BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh Tòa Dân sự, TANDTC

Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó”.

Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và nhu cầu quản lý của nhà nước mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao dịch. Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là giao dịch đó có hiệu lực. Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc. Song có những loại giao dịch pháp luật bắt buộc hai bên phải thể hiện bằng văn bản và còn có trường hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ trong những trường hợp có quy định của pháp luật về loại giao dịch nào đó phải tuân theo những hình thức nhất định và hình thức đó là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì hình thức của giao dịch mới trở thành một điều kiện bắt buộc để giao dịch đó có hiệu lực.

Có hai cách hiểu khác nhau về quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự. Quan điểm thứ nhất nên cũng có ý kiến cho rằng khi pháp luật đã quy định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì khi các bên vi phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu. Trong trường hợp này nếu các bên không yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu về hình thức Toà án cũng có quyền tuyên bố giao dịch đó vô hiệu, có như vậy mới bảo đảm được yêu cầu quản lý của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật. Bởi chính khoản 2 Điều 124 đã quy định rõ là “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó”. Đây là một quy định mệnh lệnh dứt khoát, bắt buộc chứ không phải là một quy định tuỳ nghi. Hơn nữa Điều 127 Bộ luật Dân sự cũng quy định: “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”. Như vậy 3 điều kiện về nội dung là điều kiện cần và điều kiện về hình thức là điều kiện đủ để cho một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật. Do đó, không có lý do gì khi hợp đồng đã vi phạm điều kiện này mà Toà án phải chờ một bên hoặc các bên có yêu cầu mới tuyên bố hợp đồng vô hiêu, còn đương sự không có yêu cầu thì không xem xét là không hợp lý, không phù hợp với tinh thần, lời văn của điều luật.

Continue reading

VỀ THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ THỜI HẠN BẢO HIỂM

TS. PHẠM VĂN TUYẾT

1. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

Thời hạn hiểu theo nghĩa chung nhất là một khoảng thời gian nhất định được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Hay nói cách khác, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định bởi hai thời điểm là thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn. Thời hạn có thể do các bên xác thỏa thuận, có thể do pháp luật quy định. Thời hạn có hiệu lực của một hợp đồng bảo hiểm cũng tuân theo nguyên lý chung đó nên là một khoảng thời gian được xác định theo hai thời điểm sau:

– Thời điểm bắt đầu (là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm)

Thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với những người có quyền, nghĩa vụ từ hợp đồng đó. Càng quan trọng hơn đối với các hợp đồng bảo hiểm vì các rủi ro đối với người được bảo hiểm chỉ được coi là sự kiện bảo hiểm nếu rủi ro đó phát sinh sau thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói chung được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 405 như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Theo quy định này thì thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng dân sự được xác định theo một trong ba căn cứ: Theo thời điểm giao kết của hợp đồng, theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, theo quy định khác của pháp luật. Nguyên tắc để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phải theo thứ tự: Căn cứ vào thỏa thuận, trong trường hợp không có thoả thuận nhưng có quy định riêng của pháp luật thì căn cứ vào quy định riêng của pháp luật sau cùng, nếu không có thỏa thuận và cũng không có quy định riêng thì căn cứ vào thời điểm giao kết để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Hiện chưa có quy định riêng của pháp luật về việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nên đối với các hợp đồng bảo hiểm mà các bên không có thoả thuận khác về thời điểm có hiệu lực của nó thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm đó được xác định theo thời điểm giao kết của hợp đồng. Đối với hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản theo trình tự thông thường (không phải tuân theo trình tự mà pháp luật đã quy định) thì thời điểm giao kết của hợp đồng đó là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản1.

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN VỀ KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

TS. CHU HẢI THANH

Ngày 09/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 khóa X Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mới – đây là đạo luật thứ ba trong vòng 40 năm qua về lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta.

Điều mới dễ nhận thấy nhất là quy mô của đạo Luật Hôn nhân và gia đình lần này đã đạt mức độ hoàn chỉnh cao về dung lượng, nhắm tới việc đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong giai đọan phát triển mới của đất nước. So với 10 điều liên quan trong Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, 6 chương 35 điều của Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và 10 chương 57 điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 với 13 chương và 111 điều đã có bước tiến rất lớn, đạt tầm vóc của một bộ luật.

Nhưng việc đánh giá hiệu qủa và sự hoàn chỉnh của một văn bản pháp quy quan trọng không chỉ căn cứ vào số lượng điều khoản, mà vấn đề căn bản là phải xem xét những ưu điểm về nội dung mà văn bản đó thể hiện. Những ưu điểm như vậy trong Luật Hôn nhân và gia đình mới là rất nhiều.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng tôi xin chỉ đề cập một số điểm mới nổi trội trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc kết hôn nhằm góp phần quán triệt đầy đủ hơn nội dung của nó.

Về căn bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn giữ quy định về 3 điều kiện tối thiểu phải có để được phép kết hôn vốn đã định hình và mang tính truyền thống trong hai đạo Luật Hôn nhân và gia đình trước đây là độ tuổi, sự tự nguyện của nam nữ và thủ tục đăng ký việc kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Điều 9 và Điều 11).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 451/TCT-TNCN NGÀY 8 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ – BỘ TÀI CHÍNH VỀ QUYẾT TOÁN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Kính gửi:

Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Năm 2009 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN), có nhiều nội dung mới, phương pháp quản lý thuế nói chung và quyết toán thuế nói riêng cũng có sửa đổi, bổ sung.

Năm 2009 cũng là năm Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 hướng dẫn việc miễn thuế TNCN theo Nghị quyết số 32/2009/QH12 của Quốc hội. Theo đó, một số khoản thu nhập được miễn thuế TNCN; các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (sau đây gọi chung là đơn vị chi trả thu nhập) và cá nhân có thu nhập khi quyết toán thuế năm 2009 không phải kê khai đối với các khoản thu nhập được miễn này.

Để việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 được thực hiện theo đúng quy định của Luật thuế TNCN, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNCN, và các văn bản hướng dẫn thi hành của Bộ Tài chính; Tổng cục Thuế hướng dẫn việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN VÀ HỒ SƠ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN:

1. Đối tượng phải quyết toán thuế TNCN:

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính thì các đối tượng phải quyết toán thuế TNCN bao gồm:

– Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập;

– Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ, tạm nộp; hoặc cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau;

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 20/2010/TT-BTC NGÀY 5 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế TNCN, Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về thuế TNCN như sau:

Điều 1. Sửa đổi một số mẫu tờ khai, bảng kê và văn bản kê khai thuế TNCN như sau (Danh mục kèm theo Thông tư này):

1. Tờ khai khấu trừ thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện theo mẫu số 02/KK-TNCN, Tờ khai khấu trừ thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng chứng khoán, từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, từ trúng thưởng cho cá nhân và trả thu nhập từ kinh doanh cho cá nhân không cư trú thực hiện theo mẫu số 03/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này, thay thế cho các mẫu số 02/KK-TNCN, mẫu số 03/KK-TNCN và mẫu số 04/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN (sau đây gọi tắt là Thông tư số 84/2008/TT-BTC)

2. Tờ khai quyết toán thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho cá nhân thực hiện theo mẫu số 05/KK-TNCN, và các Bảng kê (mẫu số 05A/BK-TNCN, mẫu số 05B/BK-TNCN) ban hành theo Thông tư này, thay thế cho các mẫu số 05/KK-TNCN, mẫu số 05A/BK-TNCN và mẫu số 05B/BK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

Continue reading

SỬ DỤNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN LÀM PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỂ ĐẢM BẢO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH  – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Khi nắm vững được chương trình môn học, nắm vững các yêu cầu kỹ thuật của việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm (CHTN) thì có thể xây dựng ngân hàng CHTN. Từ ngân hàng CHTN ta soạn thảo được các đề kiểm tra, thi vừa đáp ứng được yêu cầu làm tăng tính khách quan, chính xác, tin cậy trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên, vừa như là phương tiện góp phần cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học ở Đại học.

1. Đặt vấn đề

Ngân hàng CHTN khách quan là một hệ thống các CHTN và đáp án được soạn thảo cẩn thận, đúng kỹ thuật. Vìệc soạn thảo các CHTN tốn nhiều công sức, sau một thời gian các giảng viên (GV) đã soạn được một số lớn các CHTN cùng với đáp án dùng để làm nguồn soạn các đề kiểm tra, thi ở lớp. Một số lớn các CHTN và đáp án tạo thành một ngân hàng CHTN. Các CHTN này đã được mã hoá theo chương, mục cũng như mức độ nhận thức cần kiểm tra đánh giá (KTĐG). Nó sẽ là một phương tiện để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên và quản lý chất lượng đào tạo ở đại học hiện nay.

2. Nội dung

Để sử dụng được ngân hàng CHTN có hiệu quả, nên theo qui trình sau:

2.1. Qui trình sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Trước tiên là xác định các mức độ nhận thức cần KTĐG. Do mục đích của bài kiểm tra, thi có những yêu cầu cụ thể, đảm bảo tính thiết thực, khả thi trong thực tế dạy học chúng ta phân tích các chương theo 4 mức độ của mục tiêu nhận thức của B.J.Bloom là: ‘Nhận biết – Thông hiểu – Vận dụng và Tổng hợp". Sau khi phân tích chương trình thành các nội dung cần giảng dạy dựa trên đề cương môn học đã công bố và các mức độ cần KTĐG của chương trình, người ta lập bảng đặc trưng phân bố các CHTN theo hai chiều, một chiều là các nội dung giảng dạy, một chiều còn lại là các mức độ nhận thức đòi hỏi SV phải đạt được, số lượng CHTN phụ thuộc vào số tiết của mỗi chương. Qui trình này gồm 5 bước sau đây:

Continue reading

QUẢN LÝ RỦI RO HỐI ĐOÁI GIAO DỊCH TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ

VÕ THỊ THÚY ANH – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Bài báo này trình bày các chiến lược quản lý rủi ro hối đoái giao dịch trong kinh doanh quốc tế như chiến lược kỹ thuật hoạt động, chiến lược hợp đồng tài chính, cách thức vận dụng các chiến lược này cũng như đánh giá ưu, nhược điểm của từng chiến lược. Hơn nữa, bài báo nêu rõ rằng doanh nghiệp nên tự bảo vệ mình khỏi rủi ro hối đoái giao dịch trong kinh doanh quốc tế thông qua bảo hiểm khi thị trường tài chính không hoàn hảo hay khi tỷ giá hối đoái (TGHĐ) biến động lớn. Nếu thực hiện bảo hiểm, đầu tư kết hợp quyền chọn hay quyền chọn là công cụ tài chính tốt nhất, hợp đồng kỳ hạn là sự lựa chọn tốt thứ hai của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Rủi ro hối đoái giao dịch (transaction exposure) (từ đây được gọi là rủi ro giao dịch: RRGD) là một vấn đề mà các doanh nghiệp (DN) luôn phải đối đầu trong kinh doanh quốc tế. RRGD xảy ra khi DN có dòng tiền mặt ràng buộc bằng hợp đồng (contractual cash flow) được định giá bằng ngoại tệ.

Để quản lý RRGD trong kinh doanh quốc tế, DN có thể tìm cách đẩy các rủi ro này cho đối tác thông qua các kỹ thuật hoạt động (operational techniques) hoặc tạo ra trạng thái đóng bằng ngoại tệ cho doanh nghiệp bằng các hợp đồng tài chính (financial contracts).

Nội dung chính của bài báo là hệ thống hóa các biện pháp biện pháp quản lý RRGD trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Mặt khác, bài báo cũng giải quyết câu hỏi: DN có nên bảo hiểm RRGD hay không? Nếu có thì nên sử dụng biện pháp nào? Cuối cùng, bài báo chỉ ra những định hướng nghiên cứu trong tương lai về vấn đề RRGD.

2. Các biện pháp quản lý RRGD

Để quản lý RRGD, các hợp đồng tài chính mà các doanh nghiệp thường sử dụng là hợp đồng kỳ hạn (forward), quyền chọn (option), hoán đổi (swap) và hợp đồng tín dụng. Các kỹ thuật hoạt động có thể sử dụng là lựa chọn tiền tệ để ghi hóa đơn, netting và chiến lược lead/lag.

Continue reading