CHO VAY TÍN CHẤP Ở VIỆT NAM: ĐẾN BAO GIỜ?

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Một trong những khó khăn lớn khi các doanh nghiệp muốn vay vốn của các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng là phải có tài sản thế chấp. Trong khi đó, xét về mặt lý thuyết, các ngân hàng và tổ chức tín dụng hoàn toàn có quyền cho các doanh nghiệp vay vốn không cần có tài sản đảm bảo, tức là cho vay tín chấp. Nhưng, điều đó vẫn chỉ có trên lý thuyết mà thôi. Vậy ta có thể làm gì để vay tín chấp trở thành hiện thực?

Vay tín chấp là gì?

Vay tín chấp là hình thức vay tiền ngân hàng và các tổ chức tín dụng được bảo đảm bằng sự tín nhiệm, không cần có tài sản thế chấp.Tất nhiên, tài sản thế chấp được đề cập ở đây là một tài sản hữu hình hoặc một bất động sản đầu tư. Khái niệm trên cho thấy, vay tín chấp không phải là việc cho vay không có bảo đảm mà cao hơn, tài sản bảo đảm là sự tín nhiệm giữa người cho vay (các ngân hàng, tổ chức tín dụng) và người vay, thông thường là các doanh nghiệp. Từ những phân tích trên, có thể thấy, vay tín chấp có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, vay tín chấp không thể thực hiện được trong giai đoạn đầu của mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Để có được sự tín nhiệm, quan hệ vay – cho vay phải trải qua một thời gian nhất định.

Hai là, thế chủ động trong việc quyết định cho vay tín chấp thuộc về người cho vay. Bởi lẽ, khi và chỉ khi người cho vay có được độ tin cậy rất cao đối với người vay mới có thể quyết định cho vay tín chấp.

Ba là, người vay (các doanh nghiệp) đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm để có thể vay tín chấp. Trong nhiều trường hợp, chính hoạt động kinh doanh có hiệu quả và sự minh bạch của doanh nghiệp lại là nhân tố quyết định để ngân hàng và các tổ chức tín dụng quyết định cho vay tín chấp.

Bốn là, sự tín nhiệm (“tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình, không thể đem đấu giá để thu hồi vốn cho vay. Vì vậy, quyết định cho vay tín chấp của các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng và vì vậy, khó khăn là lẽ đương nhiên.

Continue reading

NHỮNG NHẦM LẪN VÀ BẤT CẬP VỀ THỦ TỤC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Công ty cổ phần là một phát minh của nền kinh tế thị trường, là loại hình doanh nghiệp chiếm ưu thế lớn nhất về nguổn vốn và năng lực kinh doanh. Công ty cổ phần là nền tảng hình thành nên những công ty siêu quốc gia, những tập đoàn kinh tế lớn và thị trường chứng khoán. Nhưng đối với Việt Nam, công ty cổ phần chỉ mới có tuổi đời hai chục năm. VÌ vậy, chỉ riêng về trình tự, thủ tục tiến hành các cuộc họp Đại hội đổng cổ đông cũng đã có không ít sai sót, nhầm lẫn và bất cập.

1. Nhầm lẫn về tên gọi cuộc họp

Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định "Đại hội đổng cổ đông gổm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần". Đại hội đổng cổ đông là một co cấu tổ chức của công ty, luôn hiện hữu từ khi thành lập công ty cổ phần cho đến khi chấm dứt hoạt động. Mọi cổ đông đều là thành viên đương nhiên cấu thành nên Đại hội đồng cổ đông. Nhưng hầu hết các công ty, các phương tiện báo chí và cơ quan Nhà nước đã sử dụng nhầm lẫn chữ "Đại hội" trong cụm từ này đổng nghĩa với cuộc họp, cho nên viết là "mời dự Đại hội đổng cổ đông Tập đoàn Bảo Việt" hay "Đại hội đổng cổ đông thường niên Ngân hàng TMCP Hàng Hải" hoặc "Đại hội đổng cổ đông lần thứ nhất Ngân hàng TCMP Công thương Việt Nam". Theo đúng ngữ nghĩa cũng như quy định của Luật Doanh nghiệp, luôn luôn phải thêm từ cuộc họp hoặc từ khác tương đương vào cụm từ "Đại hội đổng cổ đông" để chỉ một cuộc họp.

Ngay chính Luật Doanh nghiệp cũng một lần bị nhầm lẫn và đã diễn ra không ít lần nhầm lẫn trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Gần đây nhất là Công văn số 3069/BKH-PTDN ngày 04-5-2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng không chính xác khi viết câu trích yếu: "V/v Tỷ lệ tham dự Đại hội đổng cổ đông thường niên của công ty cổ phần".

2. Nhầm lẫn về thời hạn mời họp

Khoản 2, Điều 97 của Luật Doanh nghiệp về "Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đổng cổ đông" quy định: "Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính". Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều công ty đã kéo dài thời hạn họp đến tận tháng 5, tháng 6 năm sau. Ví dụ, đến giữa tháng 6/2009 Ngân hàng TMCP Quân Đội mới tiến hành họp Đại hội đổng cổ đông hay Công ty Cổ phần chứng khoán APEC họp vào cuối tháng 6-2009.

Continue reading

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HỒ PHI HÀ

Vốn là một câu chuyện thường xuyên làm đau đầu các doanh nghiệp. Vốn đối với doanh nghiệp quan trọng như huyết mạch trong cơ thể con người. Vì vậy, huy động vốn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Hiện nay, có nhiều kênh huy động vốn khác nhau, trong đó thị trường bất động sản là một trong những kênh huy động vốn đang nhận được sự quan tâm từ nhiều phía. Vậy thực trạng huy động vốn từ thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay ra sao? 

Có thể nhận thấy rằng thị trường bất động sản là một loại hình thị trường quan trọng. Đối với các nước công nghiệp, hoạt động của thị trường bất động sản thường chiếm khoảng 30% GDP. Cũng có rất nhiều quốc gia có nguồn thu thuế cho Ngân sách Nhà nước từ đất đai và bất động sản chiếm 50%-70% tổng thu. Sự ra đời và phát triển của loại hình thị trường này đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian qua bởi nó là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Việc phát triển thị trường bất động sản tạo ra những kích thích cho đầu tư vào đất đai, sự chuyển dịch năng động về lao động giữa các ngành, các vùng lãnh thổ; chuyển bất động sản thành tài sản tài chính để thu hút vào hoạt động các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế…. Và thị trường bất động sản thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua tình hình huy động nguồn vốn từ đất đai cho Ngân sách Nhà nước sẽ gián tiếp tác động tới nguồn vốn cho doanh nghiệp. Cụ thể trong thời gian qua, các khoản thu từ đất đai luôn là một nguồn thu ổn định và chiếm từ 8- 9,5% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước. Đó là chưa tính đến lệ phí trước bạ khi chuyển quyền sử dụng đất và các khoản thu gián tiếp thông qua góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất… cũng làm tăng các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước. Điều này được thể hiện số thu cho Ngân sách Nhà nước từ đất đai qua các năm như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU: HAI NGÔI NHÀ ĐƯỢC TẶNG CHO

VĂN ĐOÀN

Nhà ở từ hồi giải phóng nhưng phải trả lại cho người không ở một ngày nào. Phải xác lập quyền rồi mới được tặng cho.

Cuối năm 2008, bà H. kiện ông TH ra tòa để đòi lại hai căn nhà ở quận Bình Thạnh (TP.HCM). Bà H. cho rằng hai căn nhà trên là của bà T., hiện đang ở nước ngoài, cho bà.

Cả hai cùng được tặng nhà

Bà H. diễn giải, năm 1968, bà T. ủy quyền giao hai căn nhà này cho một người quen trông coi để bà này đi nước ngoài chữa bệnh. Sau đó thì người quen của bà T. cho ông TH vào ở nhờ. Khi giải phóng, người quen của bà T. cho ông TH tài sản trên.

Tuy nhiên, đến năm 2008, bà T. lại tặng hai căn nhà này cho bà. Sau đó, bà được UBND quận Bình Thạnh cấp giấy tờ nhà. Do vậy, bà kiện đòi ông TH phải trả lại nhà cho bà.

Bỗng dưng mất nhà, ông TH phản đối, cho rằng đúng là hai căn nhà trên trước đây là của bà T. Thế nhưng năm 1968, bà T. đã ủy quyền cho người quen được quyền mua bán, sang nhượng tài sản này. Vì vậy, người quen của bà T. đã cho ông nên không chấp nhận trả lại nhà.

Ông TH cho biết thêm, từ đó đến nay ông đã kê khai và ở trong hai ngôi nhà này mà không có tranh chấp gì. Ông có đủ điều kiện để được cấp giấy tờ nhà nhưng chưa làm vì chưa có tiền.

Người đang ở phải trả nhà

Cuối năm 2009, TAND TP.HCM xử sơ thẩm vụ án. Tại tòa, luật sư của ông TH cho rằng hai căn nhà mà ông TH đang ở là tài sản hợp pháp của ông bởi lẽ giấy cho nhận tài sản giữa ông và người quen của bà T. đã được chứng nhận hợp lệ tại thời điểm bấy giờ.

Continue reading

QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI: “CHỒNG” VÀ “TRỐNG”

GS. TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Khoảng “chồng” là chỗ đầy “hấp dẫn” nên nhiều người quản lý muốn “nhẩy vào” để “quy định” sao cho có lợi cho đối tượng nào đó mà người quản lý yêu mến; còn khoảng “trống” là chỗ “khó” nên có thể vì thế mà người quản lý không muốn “dính” vào, ngại đưa ra các quy định hoặc có thể vì khó mà cố ý trì hoãn để vẫn dùng quy định cũ cho có lợi cho đối tượng nào đó mà người quản lý yêu mến.

Tồn tại của vấn đề:

Bất kỳ một hệ thống quản lý nào cũng phải bắt đầu bằng các công cụ quản lý của Nhà nước để thiết lập hành lang pháp lý, tiếp theo là tổ chức hệ thống hành chính để thực hiện việc quản lý với nhiệm vụ là giữ trật tự cho mọi hoạt động thuộc phạm vi quản lý, dẫu có “ngược xuôi” gì thì cũng chỉ được thể hiện trong hành lang pháp lý đã định và nhiệm vụ là tác động bằng các chính sách của Nhà nước để mọi hoạt động thuộc phạm vi quản lý hướng theo chiều tạo hiệu quả cao.

Đến nay, quản lý Nhà nước về đất đai có 3 công cụ chủ yếu là pháp luật, quy hoạch và tài chính. Pháp luật về đất đai là một hệ thống các quy định để điều chỉnh việc sử dụng đất trong mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng và người sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất đai là việc xếp đặt mục đích sử dụng đất theo không gian và thời gian sao cho đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường trong mối quan hệ với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch mặt bằng xây dựng. Tài chính đất đai là hệ thống giá đất và thuế đất nhằm điều tiết lợi ích từ sử dụng đất giữa Nhà nước, cộng đồng và người sử dụng đất sao cho bảo đảm quyền lợi hợp lý của các bên. Hệ thống hành chính quản lý đất đai có nhiệm vụ buộc mọi người làm đúng pháp luật về đất đai, sử dụng đất đúng quy hoạch, thực hiện đúng các nghĩa vụ tài chính về đất đai, hướng dẫn đúng những trường hợp được ưu đãi và kiểm tra thường xuyên để ngăn chặn kịp thời các hành vi làm trái các quy định của pháp luật, quy hoạch và tài chính.

Continue reading