnh lân cận. Tuy nhiên do Luật Doanh nghiệp mới ban hành, đồng thời Luật Doanh nghiệp lại được thực hiện trong bối cảnh hệ thống luật pháp chung của nước ta còn chưa đầy đủ, đồng bộ nên quá trình tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp còn gặp phải những vướng mắc, trở ngại là điều không thể tránh khỏi. Bài viết này nhằm mục đích góp phần phân tích, đánh giá, một số khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn để có cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý các DN của Nhà nước ngày càng có hiệu quả hơn.

2. Những khó khăn vướng mắc

Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh,qua khaỷo saựt thửùc teỏ,noồi leõn moọt soỏ những vấn đề chính sau đây:

Continue reading

TỐ TỤNG DÂN SỰ: TÒA “BÍ” KHI ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

THÁI QUÍ

Trong quá trình xét xử, các thẩm phán không thể có đủ kiến thức về mọi lĩnh vực, để bảo đảm tính khách quan nên phải trưng cầu giám định, định giá tài sản… mới giải quyết được vụ án. Điều này khiến Tòa án gặp không ít khó khăn khi tiến hành các hoạt động tố tụng.

Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) quy định: Tòa án ra quyết định định giá tài sản tranh chấp, trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, khi các đương sự không thỏa thuận được giá trị tài sản, hoặc các bên tuy thỏa thuận được giá nhưng mức giá thấp, nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí. Hội đồng định giá tài sản (HĐĐGTS) do Toà án quyết định thành lập, gồm Chủ tịch Hội đồng và các thành viên là đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan.

Về trình tự thủ tục để thành lập HĐĐGTS, Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17.9.2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn: Tòa án phải xem xét tài sản cần định giá là loại tài sản nào, có liên quan đến cơ quan chuyên môn nào, HĐĐGTS cần phải có bao nhiêu thành viên và cần cử đại diện của cơ quan nào làm chủ tịch HĐĐGTS. Trên cơ sở đó, Tòa án có công văn gửi cho các cơ quan chuyên môn đề nghị cử cán bộ làm Chủ tịch và ủy viên HĐĐGTS. Trong công văn cần nêu rõ tài sản cần định giá, yêu cầu cụ thể đối với Chủ tịch và uỷ viên HĐĐGTS, thời hạn cơ quan chuyên môn có công văn trả lời cho Tòa án biết việc việc cử người tham gia HĐĐGTS. Sau khi nhận được công văn trả lời của các cơ quan chuyên môn về việc cử người tham gia HĐĐGTS, thẩm phán phải kiểm tra những người được cử có đáp ứng các yêu cầu cụ thể mà Tòa án nêu trong công văn không… Nếu những người được cử đã đáp ứng được các yêu cầu thì thẩm phán ra quyết định định giá tài sản. Như vậy, pháp luật đã quy định rất cụ thể và rõ ràng về căn cứ, trách nhiệm, trình tự, thủ tục thành lập HĐĐGTS. Với hành lang pháp lý kín kẽ như vậy, về mặt lý thuyết, việc Tòa án tiến hành các thủ tục định giá tài sản là không có gì khó khăn, tuy nhiên thực tế lại không đơn giản như vậy.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 17/2010/NĐ-CP NGÀY 4 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh ngày 02 tháng 4 năm 2008 sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản; đấu giá viên; tổ chức bán đấu giá tài sản và quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản;

2. Nghị định này áp dụng đối với việc bán đấu giá các loại tài sản sau đây:

a) Tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án;

b) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

c) Tài sản bảo đảm trong trường hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định phải xử lý bằng bán đấu giá;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 665/LĐTBXH-BHXH NGÀY 9 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC THỰC HIỆN PHỤ CẤP KHU VỰC

Kính gửi:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhận được ý kiến phản ánh của một số địa phương và của cử tri tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XII về việc thực hiện phụ cấp khu vực đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực chưa hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần mà bị chết từ ngày 01/01/2007 trở về sau. Về vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Việc thực hiện phụ cấp khu vực đối với người hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng, được thực hiện theo Nghị định số 122/2008/NĐ-CP ngày 04/12/2008 của Chính phủ và Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Theo đó, người lao động nghỉ việc đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần kể từ ngày 01/01/2007 trở đi, mà trước đó đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực, thì ngoài hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần theo quy định còn được hưởng trợ cấp một lần tương ứng với thời gian và số tiền phụ cấp khu vực đã đóng bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, theo phản ánh của cử tri và một số địa phương trong quá trình thực hiện gặp vướng mắc đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực nhưng chưa hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần mà bị chết từ ngày 01/01/2007 trở về sau.

Để đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội và tương quan giữa các nhóm đối tượng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố giải quyết để thân nhân của người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực nhưng chưa hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần mà bị chết từ ngày 01/01/2007 trở về sau thì ngoài trợ cấp tuất theo quy định còn được hưởng khoản trợ cấp một lần tương ứng với thời gian và số tiền phụ cấp khu vực đã đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 mục II Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Minh Huân

CÔNG VĂN SỐ 657/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 8 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG THỜI GIAN NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ TAM GIỮ, TẠM GIAM, ĐÌNH CHỈ CÔNG VIỆC

Kính gửi:

Tổng công ty Miền Trung
(517 Trần Cao Vân, Tp Đà Nẵng)

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhận được công văn số 01CV/TCT-TCLĐ ngày 12/01/2010 của Tổng công ty Miền Trung do Bộ Nội vụ chuyển tới về việc tiền lương trong thời gian người lao động bị tạm giữ, tạm giam, đình chỉ công việc; về vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại khoản 2, Điều 1, Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ thì đối tượng điều chỉnh tại Nghị định này bao gồm cán bộ, công chức quy định tại điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003. Như vậy, đối với người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động thuộc Tổng công ty Miền Trung không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ, mà thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Lao động.

2. Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Lao động và Điều 16 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ thì trong thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc theo quy định, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề, trước khi bị đình chỉ công việc.

3. Đối với người lao động bị tạm giữ, tạm giam thì việc thanh toán tiền lương trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 656/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 8 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ BỐ TRÍ NGÀY NGHỈ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Đà Nẵng

Trả lời công văn số 55/BQL-LĐ ngày 08/02/2010 của Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Đà Nẵng về việc tiền lương của người lao động trong ngày nghỉ làm bù, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Tại khoản 2 và khoản 3, Điều 72 Bộ luật Lao động quy định:

“2. Người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào chủ nhật hoặc một ngày cố định khác trong tuần.

3. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hàng tuần thì người sử dụng lao động phải đảm bảo cho người lao động được nghỉ tính bình quân một tháng ít nhất là bốn ngày.”

Trên cơ sở quy định nêu trên, Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có văn bản số 51/TTr-CSLĐ ngày 13/4/2007 với nội dung: vì việc cắt điện đã có lịch thông báo trước và có tính chất lâu dài nên các doanh nghiệp có quyền chủ động bố trí thời gian sản xuất và thời gian nghỉ ngơi cho người lao động để phù hợp với điều kiện thực tế, miễn là đảm bảo bố trí cho người lao động nghỉ đủ 4 ngày trong tháng (không nhất thiết phải là ngày chủ nhật).

Như vậy, nếu việc cắt điện đã có lịch thông báo trước và có tính chất lâu dài thì doanh nghiệp căn cứ vào điều kiện thực tế để chủ động bố trí thời gian sản xuất và thời gian nghỉ ngơi cho người lao động cho phù hợp với quy định nêu trên. Trường hợp cắt điện không thông báo trước thì người sử dụng lao động thực hiện theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Lao động.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Đà Nẵng biết và thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh