BÀN VỀ “QUYỀN NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ” QUI ĐỊNH TẠI ĐIỀU 243 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN VĂN DŨNG – Học Viện Tư Pháp

Chế định “đại diện” được quy định tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết trong Bộ luật dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo những quy định này, trong quan hệ dân sự và tố tụng dân sự có “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo ủy quyền”- được gọi chung là người đại diện hoặc người đại diện hợp pháp. Quyền và nghĩa vụ của người “đại diện theo pháp luật” và “đại diện theo ủy quyền” không phải trong mọi trường hợp đều như nhau và giống nhau. Khi đặt trong tổng thể chung, có những quy định pháp luật gây nhầm lẫn hoặc gây tranh luận về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng. Quy định: “người đại diện của đương sự” tại Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự là một quy định như vậy.

Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.” Theo quy định này, có 3 đối tượng được quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm bao gồm, Đương sự; Người đại diện của đương sự; Cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án. Với hai đối tượng: đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo là chính xác, đúng quy định pháp luật và không cần bàn cãi. Bài viết này bàn về quy định người đại diện của đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án…

1. Những quy định của pháp luật về đại diện và về ủy quyền

a. Quy định pháp luật về đại diện.

Điều 139 Chương VII Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“ Điều 139. Đại diện.

1. Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

2…..

3. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.”.

Theo quy định này, người đại diện luôn nhân danh (người khác) và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Continue reading

HÒA GIẢI TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI CƠ SỞ – TỪ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐẾN THỰC TIỄN ÁP DỤNG

THS. VŨ THỊ THU HIỀN

Xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động quan hệ thoả thuận, bình đẳng. Khi một tranh chấp lao động phát sinh, trước hết các bên phải tự thương lượng trực tiếp với nhau tại nơi phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp hai bên không tự thương lượng được hoặc một bên từ chối thương lượng thì một hoặc hai bên có quyền đưa vụ tranh chấp ra hòa giải tại cơ sở. Chỉ khi hòa giải tại cơ sở không thành (hoặc sự việc không được chủ thể có thẩm quyền hòa giải tiến hành hòa giải trong thời hạn quy định) thì các bên tranh chấp mới có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết, trừ một số tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ luật lao động (BLLĐ).

Thẩm quyền hòa giải các tranh chấp lao động tại cơ sở thuộc về Hội đồng hoà giải lao động cơ sở (Hội đồng hòa giải) hoặc Hoà giải viên lao động cấp huyện (Hòa giải viên). Điều đó tuỳ thuộc quan hệ pháp luật có tranh chấp và việc ở doanh nghiệp có tổ chức công đoàn cơ sở hay không.

Hội đồng hòa giải được thành lập trong những doanh nghiệp có công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời gồm số đại diện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao động (khoản 1 Điều 163 BLLĐ). Hội đồng hòa giải có nhiệm vụ “giải quyết tất cả các vụ tranh chấp lao động tập thể và tranh chấp lao động cá nhân (kể cả các tranh chấp về sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bồi thường thiệt hại khi đương sự yêu cầu) xảy ra tại doanh nghiệp” (điểm 1 mục III Thông tư 10/LĐTBXH – TT ngày 25/3/1997 của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động của Hội đồng hòa giải cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thành phố, thị xã, thị trấn thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).

Hòa giải viên tiến hành việc hoà giải đối với các tranh chấp lao động cá nhân xảy ra ở nơi chưa thành lập Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề (khoản 1 Điều 165 BLLĐ). Việc quy định Hòa giải viên có thẩm quyền hoà giải những tranh chấp lao động cá nhân ở nơi chưa thành lập Hội đồng hòa giải đảm bảo cho mọi tranh chấp lao động xảy ra tại doanh nghiệp đều được hoà giải nếu các bên có yêu cầu.

Continue reading

TRUNG MUA, TRƯNG DỤNG: KHÁI NIỆM VÀ ĐIỀU KIỆN

PGS.TS. PHAN TRUNG LÝ – Phó chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội

Kỳ họp thứ hai (tháng 11/2007) Quốc hội khoá XII đã thảo luận cho ý kiến về dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (Tác giả viết bài này trước thời điểm Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 được ban hành – Civillawinfor). Nhiều vấn đề thuộc nội dung của luật này đã được cơ quan soạn thảo trình Quốc hội. Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện dự thảo trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp tới. Luật Trưng mua, trưng dụng là văn bản pháp luật rất quan trọng.

Những quy định của luật này điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền tài sản của tổ chức và cá nhân. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến khái niệm trưng mua, trưng dụng và điều kiện trưng mua, trưng dụng cũng như việc xử lý đối với các quy định hiện hành liên quan đến vấn đề này.

1. Khái niệm trưng mua, trưng dụng

1.1 Khái niệm trưng mua, trưng dụng đã được quy định từ rất sớm trong các văn bản pháp luật nước ta. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định: “trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam, các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền: trưng dụng bất động sản; trưng thu hoặc trưng dụng động sản”[1].

Các Hiến pháp nước ta ở các thời kỳ đều quy định trưng mua, trưng dụng là một biện pháp cấp thiết để xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Continue reading

ĐẠO LUẬT THIẾU CHẾ TÀI – BÀN VỀ MỘT THÔNG LỆ XÂY DỰNG LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG -  Viện Khoa học pháp lý,  Bộ Tư pháp

1. Nhận diện một thông lệ

Thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta, trong những năm qua, công tác xây dựng pháp luật nói chung và ban hành các đạo luật nói riêng được đặc biệt tăng cường. Nếu như trước năm 1986, trong mỗi khoá Quốc hội chỉ một vài đạo luật được ban hành, thì kể từ khi đất nước tiến hành đường lối đổi mới, số lượng luật, bộ luật được Quốc hội thông qua tăng lên đáng kể. Chẳng hạn, chỉ tính riêng Quốc hội khoá X (nhiệm kỳ 1997-2002), Quốc hội đã ban hành được gần 40 luật, bộ luật. Trong khoá Quốc hội đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành được hơn 40 pháp lệnh. Quốc hội khoá XI (nhiệm kỳ 2002-2007) đã ban hành được hơn 80 luật, bộ luật (gấp đôi số lượng đạo luật được Quốc hội khoá X ban hành). Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá XI cũng ban hành được hơn 30 pháp lệnh.

Nếu rà soát kỹ các đạo luật hoặc pháp lệnh được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành trong thời gian qua, có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm cơ bản là số lượng các đạo luật có quy định các biện pháp chế tài đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định pháp luật thường chỉ được khu biệt vào một số đạo luật hoặc pháp lệnh[1]. Cụ thể:

Chế tài về dân sự (buộc bồi thường thiệt hại, buộc chấm dứt thực hiện hành vi nhất định hoặc buộc phải thực hiện những hành vi nhất định, phạt vi phạm nghĩa vụ dân sự v.v..) được tập trung quy định trong Bộ luật Dân sự[2]. Riêng chế tài dân sự đối với các hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được quy định trong Luật Thương mại[3].

Chế tài lao động (hoặc chế tài kỷ luật) được quy định tập trung trong Bộ luật Lao động năm 1994[4] với các hình thức như cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, buộc thôi việc v.v.. Riêng chế tài lao động áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước còn được quy định trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức.

Continue reading

ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

Chế định tài sản và quyền sở hữu là một trong những chế định hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự, nên bất kỳ BLDS nào, chế định tài sản và quyền sở hữu cũng chiếm vị trí trọng tâm. Trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, chế định tài sản và quyền sở hữu đều được quy định ở phần thứ 2 gồm 7 chương, trong đó BLDS năm 1995 có 113 điều (từ Điều 172 đến Điều 284), BLDS năm 2005 có 117 điều ( từ điều 163 đến điều 279).

So với BLDS năm 1995 thì BLDS năm 2005 tăng thêm 4 điều, trong đó có 8 điều mới (Điều 166, 168, 188, 197, 218, 257, 258, 261), giữ nguyên 33 điều, sửa và bổ sung 76 điều. Trong số các điều sửa và bổ sung, có một số điều chỉ sửa câu chữ, từ ngữ cho chính xác, còn phần lớn việc sửa và bổ sung làm cho điều luật không những chính xác mà còn có nội dung mới. Đây là những quy định mà qua thực tiễn thực hiện BLDC1995, nhà làm luật đã bổ xung cho phù hợp với thực tiễn.

1. Nguyên tắc chịu rủi ro về tài sản

BLDS 1995 không có quy định này. Theo Điều 166 BLDS 2005 thì “chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có quy định khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Quy định trên rất quan trọng trong cuộc sống, nhất là trong các giao dịch dân sự thuê tài sản, mượn tài sản…Trong các loại giao dịch này chủ sở hữu tài sản là người cho thuê, cho mượn tài sản, nếu không may tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng thì người thuê, người mượn tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

2. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản

Theo Điều 168 BLDS 2000 thì:

a. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

b. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Continue reading

BÀN VỀ THẨM QUYỀN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON

TS. LÊ THU HÀ – Học viện tư pháp

1. Theo chị Phan Thị Yến (sinh năm 1984), năm 2003, chị và anh Lê Văn Thanh (sinh năm 1980) chung sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn, không được cha mẹ anh Thanh đồng ý. Mặc dù không được bố mẹ anh Thanh đồng ý, chị Yến và anh Thanh vẫn về sống chung với gia đình chồng. Đến ngày 31/01/2005 chị Yến sinh bé gái Lê Yến Ngọc. Do không có đăng ký kết hôn nên chị Yến không làm được khai sinh cho bé Ngọc.

Ngày 24/02/2006, anh Thanh bị tai nạn giao thông chết. Tháng 5 năm 2006, chị Yến có đơn ra Tòa án yêu cầu Tòa án xác định anh Thanh là cha cho cháu Lê Yến Ngọc. Bố mẹ anh Thanh cũng thừa nhận cháu Lê Yến Ngọc là con đẻ của anh Thanh, là cháu nội của ông bà. Theo Điều 65 luật hôn nhân và gia đình năm 2000, con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

Trong trường hợp cụ thể của chị Yến là yêu cầu xác định anh Thanh (đã chết) là cha cho bé Ngọc là một yêu cầu chính đáng, được pháp luật thừa nhận. Nhưng yêu cầu của chị Ngọc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay không?

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết trường hợp xác định con theo quy định tại Điều 64: Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Đối với trường hợp nhận cha, mẹ, con khác, Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định quyền được yêu cầu mà không quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết. Vấn đề này được quy định tương đối chi tiết trong Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định số 158/2005 có hiệu lực từ ngày 01/04/2006, thay thế nghị định số 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về đăng ký hộ tịch).

Mục 6, Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, tại Điều 32 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định điều kiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

TS. PHẠM VĂN LỢI & THS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

1. Quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Hiểu theo nghĩa rộng, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất cả hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp. Theo cách quan niệm này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (nhất là các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh) cũng thuộc vào phạm trù “cạnh tranh không lành mạnh”[3].

Theo quy định về “cạnh tranh không lành mạnh” của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp[4] (Điều 10bis – được bổ sung vào Công ước từ năm 1900) thì bất cứ hành vi nào không trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Luật Cạnh tranh của Việt Nam quan niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (Điều 3 Khoản 4). Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định rõ một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định thỏa mãn các tiêu chí quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh.

Continue reading

THỰC THI PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ – VẪN CHƯA THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC

VI HOA

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê vừa công bố, hiện nay cả nước có trên 21 triệu lao động, trong đó lao động nữ chiếm 47,7%, giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển KT- XH của đất nước. Lực lượng lao động nữ tham gia ngày càng nhiều hơn trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp vẫn chưa nghiêm túc…

Những kết quả bước đầu

Kết quả tham vấn công chúng đối tượng là nữ lao động tại các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài cho thấy  các quy định trong Chương X, Bộ Luật Lao động như: việc tuyển dụng, ký kết hợp đồng lao động; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; mức lương, nâng lương, điều kiện, môi trường lao động, chế độ thai sản… được nhiều doanh nghiệp triển khai thực hiện nghiêm túc và đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận.Qua đó quyền lợi của lao động nữ trong các doanh nghiệp được bảo đảm và người lao động yên tâm sản xuất,  muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.

Đánh giá tình hình việc làm và điều kiện làm việc của lao động nữ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, ĐBQH tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Thị Thu Hồng nhận xét, có 94,2% nữ công nhân lao động trong các doanh nghiệp có đủ việc làm thường xuyên, chỉ có 2,8% lao động nữ có việc làm nhưng thất thường; 78,4% lao động nữ thời gian làm thêm giờ có sự thỏa thuận với chủ sử dụng lao động… Bà Hồng cho biết, việc phát triển tổ chức, đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp được các cấp công đoàn quan tâm đáng kể, đã có 69,8% lao động nữ tham gia công đoàn trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước, 45,9% tham gia trong doanh nghiệp tư nhân, 69,8% trong các HTX…

Tại TP Đà Nẵng, theo số liệu thống kê của Sở LĐ, TB và XH hiện nay trên địa bàn thành phố có 9.386 doanh nghiệp, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp là 215.500 người,  trong đó tỷ lệ nữ chiếm 55%, số đơn vị sử dụng lao động nữ từ 30% trở lên thuộc các ngành như công nghiệp, thương mại- dịch vụ, thủy sản… Đa số các doanh nghiệp thực hiện tương đối đầy đủ các chế độ xã hội cho lao động nữ như BHXH, BHYT, chế độ nghỉ dưỡng sau khi sinh.

Continue reading

GIÁM HỘ, ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Chánh Toà Lao động, TANDTC

1. Những điểm mới về giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005)

Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự (BLDS) nhằm mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự.

Chế định giám hộ được quy định ở mục 4, Chương III Phần thứ nhất BLDS năm 2005 với 16 điều (từ Điều 58 đến Điều 73), với những sửa đổi bổ sung quan trọng so với các điều của tương tự của BLDS 1995.

1.1. Khái niệm giám hộ

Điều 58 BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm giám hộ:

“ Giám hộ là cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi ( NLHV) dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)

So với khái niệm giám hộ quy định tại Điều 67 BLDS 1995 thì khái niệm giám hộ nêu ở Điều 58 BLDS 2005 ngoài việc sửa đổi từ ngữ còn sửa nội dung câu “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” bằng câu “người mất NLHV dân sự”.

Việc thay đổi này làm cho điều luật vừa ngắn ngọn vừa thể hiện được sự chặt chẽ và chính xác hơn. Vì khái niệm mất NLHV dân sự đã được quy định tại Điều 24 BLDS 1995, Điều 22 BLDS 2005. Vì vậy điều luật không cần mô tả lại những biểu hiện của người mất NLHV dân sự.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh Tòa dân sự, TANDTC

Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là một loại tài sản đặc biệt, có ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội, nó liên quan đến mọi người, mọi cơ quan, tổ chức, được nhà nước hết sức quan tâm. Do đó, nó có một chế độ pháp lý riêng biệt. Có lẽ không có loại tài sản nào gắn với mọi người, mọi nhà nhưng lại chỉ có một chủ thể được quyền sở hữu đó là Nhà nước, còn người sử dụng đất, tuy không phải là chủ sở hữu nhưng lại có 10 quyền tương tự như các quyền của một chủ sở hữu tài sản và đương nhiên vì không phải chủ sở hữu nên người sử dụng loại tài sản đặc biệt này có những hạn chế nhất định.

Kể từ năm 1980, khi hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đến nay quyền của người sử dụng đất không ngừng được phát triển. Từ chỗ người sử dụng đất chỉ có quyền khai thác các công dụng của đất đai, không có quyền mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế… quyền sử dụng đất. Tóm lại, người sử dụng đất không được pháp luật cho phép thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, đến khi có Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 và đặc biệt là khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, thì Nhà nước đã thừa nhận cho người dân có 5 quyền sử dụng đất. Khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, Nhà nước thừa nhận người sử dụng đất có 10 quyền và trong tương lai các hạn chế về quyền của người sử dụng đất sẽ ngày càng ít đi. Quyền năng của người quản lý, sử dụng đất hợp pháp sẽ được bảo đảm ngày càng tốt hơn, thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể và cũng là để quản lý, khai thác đất đai có hiệu quả hơn.

Trong các quyền năng của người sử dụng đất, thì quyền thừa kế có vị trí hết sức đặc biệt. Do tính chất pháp lý đặc thù của loại tài sản này, nên Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định thừa kế quyền sử dụng đất thành một chương riêng, nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 không còn quy định chế độ pháp lý riêng biệt về thừa kế quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi xem xét về thừa kế quyền sử dụng đất thì phải vận dụng cả các quy định của Luật Đất đai để việc giải quyết phù hợp với tính chất đặc biệt của loại tài sản này.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: MANG TRÂU ĐI GIÁM ĐỊNH … GEN!

THANH QUANG

Theo tập quán chăn thả trâu, bò của bà con dân tộc một số tỉnh miền núi không có người trông coi nên dễ xảy ra tình trạng mất trộm hoặc nhầm lẫn. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra việc tranh chấp khiến người trong cuộc phải lao đao theo kiện. Câu chuyện giữa hai gia đình anh Sầm Văn Quàn và anh Hoàng Văn Hình cùng trú tại xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trong vụ tranh chấp trâu là một minh chứng điển hình…

Trâu thuộc về ai?

Ngày 8-2-2005, anh Sầm Văn Quàn ngạc nhiên khi thấy con trâu nhà mình bị mất tích vài tháng bỗng xuất hiện và điềm nhiên ăn cỏ tại khu vực Pá Tao, xã Minh Lương. Theo anh Quàn, đây là con trâu anh mua của ông Ma Văn Thinh (người cùng huyện) từ tháng 4-2003 với những đặc điểm: màu đen, có 5 khoáy, sừng hơi cong, ngọn sừng thẳng đứng, tai trái có vết rách dài 5cm, mông phải có 7 vết sùi, tuổi từ khoảng 6 đến 7.

Dắt con trâu “bị lạc” về nhà nhưng chỉ vài hôm sau, gia đình anh Hoàng Văn Hình đến đòi trâu vì cho rằng trâu của nhà mình nhưng anh Quàn nhất quyết không chịu trả.

Để làm rõ “trắng đen”, anh Hình đã làm đơn kêu cứu lên TAND huyện Văn Bàn. Sau khi thụ lý hồ sơ, TAND huyện Văn Bàn đã đưa vụ án dân sự trên ra xét xử. Tại phiên tòa, anh Quàn vẫn nhất mực bảo vệ ý kiến của mình, cho rằng với những đặc điểm không thể nhầm lẫn thì con trâu – là tài sản của gia đình anh đã mất tích từ trước, nay mới tìm được.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 224/BXD-QLN NGÀY 9 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ CÁCH TÍNH MIỄN GIẢM TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO NGƯỜI MUA KHI BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 14/SXD-QLN&TTBĐS ngày 07/01/2010 của Sở Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế báo cáo việc áp dụng cách tính miễn giảm tiền sử dụng đất khi bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/1999/TT-BXD ngày 26/7/1999 của Bộ Xây dựng. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Thông tư số 05/1999/TT-BXD về hướng dẫn cách tính tiền sử dụng đất được hỗ trợ đối với người có công với cách mạng theo Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 có quy định các mức hỗ trợ tiền sử dụng đất được tính trên 100% tiền sử dụng đất theo bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của Chính phủ. Tuy nhiên, ngày 03/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất, trong đó đã quy định mức miễn, giảm tiền sử dụng đất được tính trên số tiền sử dụng đất phải nộp và mức giảm tối đa không vượt quá số tiền sử dụng đất phải nộp trong hạn mức đất ở (khoản 2 và khoản 5 Điều 11 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP). Vì vậy, hiện nay cách tính miễn, giảm tiền sử dụng đất tại Thông tư số 05/1999/TT-BXD nêu trên không còn được áp dụng.

Ngày 25/7/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg về sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg và Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó cũng quy định các mức hỗ trợ người có công với cách mạng khi mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị định 61/CP được tính trong định mức đất ở và tính trên số tiền sử dụng đất mà người được hỗ trợ phải nộp.

Ví dụ: ông Nguyễn Văn A mua nhà ở một tầng một hộ ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị định 61/CP, diện tích đất gắn liền với nhà ở ông A mua không vượt hạn mức đất ở. Giả sử giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng đất gắn liền nhà ở ông A mua là 100 triệu đồng thì số tiền sử dụng đất ông A phải nộp tính như sau:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 04/2010/TT-NHNN NGÀY 11 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC QUY ĐỊNH VIỆC SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, MUA LẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2005;
Căn cứ Luật Đầu tư năm 2005;
Căn cứ Luật Cạnh tranh năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng như sau:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động tại Việt Nam sau:

– Ngân hàng thương mại;

– Công ty tài chính;

– Công ty cho thuê tài chính;

– Tổ chức tín dụng hợp tác.

Continue reading

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh Tòa Dân sự, TANDTC

Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó”.

Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và nhu cầu quản lý của nhà nước mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao dịch. Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là giao dịch đó có hiệu lực. Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc. Song có những loại giao dịch pháp luật bắt buộc hai bên phải thể hiện bằng văn bản và còn có trường hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ trong những trường hợp có quy định của pháp luật về loại giao dịch nào đó phải tuân theo những hình thức nhất định và hình thức đó là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì hình thức của giao dịch mới trở thành một điều kiện bắt buộc để giao dịch đó có hiệu lực.

Có hai cách hiểu khác nhau về quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự. Quan điểm thứ nhất nên cũng có ý kiến cho rằng khi pháp luật đã quy định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì khi các bên vi phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu. Trong trường hợp này nếu các bên không yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu về hình thức Toà án cũng có quyền tuyên bố giao dịch đó vô hiệu, có như vậy mới bảo đảm được yêu cầu quản lý của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật. Bởi chính khoản 2 Điều 124 đã quy định rõ là “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó”. Đây là một quy định mệnh lệnh dứt khoát, bắt buộc chứ không phải là một quy định tuỳ nghi. Hơn nữa Điều 127 Bộ luật Dân sự cũng quy định: “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”. Như vậy 3 điều kiện về nội dung là điều kiện cần và điều kiện về hình thức là điều kiện đủ để cho một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật. Do đó, không có lý do gì khi hợp đồng đã vi phạm điều kiện này mà Toà án phải chờ một bên hoặc các bên có yêu cầu mới tuyên bố hợp đồng vô hiêu, còn đương sự không có yêu cầu thì không xem xét là không hợp lý, không phù hợp với tinh thần, lời văn của điều luật.

Continue reading

VỀ THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ THỜI HẠN BẢO HIỂM

TS. PHẠM VĂN TUYẾT

1. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

Thời hạn hiểu theo nghĩa chung nhất là một khoảng thời gian nhất định được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Hay nói cách khác, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định bởi hai thời điểm là thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn. Thời hạn có thể do các bên xác thỏa thuận, có thể do pháp luật quy định. Thời hạn có hiệu lực của một hợp đồng bảo hiểm cũng tuân theo nguyên lý chung đó nên là một khoảng thời gian được xác định theo hai thời điểm sau:

– Thời điểm bắt đầu (là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm)

Thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với những người có quyền, nghĩa vụ từ hợp đồng đó. Càng quan trọng hơn đối với các hợp đồng bảo hiểm vì các rủi ro đối với người được bảo hiểm chỉ được coi là sự kiện bảo hiểm nếu rủi ro đó phát sinh sau thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói chung được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 405 như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Theo quy định này thì thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng dân sự được xác định theo một trong ba căn cứ: Theo thời điểm giao kết của hợp đồng, theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, theo quy định khác của pháp luật. Nguyên tắc để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phải theo thứ tự: Căn cứ vào thỏa thuận, trong trường hợp không có thoả thuận nhưng có quy định riêng của pháp luật thì căn cứ vào quy định riêng của pháp luật sau cùng, nếu không có thỏa thuận và cũng không có quy định riêng thì căn cứ vào thời điểm giao kết để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Hiện chưa có quy định riêng của pháp luật về việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nên đối với các hợp đồng bảo hiểm mà các bên không có thoả thuận khác về thời điểm có hiệu lực của nó thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm đó được xác định theo thời điểm giao kết của hợp đồng. Đối với hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản theo trình tự thông thường (không phải tuân theo trình tự mà pháp luật đã quy định) thì thời điểm giao kết của hợp đồng đó là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản1.

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN VỀ KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

TS. CHU HẢI THANH

Ngày 09/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 khóa X Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mới – đây là đạo luật thứ ba trong vòng 40 năm qua về lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta.

Điều mới dễ nhận thấy nhất là quy mô của đạo Luật Hôn nhân và gia đình lần này đã đạt mức độ hoàn chỉnh cao về dung lượng, nhắm tới việc đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong giai đọan phát triển mới của đất nước. So với 10 điều liên quan trong Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, 6 chương 35 điều của Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và 10 chương 57 điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 với 13 chương và 111 điều đã có bước tiến rất lớn, đạt tầm vóc của một bộ luật.

Nhưng việc đánh giá hiệu qủa và sự hoàn chỉnh của một văn bản pháp quy quan trọng không chỉ căn cứ vào số lượng điều khoản, mà vấn đề căn bản là phải xem xét những ưu điểm về nội dung mà văn bản đó thể hiện. Những ưu điểm như vậy trong Luật Hôn nhân và gia đình mới là rất nhiều.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng tôi xin chỉ đề cập một số điểm mới nổi trội trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc kết hôn nhằm góp phần quán triệt đầy đủ hơn nội dung của nó.

Về căn bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn giữ quy định về 3 điều kiện tối thiểu phải có để được phép kết hôn vốn đã định hình và mang tính truyền thống trong hai đạo Luật Hôn nhân và gia đình trước đây là độ tuổi, sự tự nguyện của nam nữ và thủ tục đăng ký việc kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Điều 9 và Điều 11).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 451/TCT-TNCN NGÀY 8 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ – BỘ TÀI CHÍNH VỀ QUYẾT TOÁN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Kính gửi:

Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Năm 2009 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN), có nhiều nội dung mới, phương pháp quản lý thuế nói chung và quyết toán thuế nói riêng cũng có sửa đổi, bổ sung.

Năm 2009 cũng là năm Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 hướng dẫn việc miễn thuế TNCN theo Nghị quyết số 32/2009/QH12 của Quốc hội. Theo đó, một số khoản thu nhập được miễn thuế TNCN; các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (sau đây gọi chung là đơn vị chi trả thu nhập) và cá nhân có thu nhập khi quyết toán thuế năm 2009 không phải kê khai đối với các khoản thu nhập được miễn này.

Để việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 được thực hiện theo đúng quy định của Luật thuế TNCN, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNCN, và các văn bản hướng dẫn thi hành của Bộ Tài chính; Tổng cục Thuế hướng dẫn việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN VÀ HỒ SƠ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN:

1. Đối tượng phải quyết toán thuế TNCN:

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính thì các đối tượng phải quyết toán thuế TNCN bao gồm:

– Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập;

– Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ, tạm nộp; hoặc cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau;

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 20/2010/TT-BTC NGÀY 5 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế TNCN, Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về thuế TNCN như sau:

Điều 1. Sửa đổi một số mẫu tờ khai, bảng kê và văn bản kê khai thuế TNCN như sau (Danh mục kèm theo Thông tư này):

1. Tờ khai khấu trừ thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện theo mẫu số 02/KK-TNCN, Tờ khai khấu trừ thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng chứng khoán, từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, từ trúng thưởng cho cá nhân và trả thu nhập từ kinh doanh cho cá nhân không cư trú thực hiện theo mẫu số 03/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này, thay thế cho các mẫu số 02/KK-TNCN, mẫu số 03/KK-TNCN và mẫu số 04/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN (sau đây gọi tắt là Thông tư số 84/2008/TT-BTC)

2. Tờ khai quyết toán thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho cá nhân thực hiện theo mẫu số 05/KK-TNCN, và các Bảng kê (mẫu số 05A/BK-TNCN, mẫu số 05B/BK-TNCN) ban hành theo Thông tư này, thay thế cho các mẫu số 05/KK-TNCN, mẫu số 05A/BK-TNCN và mẫu số 05B/BK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

Continue reading

SỬ DỤNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN LÀM PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỂ ĐẢM BẢO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH  – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Khi nắm vững được chương trình môn học, nắm vững các yêu cầu kỹ thuật của việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm (CHTN) thì có thể xây dựng ngân hàng CHTN. Từ ngân hàng CHTN ta soạn thảo được các đề kiểm tra, thi vừa đáp ứng được yêu cầu làm tăng tính khách quan, chính xác, tin cậy trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên, vừa như là phương tiện góp phần cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học ở Đại học.

1. Đặt vấn đề

Ngân hàng CHTN khách quan là một hệ thống các CHTN và đáp án được soạn thảo cẩn thận, đúng kỹ thuật. Vìệc soạn thảo các CHTN tốn nhiều công sức, sau một thời gian các giảng viên (GV) đã soạn được một số lớn các CHTN cùng với đáp án dùng để làm nguồn soạn các đề kiểm tra, thi ở lớp. Một số lớn các CHTN và đáp án tạo thành một ngân hàng CHTN. Các CHTN này đã được mã hoá theo chương, mục cũng như mức độ nhận thức cần kiểm tra đánh giá (KTĐG). Nó sẽ là một phương tiện để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên và quản lý chất lượng đào tạo ở đại học hiện nay.

2. Nội dung

Để sử dụng được ngân hàng CHTN có hiệu quả, nên theo qui trình sau:

2.1. Qui trình sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Trước tiên là xác định các mức độ nhận thức cần KTĐG. Do mục đích của bài kiểm tra, thi có những yêu cầu cụ thể, đảm bảo tính thiết thực, khả thi trong thực tế dạy học chúng ta phân tích các chương theo 4 mức độ của mục tiêu nhận thức của B.J.Bloom là: ‘Nhận biết – Thông hiểu – Vận dụng và Tổng hợp". Sau khi phân tích chương trình thành các nội dung cần giảng dạy dựa trên đề cương môn học đã công bố và các mức độ cần KTĐG của chương trình, người ta lập bảng đặc trưng phân bố các CHTN theo hai chiều, một chiều là các nội dung giảng dạy, một chiều còn lại là các mức độ nhận thức đòi hỏi SV phải đạt được, số lượng CHTN phụ thuộc vào số tiết của mỗi chương. Qui trình này gồm 5 bước sau đây:

Continue reading