LUẬT ĐẤT ĐAI – HAI VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

PHẠM QUANG LÊ

Một lần nữa, Luật Đất đai – một đạo luật rất quan trọng – lại được đưa ra xem xét để sửa đổi, bổ sung (Tác giả viết bài này trước thời điểm Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, tuy nhiên tính thời sự của nó vẫn còn trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003 – Civillawinfor). Đó là điều mọi người đang mong đợi trước những hạn chế, bất cập của  khung pháp lý hiện hành và những vướng mắc hàng ngày trong công tác quản lý, sử dụng đất đai đang diễn ra.

Đã có nhiều ý kiến đóng góp vào nội dung cụ thể của Dự luật, ở đây chỉ xin đề cập đến cách tiếp cận với mong muốn làm rõ thêm một số vấn đề cốt yếu.

Đã có bước tiến rất quan trọng, nhưng…

Từ khi mở ra công cuộc Đổi Mới, đã từng có những nỗ lực đột phá vào vấn đề nhạy cảm và phức tạp này với những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình hình đang tiếp tục diễn biến phức tạp, nóng bỏng. Đúng là, như có người đã nói trong một cuộc hội thảo, đất đai đang tạo ra “3 cái nhất” là: lợi nhuận “siêu” nhất; tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng nhất; khiếu kiện nhiều nhất và “3 cái mất” là: mất của, mất cán bộ, mất kỷ cương. Hóa giải thực trạng đó đang là bài toán làm “đau đầu” các nhà lãnh đạo, quản lý và những người quan tâm. Để thấy rõ hơn các bước tiến đã đạt được và những hạn chế tồn tại, có lẽ nên thử nhìn lại đôi nét chính của đoạn đường đã qua.

Đầu tiên phải kể đến bước đột phá “khoán hộ” trong nông nghiệp. Nhờ cơ chế này, sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, năng suất lúa tăng vọt qua “cửa ải 5 tấn/ha”, góp phần quan trọng đưa cả nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội gay gắt lúc đó và biến nước ta thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba rồi thứ 2 thế giới. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 1987 hầu như chưa có gì mới (phải đến năm 1992  nhiều quan điểm mới về đất đai mới được Hiến pháp ghi nhận). Có thể thấy ở đây một điển hình của hiện tượng Chính sách đi thẳng vào cuộc sống và tạo nên kỳ tích thật giản dị, không cần nhiều văn bản dài dòng, tổ chức cồng kềnh, khiếu kiện cũng rất ít. Đó là khi người ban bố chính sách và người chấp hành chính sách về cơ bản nhất trí với nhau: Đất đai là tư liệu sản xuất nông nghiệp, phải tranh thủ sử dụng tư liệu này cho tốt để mưu cầu no ấm cho mình và cho đồng bào. Ngoài ra không còn cách nhìn nào khác, mà có “nhìn” khác thì cũng chưa có điều kiện làm khác: chúng ta vừa ra khỏi một cơ chế làm nghèo kiệt, chưa ai có điều kiện dùng đất để làm giàu nhanh chóng nên ít ai ham hố.

Continue reading

VẤN ĐỀ SỞ HỮU: HIỆN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Cơ chế thị trường ở Việt Nam mới bắt đầu được nhận thức và áp dụng từ gần 20 năm qua. Hiến Pháp 1992 khẳng định: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN". Đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10, năm 2006 viết gọn lại là: mô hình "nền kinh tế thị trường định hướng XHCN".

Cơ chế thị trường chỉ là phương tiện để vận hành nền kinh tế thị trường dựa vào những quy luật lợi ích khách quan của nó. Bản thân cơ chế thị trường không phải là một mô hình kinh tế, đó chỉ là cách thức phân phối lợi ích dựa theo các quy luật kinh tế khách quan. Cơ chế thị trường có thể giống nhau ở các nước khác nhau, nhưng việc vận dụng nó trong nền kinh tế thị trường ở mỗi nước có thể khác nhau do những đặc trưng riêng về thể chế chính trị và mô hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia. Một số trong những nhân tố tạo nên sự khác biệt căn bản nói trên là nhận thức 2 vấn đề: Vấn đề sở hữu và vấn đề thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

Lý luận và thực tiền về sở hữu:

Thứ nhất, bản chất của quan hệ sở hữu là quyền sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX) là quan hệ giữa người với người về mặt chiếm hữu TLSX. Đây là quan hệ khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, quan hệ đó thể hiện ở cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng);

Thứ hai, chế độ sở hữu là sự pháp lý hoá các quan hệ sở hữu thành các quyền như: quyền định đoạt, quyền sử dụng, quyền quản lý sản xuất kinh doanh, quyền thực hiện các lợi ích kinh tế. Tương ứng với các phương thức sản xuất khác nhau có thể có các loại hình sở hữu phổ biến khác nhau. Cho đến nay, thế giới đã có 3 hình thức sở hữu chính: sở hữu xã hội, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp;

Continue reading

NÊN GIỚI HẠN THỜI GIAN KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN

XUÂN VIỄN

Pháp luật về cư trú của công dân là quy định bắt buộc và cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của cơ quan công an. Liên quan đến vấn đề này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật có liên quan đến việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, cư trú của công dân đều chưa có quy định cụ thể về giới hạn thời gian kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định tại điều 46 của Bộ Luật dân sự và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Tổ chức, cá nhân muốn vào chỗ ở của người khác thì phải có sự đồng ý của người đó. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của người khác và phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Theo Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 thì cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân có thẩm quyền quản lý vấn đề liên quan đến cư trú tại địa bàn đảm nhận. Như vậy, căn cứ theo quy định hiện hành, cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân cấp phường, thị trấn, trưởng công an xã có thẩm quyền kiểm tra trực tiếp việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, tổ chức thuộc địa bàn quản lý theo thời gian định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu của công tác phòng chống tội phạm. Có nghĩa là pháp luật không giới hạn về thời gian kiểm tra, cơ quan chức năng có thể kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của công dân bất cứ lúc nào. Trong thực tế, cũng có  những đợt kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành vào đêm khuya, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt người dân.

Nếu chỉ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú liên quan đến vấn đề đăng ký thường trú, tạm trú thì cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định (có thể quy định trước 22 giờ). Trong trường hợp liên quan đến yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hoặc những trường hợp đặc biệt khác pháp luật mới không giới hạn về thời gian. Hiện nay, việc kiểm tra chấp hành pháp luật về cư trú vào bất kỳ thời điểm nào như quy định hiện hành là chưa hợp lý. Nên quy định một số trường hợp "đặc biệt" mới giao thẩm quyền kiểm tra bất kỳ cho các cá nhân, tổ chức.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG: ĐẠO LÝ, PHÁP LÝ VÀ . . . NHỮNG ĐIỀU VÔ LÝ

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Sức sản xuất xã hội do hai yếu tố quyết định đó là: Công cụ sản xuất và lao động. Lao động chính là con người, là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là đạo lý và là phần rất quan trọng trong quy định pháp lý của tất cả các quốc gia trên thế giới.

ĐẠO LÝ

Con người là vốn quý nhất của mọi xã hội. Vì vậy, con người phải luôn luôn được bảo vệ. Mục tiêu tối thượng của mọi xã hội là bảo vệ quyền được sống, được lao động và được hưởng thụ lành mạnh của con người. Song, do những hoàn cảnh khác nhau về tố chất, hoàn cảnh sống của từng người, do sự phát triển không đều của nền kinh tế, xã hội loài người lại phân hoá thành kẻ giàu, người nghèo. Một bộ phận nắm giữ của cải xã hội và các tư liệu sản xuất, đó là những người chủ. Một bộ phận khác chỉ có sức lao động, phải đi bán sức lao động để kiếm sống – đó là những lao động làm thuê. Trong hai bộ phận ấy, những người lao động làm thuê ở thế yếu hơn. Vì vậy, họ cần được bảo vệ thường xuyên hơn, đầy đủ hơn. Đó là đạo lý tất yếu ở bất kỳ xã hội nào.
Xuất phát từ đạo lý chung, tất yếu đã nêu, pháp luật của các quốc gia đều tập trung bảo vệ người lao động làm thuê. Nghiên cứu Luật Lao động của các nước phát triển như Singapore, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật… cho thấy, bằng đạo luật của mình, quốc gia nào cũng bảo vệ người lao động làm thuê từ quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, đến tiền công và chế độ cho người lao động khi đau ốm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, v.v…

Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng phải đặt ra nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi người lao động. Nếu không thực hiện nhiệm vụ quan trọng ấy, nhà nước đó tất yếu sẽ không tồn tại vì sẽ không được một bộ phận đông đảo nhất trong nhân dân ở quốc gia đó ủng hộ.

Continue reading

MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tư tưởng nổi bật của Nghị quyết là phải tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ công tác thi hành án ở Việt Nam. Điều này được thể hiện thông qua bốn nội dung cơ bản, bao gồm: một là, xây dựng Bộ luật Thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực về thi hành án; hai là, xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; ba là, chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp; bốn là, từng bước xã hội hoá các hoạt động thi hành án.

Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là những nội dung đổi mới này được xây dựng và thực hiện dựa trên một mô hình tổ chức thi hành án như thế nào, hệ thống các cơ quan quản lý thi hành án của Việt Nam được sắp xếp và tổ chức lại như thế nào để đáp ứng yêu cầu của các nội dung cải cách đó, kinh nghiệm về mô hình tổ chức thi hành án của các nước trong khu vực và trên thế giới ra sao,…? Có thể nói, về mặt thực tiễn, đây là những vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên việc nghiên cứu, khảo cứu kinh nghiệm pháp luật, thực tiễn thi hành án của các nước trên thế giới, đặc biệt về các mô hình thi hành án là rất cần thiết hiện nay. Từ đó tổng kết, đúc rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế quý báu để lựa chọn cho Việt Nam một mô hình tổ chức thi hành án thích hợp, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả công tác thi hành án trong thời gian tới. Phạm vi bài viết này đề cập đến mô hình tổ chức thi hành án của một số nước trên thế giới:

1. Tại Cộng hoà Pháp

Cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự đều tập trung ở Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý.

Thi hành các bản án, quyết định về dân sự do các văn phòng hoặc công ty Thừa phát lại thực hiện mà trực tiếp là các Thừa phát lại. Các văn phòng, công ty Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo mô hình của các công ty thương mại. Tư cách Thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp vừa là một nghề tự do, có tư cách hoạt động độc lập. Điều đáng lưu ý là họ hoạt động bằng nguồn kinh phí, thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả mà Nhà nước không phải mất một khoản tài chính nào chi trả lương cho họ, thậm chí nhờ hoạt động của các văn phòng, công ty Thừa phát lại mà nhà nước thu được một khoản tài chính thông qua việc đánh thuế. Điều đáng lưu ý nữa là Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết.

Continue reading

CỤ THỂ HÓA QUAN ĐIỂM VỀ TẬP QUÁN PHÁP THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 48 – NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong nhiều năm qua, mặc dù đã tích cực đổi mới, nhưng pháp luật Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập trong việc thực hiện ba nhiệm vụ lớn: (1) thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng; (2) phản ánh trung thành các lợi ích của nhân dân và tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa; và (3) bảo đảm cho hoạt động quản lý của Nhà nước, mà Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội X của Đảng đã nêu. Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị có nhận định tổng quát như sau:

“…nhìn chung, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống”. Vì thế Nghị quyết đã nói rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp và vấn đề tổ chức thực hiện “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Trong rất nhiều các vấn đề pháp lý được Nghị quyết đề cập, tập quán pháp là một trọng đề được nêu ra với các quan điểm có tính nguyên tắc. Có lẽ, việc coi tập quán là một nguồn của pháp luật làm cho pháp luật gần dân hơn và dễ đi vào cuộc sống hơn.

1. Quan điểm về tập quán pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị

Khi nói tới pháp luật về sở hữu và tự do kinh doanh, Nghị quyết đã chỉ rõ: “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”. Qua đây có thể thấy, việc đề cao tự do ý chí trong lĩnh vực luật tư được thể hiện dưới hình thức tôn trọng sự thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, nguyên tắc tự do ý chí cần bị hạn chế để bảo vệ các lợi ích chính đáng của cộng đồng thông qua việc vô hiệu hóa các hợp đồng chống lại trật tự công cộng, đạo đức xã hội và bảo đảm sự bình ổn của các quan hệ xã hội thông qua việc sử dụng tập quán, cũng như thông lệ quốc tế điều tiết quan hệ hợp đồng. Gắn liền với việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế là tiến trình hội nhập quốc tế. Do đó việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế và điều ước quốc tế cũng được Nghị quyết nêu ra1.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: “TRÔNG GIỮ” THÀNH … BÁN

LƯU NGUYỄN

Một miếng đất nhưng mỗi lần xử thì tòa lại giao cho một người khác nhau. Gần 20 năm trước, bà Hoa được cha mẹ để lại cho một miếng đất hơn 2 ha ở tỉnh Tiền Giang. Ít lâu sau bà sang Úc sinh sống nên giao đất lại cho vợ chồng con gái quản lý, sử dụng.

Đất của cha mẹ

Nhưng rồi vợ chồng con gái này cũng theo chân mẹ ra nước ngoài nên đành nhờ ông Thanh ở lại coi sóc với điều kiện chỉ “trông coi quản lý, đóng thuế cho nhà nước, không được qua bộ, đứng tên hay bán cho bất kỳ ai…”.

Ba năm sau, vợ chồng con gái bà Hoa lại lập tờ “hủy bỏ ủy quyền” quản lý đất với ông Thanh với lý do ông này không làm tròn nhiệm vụ quản lý đất (!?).

Chuyện không có gì ầm ĩ khi năm 2005, bà Hoa cùng vợ chồng con gái lập văn bản khước từ tài sản trên rồi ủy quyền em gái của bà Hoa toàn quyền định đoạt. Bà đã đi đăng ký và được cấp chủ quyền. Sau đó, thấy người em bán bớt đất nên bà Hoa và vợ chồng con gái đã khởi kiện đòi lại đất.

Là của người em

Xử sơ thẩm lần đầu, TAND tỉnh Tiền Giang nhận định, bà Hoa và vợ chồng con gái đã khước từ tài sản tại Việt Nam nên tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoa. Hiện nay, em của bà Hoa đã có giấy tờ hợp pháp nên được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng mảnh đất này.

Các đương sự lập tức kháng cáo. Lúc này ông Thanh nhảy ra khiếu nại rằng đất trên con rể bà Hoa đã bán cho mình vào năm 2000 nên ông phải được tham gia tố tụng chứ nếu không sẽ bị thiệt thòi. Vì có sự xuất hiện đột ngột của ông Thanh và một số chứng cứ cần làm rõ nên Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã tuyên hủy án để TAND tỉnh Tiền Giang xét xử lại.

Continue reading