TẢM MẠN NGÀY TẾT: TỪ “ĂN” ĐẾN … “ĂN TẾT” – SỰ THÚ VỊ CỦA NGÔN TỪ TIẾNG VIỆT

212 VĂN TÌNH

Ăn là câu chuyện của muôn thuở. Từ cổ chí kim, hỏi có ai không ăn mà sống được? Tết nhất hội hè, người ta thường hay tổ chức ăn uống linh đình, đó cũng là chuyện đương nhiên. Ở đây, chúng ta không có ý lạm bàn về chuyện ẩm thực (ẩm: uống, thực: ăn) mà muốn bàn về một vấn đề liên quan tới ngôn ngữ. Đó là ngữ nghĩa của tổ hợp từ "ăn Tết".

Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên) đã thống kê tới 159 tổ hợp có từ ăn đứng đầu. Dĩ nhiên, các từ này phải có nghĩa xuất phát, nghĩa cơ bản của ăn, được giải thích là “tự cho vào cơ thể thức nuôi sống”.

Ăn cơm, ăn cháo, ăn cám, ăn cỏ, ăn ráy, ăn khoai,… là ăn các thức ăn cụ thể. Ăn sáng, ăn trưa, ăn tiệc, ăn cỗ, ăn sam,. .. nói về việc ăn trong các thời điểm và nghi thức, kiểu cách khác nhau. Ăn bớt, ăn bẩn, ăn chặn, ăn cắp,… là các lối “ăn” được coi là xấu, liên quan tới tư cách, phẩm chất của người ăn,… Miếng ăn quá khẩu thành tàn(tục ngữ) mà!

Tuy nhiên, có một loạt tổ hợp ăn mà nghĩa chung của nó lại được thay đổi lệch sang thành tố sau. Ví dụ:

ăn chia: chia phần (giữa những người, những bên cùng tham gia một công việc nào đó). Tụi mình đã làm ăn với nhau trước hết ăn chia phải sòng phẳng; ăn cho đều kêu cho sòng (tục ngữ).

ăn chơi: chơi bời, tiêu khiển bằng các thú vui vật chất (và tinh thần). Tay ấy được coi là kẻ ăn chơi bậc nhất, sẵn sàng ném tiền qua cửa sổ.

Continue reading

QUYỀN TỰ CHỦ QUỐC GIA VÀ CHUẨN QUỐC TẾ TRONG KINH TẾ

ĐỖ TUYẾT KHANH

Trong những lời buộc tội toàn cầu hóa, có một luận điểm thường được đưa ra, đáng ngạc nhiên là xuất phát từ những khuynh hướng chính trị rất khác nhau nếu không muốn nói đối nghịch: từ tả sang hữu, các phong trào đối kháng thường tố cáo rằng toàn cầu hoá xâm phạm chủ quyền của các quốc gia, thậm chí đe dọa sự sống còn của các nhà nước dân tộc (nation states).

Đối với phía tả, toàn cầu hoá đồng nghĩa với chủ nghĩa tự do cực đoan trong kinh tế (ultra-liberalism). Trước sự bành trướng và sức mạnh khổng lồ của các đại công ty đa quốc gia, các nhà nước phải giới hạn lại vai trò và phạm vi hoạt động của mình và càng yếu thế hơn nữa khi phải tuân thủ các quyết định ràng buộc của các tổ chức quốc tế được coi như vừa là công cụ vừa là hiện thân của chủ nghĩa tự do cực đoan này như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO).

Theo phái hữu, nhất là ở Mỹ, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm khi luật quốc tế không cho phép nhà nước bảo vệ quyền lợi các thành phần dân chúng qua các chính sách hành chính hay pháp chế. Thí dụ mất chủ quyền hay được đơn cử nhất là việc chính quyền Mỹ không được dùng đến các biện pháp đơn phương quen thuộc để o ép các nước khác vì như thế vi phạm các quy định của WTO, hoặc phải chấp hành các quyết định của bộ phận giải quyết tranh chấp của WTO sau các vụ kiện.

Điều rõ ràng là toàn cầu hoá đã đi kèm với sự xuất hiện của nhiều yếu tố mới, như Internet và những công nghệ tiên tiến, thay đổi cục diện và mối tương quan giữa các tác nhân : chính quyền, tổ chức quốc tế, doanh nhân, và xã hội công dân. Trong bối cảnh đó, vai trò của các nhà nước dân tộc đã thay đổi thế nào, chủ quyền quốc gia trong kinh tế có thật sự bị thương tổn không và cho đến mức độ nào? Ở đây cần phân biệt chủ quyền (sovereignty) và quyền tự chủ (autonomy), tuy trong công luận và sách vở chỉ thường dùng chữ chủ quyền để nói đến quyền tự chủ. Sự lẫn lộn dễ hiểu vì thật ra hai cụm từ này chỉ là hai mặt của một vấn đề: chủ quyền là một khái niệm pháp lý, de jure, và qưyền tự chủ là biểu hiện thực tiễn, de facto, của khái niệm ấy. Do đó chữ chủ quyền thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả hai mặt này. Nếu theo định nghĩa hẹp, như trong công pháp quốc tế, chủ quyền là quyền lực tối cao ban hành và áp dụng các luật lệ và chính sách, cai quản mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một nước, thì có thể nói không nơi nào chủ quyền bị sứt mẻ, kể cả trong những nước thành viên của Liên hiệp châu Âu, vì chưa có hệ thống nào thay thế, ở mức quốc gia, các nhà nước trong chức năng ấy. Nhưng các nhà nước có thật sự chủ động tới đâu trong việc chọn lựa chính sách và các luật lệ và biện pháp thi hành lại là chuyện khác. Quyền tự chủ ấy bị giới hạn bởi nhiều ràng buộc và cản trở, ở mức độ quốc gia và quốc tế, do nhiều yếu tố, chủ yếu là tình hình kinh tế và chính trị thế giới, tương quan lực lượng giữa các nước, và hệ thống pháp lý quốc tế.

Continue reading

LƯƠNG CÔNG CHỨC VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

TÂY GIANG

Ngày càng có nhiều công chức bỏ việc trong các cơ quan nhà nước để làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nguyên nhân chính là lương thấp nhưng bên cạnh đó còn là những câu chuyện khác.

Bỏ công chức vì lương?

Báo cáo mới đây từ hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ cho thấy chỉ trong giai đoạn 2003 – 2007 đã có tới 16.000 cán bộ công chức tự nguyện ra khỏi các cơ quan công quyền. Tỷ lệ này đặc biệt cao ở thị trường lao động sôi động nhất cả nước là TP.HCM, khoảng 40%, tương đương với khoảng 6.500 người. Trong hai năm trở lại đây tuy chưa thống kê nhưng có nhiều quan chức đã tự nguyện rời bỏ cơ quan công quyền gây xôn xao dư luận như ông Lương Văn Lý, phó giám đốc sở Kế hoạch và đầu tư TP.HCM, ông Kiều Hữu Dũng, vụ trưởng vụ Các ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng thuộc ngân hàng Nhà nước…

Tại một cuộc khảo sát được thực hiện với 460 công chức thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ Thuỷ sản (cũ), tỉnh Nam Định và Hoà Bình thì có tới 50% công chức trả lời lý do chính để họ có thể bỏ việc là lương. Tuy nhiên thực tế có thể không hoàn toàn như vậy.

Hiện tại hệ thống lương thưởng và trợ cấp của cán bộ công chức rất phức tạp. Phần lương chính được tính theo lương tối thiểu nhân với hệ số. Trong những năm gần đây lương tối thiểu được nâng hàng năm và hệ thống thang bảng lương đã được điều chỉnh. Tuy vậy, theo kết quả nghiên cứu do Ban nghiên cứu của Thủ tướng thực hiện cách đây mấy năm cho thấy lương chỉ chiếm khoảng 30% thu nhập trung bình của cán bộ công chức.

Continue reading