QUẢN LÝ RỦI RO HỐI ĐOÁI GIAO DỊCH TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ

VÕ THỊ THÚY ANH – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Bài báo này trình bày các chiến lược quản lý rủi ro hối đoái giao dịch trong kinh doanh quốc tế như chiến lược kỹ thuật hoạt động, chiến lược hợp đồng tài chính, cách thức vận dụng các chiến lược này cũng như đánh giá ưu, nhược điểm của từng chiến lược. Hơn nữa, bài báo nêu rõ rằng doanh nghiệp nên tự bảo vệ mình khỏi rủi ro hối đoái giao dịch trong kinh doanh quốc tế thông qua bảo hiểm khi thị trường tài chính không hoàn hảo hay khi tỷ giá hối đoái (TGHĐ) biến động lớn. Nếu thực hiện bảo hiểm, đầu tư kết hợp quyền chọn hay quyền chọn là công cụ tài chính tốt nhất, hợp đồng kỳ hạn là sự lựa chọn tốt thứ hai của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Rủi ro hối đoái giao dịch (transaction exposure) (từ đây được gọi là rủi ro giao dịch: RRGD) là một vấn đề mà các doanh nghiệp (DN) luôn phải đối đầu trong kinh doanh quốc tế. RRGD xảy ra khi DN có dòng tiền mặt ràng buộc bằng hợp đồng (contractual cash flow) được định giá bằng ngoại tệ.

Để quản lý RRGD trong kinh doanh quốc tế, DN có thể tìm cách đẩy các rủi ro này cho đối tác thông qua các kỹ thuật hoạt động (operational techniques) hoặc tạo ra trạng thái đóng bằng ngoại tệ cho doanh nghiệp bằng các hợp đồng tài chính (financial contracts).

Nội dung chính của bài báo là hệ thống hóa các biện pháp biện pháp quản lý RRGD trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Mặt khác, bài báo cũng giải quyết câu hỏi: DN có nên bảo hiểm RRGD hay không? Nếu có thì nên sử dụng biện pháp nào? Cuối cùng, bài báo chỉ ra những định hướng nghiên cứu trong tương lai về vấn đề RRGD.

2. Các biện pháp quản lý RRGD

Để quản lý RRGD, các hợp đồng tài chính mà các doanh nghiệp thường sử dụng là hợp đồng kỳ hạn (forward), quyền chọn (option), hoán đổi (swap) và hợp đồng tín dụng. Các kỹ thuật hoạt động có thể sử dụng là lựa chọn tiền tệ để ghi hóa đơn, netting và chiến lược lead/lag.

Continue reading

NHÂN CÁCH, NHÂN PHẨM, KINH TẾ, KINH DOANH

TÔN THẤT NGUYỄN THIÊM

Có người tiêu dùng nào muốn liên quan với một thương hiệu không có nhân cách và nhân phẩm khi chính doanh nghiệp mang thương hiệu ấy đã vi phạm những giá trị tối thiểu của cộng đồng nhân sinh (chẳng hạn là đã gây tàn hại cho môi trường hay bóc lột tàn tệ nhân công và gian dối triền miên trong sản xuất)?!

Cách vận hành kinh tế và kinh doanh ở ta có vẻ tụt hậu khá nhiều so với các trào lưu tiên tiến hiện đại trên thế giới lẫn so với chí nguyện ngàn xưa của tổ tiên. Lý do cơ bản là tố chất nhân luân ngày càng mờ nhạt, chỉ còn lại những toan tính lạnh lùng vô cảm, vừa ngắn hạn vừa cục bộ…

Kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, với các tiêu chí “doanh nghiệp nào biết chăm sóc con người và môi sinh thì doanh nghiệp ấy thắng” (trọn ý từ “Who Cares Win”) và “muốn được tiếng hay thì hãy làm điều tốt việc thiện” (đúng ý từ “Do Well By Doing Good”) đề cao trong chiều hướng thuộc “Tư bản tận tâm” (Compassionate Capitalism) và “Tư bản chu đáo” (Caring Capitalism), nhiều trường phái mới trong ngành chiêu thị – tiếp thị – nghiên cứu thị trường đã ra đời: từ “Marketing liên quan đến chính nghĩa” (Cause Related Marketing) đến “Marketing vì chính nghĩa xã hội” (Social Cause Marketing) và “Marketing trên nền tảng sứ mệnh” (Mission-Based Marketing), tất cả đều được triển khai với mục đích mong muốn được thị trường và xã hội nhìn nhận doanh nghiệp như một “thực thể có nhân tính”, nghĩa là không chỉ hoạt động duy nhất vì lợi nhuận mà cơ bản còn vì động lực “thế thái nhân tình” (“Bosom Company/Noble Hearted Company”).

Sự phổ quát các sự kiện trên ở các thị trường Âu Mỹ đã minh chứng rất rõ là “4P cổ điển” (gồm Product-sản phẩm dịch vụ; Price-giá; Place-hệ thống cung ứng, Promotion-xúc tiến thương mại) của ngành “marketing truyền thống” cần phải được bổ sung thêm bởi chí ít là “3P”: People-con người, Public Opinion-công luận và Politics-chính trị; hiểu một cách cô đọng là nếu không quan tâm đến môi trường sống, công luận và các định chế cộng đồng thì doanh nghiệp cùng lắm là chỉ bán được hàng trong những thời điểm nhất định nhưng hoàn toàn không có khả năng phát triển bền vững để trường tồn.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VŨ VIẾT THIỆU

Xây dựng pháp luật – hiểu một cách đơn giản, là việc đặt ra các quy tắc pháp lý làm chuẩn mực cho cách xử sự của công dân, tổ chức (quy phạm pháp luật) theo các phương thức khác nhau và thể hiện chúng dưới những hình thức của pháp luật; có thể là tập quán, tiền lệ pháp hay văn bản quy phạm pháp luật. Là một hoạt động nhà nước, xây dựng pháp luật được bắt đầu từ khâu hoạch định chính sách pháp luật, nhằm xác định mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc xử lý các quan hệ cần điều chỉnh pháp luật. Về mặt lịch sử, việc đặt ra các quy phạm pháp luật đựơc các nhà nước tiến hành theo các phương thức khác nhau, song tựu chung có hai phương thức chủ yếu sau:

– Phương thức ban hành mới, trên cơ sở khái quát hoá các quan hệ xã hội hiện thực và tuân theo chính sách pháp luật đã được hoạch định. Đây là phương thức sáng tạo pháp luật.

– Phương thức thừa nhận. Về bản chất, đây cũng là phương thức sáng tạo pháp luật, song ở các cấp độ khác nhau, theo các cách thức khác nhau; có thể là việc thừa nhận trực tiếp một quy phạm xã hội từ các nguồn quy phạm mà xã hội sẵn có, như đạo đức, tập quán, điều lệ của các hiệp hội nghề nghiệp…; cũng có thể thừa nhận gián tiếp thông qua con đường thể chế một tư tưởng, học thuyết hoặc một nguyên tắc chính trị – pháp lý nào đó để hình thành chính sách pháp luật, làm cơ sở cho việc đặt ra các quy phạm pháp luật cụ thể. Thể chế hoá cũng có thể bằng cách giao cho tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức của xã hội dân sự một số nhiệm vụ thuộc chức năng quản lý của nhà nước. Trong phạm vi thực hiện các nhiệm vụ đó, các văn bản của các tổ chức trên ban hành có giá trị pháp lý. Cá biệt, có nhà nước đã thừa nhận một tôn giáo là quốc giáo. Trong trường hợp này, nhà nước trở thành nhà nước tôn giáo; giáo luật của tôn giáo cũng là luật pháp.

Ở Việt Nam, phương thức thể chế hoá là phương thức cơ bản trong xây dựng pháp luật. Đối tượng của thể chế hoá là đường lối, chủ trương của Đảng. Qua thể chế hoá mà nhà nước hình thành hệ thống chính sách pháp luật trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước, chuyển hoá những vấn đề chung, có tính quy luật trong đường lối, chủ trương của Đảng thành những quy phạm pháp luật cụ thể, đem lại sự bảo đảm thực hiện bởi quyền lực và sức mạnh tổ chức của bộ máy nhà nước, bên cạnh tính khoa học và sức thuyết phục của đường lối, chủ trương đó. Khi chưa được thể chế hoá, trách nhiệm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng chỉ thuộc về các tổ chức Đảng, đáng viên. Khi được thể chế hoá, đường lối, chủ trương của Đảng trở thành pháp luật, và do đó, thành nghĩa vụ thực hiện của toàn xã hội, của mọi công dân.

Continue reading

KHÁI NIỆM “ĐỨC” trong tư tưởng Khổng Tử qua “Luận Ngữ”

NGUYỄN THỊ KIM BÌNH – Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Quan niệm về Đức là cơ sở quan trọng tạo nên tư tưởng đức trị của Khổng Tử. Khổng Tử coi đức là gốc của con người, coi nhược đễ là gốc của đức. Quan niệm về “đức” của Khổng Tử trong “Luận ngữ” rất sâu sắc và phong phú. Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm. Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng đức phải là gốc. Lòng tin yêu thiện đức của con người chính là cơ sở của đường hoàng đức trị Khổng Tử.

1. Đặt vấn đề

Nếu như dưỡng học phương pháp Tây thiên về hướng ngoại, với xu hướng tập trung nghiên cứu thế giới chất để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, thì dưỡng học phương Đông nói chung và Nho học nói riêng thiên về hướng nội, nghiên cứu con người và thế giới nội tâm của con người và từ đó đi đến các vấn đề xã hội. Bởi vậy, không có gì lạ khi ta thấy Nho học xem con người là hạt nhân, là đối tượng để nghiên cứu chủ yếu. Đường hôn “đức trị” của Khổng Tử đã thống trị trong xã hội phong kiến ​​Á Đông hàng vật chất năm lịch sử và tạo nên một hệ thống lớn của văn hoá Á Đông. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong đó có tư tưởng đức giá trị của Nho giáo có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy nội lực của con người Việt Nam để tiến trình cùng thời đại. Đến hiện đại từ truyền thông không thể nghiên cứu và xác định những mục tiêu giá trị thực sự của truyền thông từ góc nhìn hiện đại. Để hiểu rõ tư tưởng đức giá trị của Nho giáo không thể bắt đầu từ những khái niệm cơ bản của nó. Một trong những khái niệm cơ bản làm nền tảng cho đường hoàng “đức trị” của Nho giáo là phạm trù Đức trong tư tưởng Khổng Tử. nghiên cứu và làm rõ những tư tưởng nghiên cứu sâu sắc về Đức của Khổng Tử chính là cơ sở để chúng ta xác định đường lối “đức trị” của Nho giáo.

2. Quan niệm về đức của Khổng Tử

Đọc Luận Ngữ chúng ta thấy hầu như mọi tư tưởng, mọi thảo luận bàn của thầy trò Khổng Tử đều xoay quanh đường lối “Đức trị”, vậy trước hết ta hãy xem Khổng Tử đã quan niệm về “Đức” như thế nào”?

Continue reading

KHÁI NIỆM “ĐỨC” TRONG TƯ TƯỞNG KHỔNG TỬ QUA “LUẬN NGỮ”

NGUYỄN THỊ KIM BÌNH – Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Quan niệm về Đức là cơ sở quan trọng tạo nên tư tưởng đức trị của Khổng Tử. Khổng Tử coi đức là gốc của con người, coi hiếu đễ là gốc của đức. Quan niệm về "đức" của Khổng Tử trong "Luận ngữ" rất sâu sắc và phong phú. Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm. Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng đức phải là gốc. Lòng tin mãnh liệt vào thiện đức của con người chính là cơ sở của đường lối đức trị Khổng Tử.

1. Đặt vấn đề

Nếu như triết học phương Tây thiên về hướng ngoại, với xu hướng tập trung nghiên cứu thế giới vật chất để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, thì triết học phương Đông nói chung và Nho học nói riêng thiên về hướng nội, nghiên cứu con người và thế giới nội tâm của con người và từ đó đi đến các vấn đề xã hội. Bởi vậy, không có gì là lạ khi ta thấy Nho học xem con người là hạt nhân, là đối tượng để nghiên cứu chủ yếu. Đường lối "đức trị" của Khổng Tử đã thống trị trong xã hội phong kiến Á Đông hàng nghìn năm lịch sử và tạo nên một truyền thống lớn của văn hoá Á Đông. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay, vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong đó có tư tưởng đức trị của Nho giáo có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy nội lực của con người Việt Nam để tiến cùng thời đại. Đến hiện đại từ truyền thống không thể không nghiên cứu và làm rõ những giá trị đích thực của truyền thống từ góc nhìn hiện đại. Để hiểu rõ tư tưởng đức trị của Nho giáo không thể không bắt đầu từ những khái niệm cơ bản của nó. Một trong những khái niệm cơ bản làm nền tảng cho đường lối "đức trị" của Nho giáo là phạm trù Đức trong tư tưởng Khổng Tử. Nghiên cứu và làm rõ những tư tưởng sâu sắc về Đức của Khổng Tử chính là cơ sở để chúng ta nhận rõ đường lối "đức trị" của Nho giáo.

2. Quan niệm về "đức" của Khổng Tử

Đọc Luận Ngữ chúng ta thấy hầu như mọi tư tưởng, mọi luận bàn của thầy trò Khổng Tử đều xoay quanh đường lối "Đức trị", vậy trước hết ta hãy xem Khổng Tử đã quan niệm về "Đức" như thế nào"?

Continue reading

BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LÂM MINH CHÂU – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp…để bảo hộ sản xuất trong nước. Bài viết này đề cập đến một số qui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.

1. Các quy định của WTO về bán phá giá

Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp.

Theo WTO, giá trị bình thường của hàng hoá là giá của hàng hoá đã được ấn định phụ thuộc vào sức tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu. Khi không có giá nội địa để so sánh thì gía trị bình thường được coi là tổng các chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hoá cộng với một phần lợi nhuận nào đó. Hoặc theo cách khác, giá trị bình thường có thể là giá xuất khẩu sang một nước thứ ba.Trong trường hợp khi nước xuất khẩu chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường thì giá trị bình thường được xác định trên cơ sở giá hàng hoá tương tự của một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường.

Giá xuất khẩu hàng hoá thường được xác định trên cơ sở giá giao dịch giữa người xuất khẩu và nhập khẩu tại nước nhập khẩu.Tuy nhiên, giá giao dịch có thể không được chấp nhận là giá xuất khẩu trong trường hợp buôn bán đối lưu, hoặc trao đổi nội bộ.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ làm giảm khả năng ứng phó của Việt Nam trong các vụ kiện bán phá giá

NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM

NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng

Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn. Từ thực tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách. Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá giá

Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa học pháp lý Việt Nam đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho nhận định trên.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ LÀM GIẢM KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM & NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng

Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn. Từ thực tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách. Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá giá

Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa học pháp lý Việt Nam đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho nhận định trên.

Continue reading

THỰC THI NGHIÊM CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG

TS. BÙI NGỌC THANH

I- Những quy định pháp luật về quan hệ lao động

Trong Bộ luật Lao động (BLLĐ), quan hệ lao động được quy định gồm hai loại: Quan hệ ba bên (Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động) và quan hệ hai bên (người lao động và người sử dụng lao động). Sau đây là những quy định cho các bên.

1, Những quy định về quyền và trách nhiệm của Nhà nước

Trách nhiệm của Nhà nước trong quan hệ lao động nói riêng, trong lao động nói chung được quy định ở ba chương: Những quy định chung; Quản lý nhà nước về lao động; Thanh tra nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật lao động.

Nhà nước (trong quan hệ ba bên) không đứng “bên trong” để can thiệp quá sâu vào quá trình sản xuất – kinh doanh và quá trình thỏa thuận để đi đến tổ chức và sử dụng lao động của doanh nghiệp, nhưng Nhà nước với tư cách là người đứng “bên trên” có vai trò định hướng, có trách nhiệm hỗ trợ cho quan hệ hai bên và có nhiệm vụ thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật lao động. Bởi vậy, Điều 10 và Điều 11 BLLĐ đã quy định:

– Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động bằng pháp luật và có chính sách để phát triển, phân bố nguồn nhân lực, phát triển đa dạng các hình thức sử dụng lao động và giới thiệu việc làm.

Nhà nước hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp.

Nhà nước khuyến khích việc quản lý lao động dân chủ, công bằng, văn minh trong doanh nghiệp…

– Quản lý Nhà nước về lao động gồm những nội dung chủ yếu sau:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

TS. VŨ VĂN NHIÊM – Đại học Luật TPHCM

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới… Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”[1].

Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” (Điều 8). “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 53).

Do vậy, nghiên cứu về phản biện, giám sát xã hội là một việc làm hợp chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và rất có ý nghĩa trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay. Chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về phản biện xã hội và các giải pháp để bảo đảm việc thực hiện phản biện xã hội có hiệu quả.

1. Khái niệm phản biện xã hội

Phản biện là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó (như các đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật…) nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần hoặc cả phương án, dự án, kế hoạch.

Phản biện khác với việc thiết kế, xây dựng trước hết ở chủ thể và mục đích. Cùng một đối tượng, như đề án xây dựng một cây cầu chẳng hạn, chủ thể xây dựng đề án phải phác họa đề án rồi phân tích, thuyết minh để thuyết phục các chủ thể khác (có thẩm quyền hoặc công luận trong trường hợp cần thiết) về tính “có lý” của đề án mà mình đã phác thảo. Trái lại, chủ thể phản biện đương nhiên phải là cá nhân hoặc tổ chức khác không xây dựng đề án (thường là những chủ thể có tính chất khác với chủ thể xây dựng, để nhìn nhận, đánh giá ở góc độ khác) và phải trên cơ sở đề án do cơ quan xây dựng phác thảo. Quá trình phân tích, lập luận đánh giá sự phù hợp hay không phù hợp và phải có mục đích công nhận sự cần thiết, tính hợp lý hoặc bác bỏ (một phần hoặc toàn bộ) đề án do cơ quan xây dựng phác thảo. Giữa thiết kế, xây dựng và phản biện có mối quan hệ mật thiết. Để thiết kế, xây dựng một chủ trương, đường lối hay một đề án tốt nhất và hợp lòng dân rất cần sự phản biện, nhất là phản biện xã hội. Phản biện là phương cách quan trọng để bảo đảm và dung hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội.

Continue reading

HÀNH VI CHỈ DẪN GÂY NHẦM LẪN: ĐIỀUCHỈNH THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH HIỆN HÀNH

THS. LÊ ANH TUẤN – Văn phòng Quốc hội

Theo pháp luật Việt Nam, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn (CDGNL) về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ lần đầu tiên được điều chỉnh bởi Nghị định 54/2000/NĐ-CP[1] và đã được pháp điển hoá trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT 2005). Hiện nay, điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) dưới dạng CDGNL được quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2004, (Luật CT 2004) và Luật SHTT 2005.

1. Điều chỉnh hành vi CDGNL theo pháp luật hiện hành

1.1. Điều chỉnh theo Luật CT 2004

Theo Điều 40 Luật CT 2004: “Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh; cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng CDGNL này”. Quy định này có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi phải là "doanh nghiệp". Tuy nhiên, không đồng nghĩa hoàn toàn với khái niệm "doanh nghiệp" được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Luật DN 2005), doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa của Luật CT 2004, rộng hơn so với Luật DN 2005. Theo đó, doanh nghiệp trong Luật CT 2004 không chỉ bao gồm các tổ chức kinh doanh như quy định của Luật DN 2005, mà còn bao gồm cả cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không có đăng ký kinh doanh[2].

Thứ hai: Phương thức thực hiện hành vi là xâm hại đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… có trên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.

Continue reading

VÌ HẠNH PHÚC NGƯỜI VIỆT: CẦN CAM KẾT MỘT “KHẾ ƯỚC VĂN MINH”

ca5954016c52466cb91ff3dafeb3c567 VÕ THỊ HẢO

Điểm tựa nào cho hạnh phúc?

Một năm mới lại đến. Ta lại chúc nhau hạnh phúc và thịnh vượng. Ước gì hạnh phúc cũng dồi dào như lời chúc.
Nhưng hạnh phúc không rơi từ trời xuống. Loài người vẫn chưa thôi mơ về những phép lạ. Cứ tiếp tục mơ, nhưng điều trước hết, phải hành động. Cần một hệ thống những cam kết và cố gắng. Lại cần bắt kịp thời cơ. Nàng tiên Hạnh phúc chạm tay vào cửa sổ nhưng nàng sẽ bị đẩy ra khỏi cửa chính, khi cánh cửa vẫn đóng chặt và bên trong cánh cửa là những hung thần.

Muốn có hạnh phúc, để người này không tước đoạt hạnh phúc của người kia, để một cộng đồng cùng chung xây lợi ích, điều cấp bách phải làm là cùng nhau cam kết một Khế ước văn minh để làm điểm tựa và thực thi nó. Một hệ thống văn minh nằm trong bản chất, trong hệ thống hành xử mọi mặt, chứ không phải là sự vỗ ngực thậm xưng.

Xã hội văn minh bao hàm một thiết chế vận hành trong hệ thống hành vi minh bạch, công bằng, và tôn trọng cái đẹp từ tinh thần tới vật chất.

Hệ thống văn minh đương nhiên đối lập với chuẩn ứng xử mang tính dã thú, trong đó người ta chỉ tính đến lợi ích của riêng mình và sẵn sàng tước đoạt, hãm hại kẻ khác để mưu lợi.

Muốn có văn minh, hạnh phúc, đương nhiên phải kiên quyết loại bỏ tính dã thú. Mỗi chậm trễ là mỗi tổn thương theo cấp số nhân.

Xã hội nào cũng có nguy cơ bị tính dã thú xâm lấn, không chỉ riêng dân tộc nào, quốc gia nào. Để thành công hơn, để hạnh phúc hơn, thể chế xã hội cần được thiết kế sao cho đủ năng lực giám sát và loại bỏ tính dã thú, dọn chỗ cho nền văn minh.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH

PGS. TS. PHẠM VĂN ĐỨC – Tổng biên tập Tạp trí Triết học

Bài viết tập trung phân tích nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Theo tác giả, việc các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội. Trên cơ sở làm rõ những lợi ích to lớn từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và đánh giá khái quát tình hình thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.

Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sự thành công trong việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề về môi trường và xã hội bức xúc. Chính những vấn đề đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh tế, trong đó có cả các doanh nghiệp, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải trả giả quá đắt về môi trường và những vấn đề xã hội.

Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về trách nhiệm xã hội của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như đối với cộng đồng nói chung. Nhưng, trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hội được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạo đức, mà cả từ phương diện pháp lý. Những tác hại về môi trường do một số doanh nghiệp gây ra trong thời gian qua không những bị dư luận lên án về phương diện đạo đức, mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêm khắc về phương diện pháp lý. Do đó, không phải ngẫu nhiên, trong những năm gần đây, trên sách báo và nhiều diễn đàn ở Việt Nam, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpđã và đang được sử dụng ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung làm rõ nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và một số vấn đề thực tiễn đang được đặt ra ở Việt Nam hiện nay.

Continue reading

Các vùng khai thác chung TRONG LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÁ DIẾN (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)

Tóm tắt. Các vùng khai thác chung trên biển và quy chế pháp lý điều chỉnh đối với chúng ngày càng phát triển trong thực tiễn và trong Luật Quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá mới mẻ trong lý luận và thực tiễn không chỉ đối với người dân mà cả đối với nhiều chuyên gia pháp lý Việt Nam. Để góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại, trong bài viết này, tác giả phân tích tầm quan trọng của khai thác chung; việc thiết lập các vùng khai thác chung giữa các quốc gia theo các góc độ:

i) Thiết lập khu vực khai thác chung như là một trong những khả năng lựa chọn để đi đến thiết lập một đường biên giới,

ii) Các vùng khai thác chung như là yếu tố bổ trợ cho việc phân định và quản lý đường phân giới trên biển; và sự điều chỉnh của Luật Quốc tế đối với hoạt động khai thác chung trên các vùng biển (vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế).

Bài viết kết luận rằng, chế độ pháp lý cho vùng khai thác chung dù hết sức đa dạng và phức tạp nhưng các quốc gia hữu quan cần có giải pháp tối ưu cho việc xây dựng một quy chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo đảm lợi ích công bằng cho các bên, tuân thủ triệt để các quy định của Luật Quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982.

1. Tầm quan trọng của khai thác chung

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của kinh tế, khả năng khai thác biển của con người ngày càng được mở rộng. Đồng thời với quá trình này là nhận thức của con người về tầm quan trọng của biển đối với sự sống, sự phát triển của kinh tế và an ninh quốc phòng của các quốc gia càng được nâng lên. Vì vậy, chiến lược chung của loài người ở thế kỷ XXI dường như được xây dựng trên cơ sở của một trong những xu thế chủ đạo nhất: xu thế tiến ra biển và làm chủ biển.

Continue reading

CÁC VÙNG KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÁ DIẾN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Các vùng khai thác chung trên biển và quy chế pháp lý điều chỉnh đối với chúng ngày càng phát triển trong thực tiễn và trong Luật Quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá mới mẻ trong lý luận và thực tiễn không chỉ đối với người dân mà cả đối với nhiều chuyên gia pháp lý Việt Nam. Để góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại, trong bài viết này, tác giả phân tích tầm quan trọng của khai thác chung; việc thiết lập các vùng khai thác chung giữa các quốc gia theo các góc độ:

i) Thiết lập khu vực khai thác chung như là một trong những khả năng lựa chọn để đi đến thiết lập một đường biên giới,

ii) Các vùng khai thác chung như là yếu tố bổ trợ cho việc phân định và quản lý đường phân giới trên biển; và sự điều chỉnh của Luật Quốc tế đối với hoạt động khai thác chung trên các vùng biển (vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế).

Bài viết kết luận rằng, chế độ pháp lý cho vùng khai thác chung dù hết sức đa dạng và phức tạp nhưng các quốc gia hữu quan cần có giải pháp tối ưu cho việc xây dựng một quy chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo đảm lợi ích công bằng cho các bên, tuân thủ triệt để các quy định của Luật Quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982.

1. Tầm quan trọng của khai thác chung

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của kinh tế, khả năng khai thác biển của con người ngày càng được mở rộng. Đồng thời với quá trình này là nhận thức của con người về tầm quan trọng của biển đối với sự sống, sự phát triển của kinh tế và an ninh quốc phòng của các quốc gia càng được nâng lên. Vì vậy, chiến lược chung của loài người ở thế kỷ XXI dường như được xây dựng trên cơ sở của một trong những xu thế chủ đạo nhất: xu thế tiến ra biển và làm chủ biển.

Continue reading

GIỮA KHÍ XUÂN LUẬN THƯƠNG TRƯỜNG

NGUYỄN HOÀI BẮC (Từ Canada)

Nhiều người bạn hỏi tôi: Giữa thương trường hiện nay anh luận bàn thế nào? Tôi là doanh nhân trải qua mấy thời kỳ: Bao cấp kinh tế thị trường thuần túy khi sang định cư tại Canada và quay trở lại Việt Nam trong thời mở cửa khuyến khích đầu tư; rồi lao vào vòng xoáy của kinh tế thị trường thời kỳ của hậu WTO.

Suy ngẫm về thương trường trong thời mở cửa, có thể nhận thấy rằng trên thương trường ngày nay lấy thành bại luận anh hùng không lấy hào quang của quá khứ mà lấy hiệu quả của hiện tại làm thước đo giá trị của doanh nghiệp (DN).

Đầu xuân năm 2006, cả nước phấn khích sau hơn 11 năm vất vả thương thảo, đấu tranh được tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Rất nhiều người tin rằng “chúng ta sắp giàu”, công việc làm ăn sẽ thuận lợi, tốt hơn, nhưng cũng không ít người cảnh báo rằng, WTO không phải là chiếc bánh cho không và cái giá lại trả có thể sẽ nhiều hơn cái chúng ta thu được trong giai đoạn đầu hội nhập.

Hai năm gia nhập WTO cũng là vừa đủ để chúng ta nhìn nhận lại mình khi nền kinh tế toàn cầu khủng hoảng trầm trọng. Thế trận của thương trường tại VN là phải chống trả quyết liệt muôn vàn nước đi và thế đánh hung hiểm nghiệt ngã của thị trường thế giới liên thông không biên giới. Niềm vui chưa đến nhiều thì cơn thác đổ khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu sập xuống. Cả thế giới gồng mình gánh chịu và người ta tung ra nhiều chiêu độc để chống lại cơn bão tài chính đang lan rộng khắp thế giới. Mặt trái của kinh tế thế giới lộ nguyên hình. Nhiều đại gia công nghiệp, nhiều nhà tài phiệt lâu nay dùng uy quyền của tiền bạc để thao túng kinh tế nhiều nước trên thế giới đã vào trại giam hoặc trở về cát bụi.

Continue reading

CẤU TRÚC KỸ THUẬT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT SỞ HỮU BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM: GÓC NHÌN PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Tổng quan

Trước khi tiếp xúc với luật phương Tây, Việt Nam cũng có một tập hợp các quy tắc pháp lý chi phối quan hệ giữa người và người trong đời sống dân sự. Thế nhưng tập hợp đó còn xa mới đạt đến trình độ của một hệ thống pháp luật dân sự theo đúng nghĩa khoa học của từ ngữ. Riêng trong lĩnh vực tài sản, pháp luật Việt Nam chỉ thực sự phát triển kể từ khi các luật gia Pháp tìm cách đưa vào Việt Nam những thành tựu của văn hoá pháp lý La Mã – Đức (romano-germanique) trong khuôn khổ xây dựng hệ thống pháp luật thuộc địa. Có thể nói rằng, với sự ra đời của các Bộ dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ, theo khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Napoléon, pháp luật tài sản Việt Nam đã được hoàn thiện một bước đáng kể, trên cơ sở quan niệm La Mã về sở hữu.

Nói riêng về pháp luật bất động sản, việc ban hành Sắc lệnh điền thổ ngày 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ đã đặt cơ sở cho một chế độ quản lý quyền sở hữu tư nhân về đất theo kiểu Đức khá hoàn chỉnh. Quy tắc đặc trưng của chế độ đó, ghi nhận tại Điều 362 của Sắc lệnh, thiết lập bằng khoán điền thổ (titre foncier) là bằng chứng tuyệt đối và duy nhất về quyền sở hữu đất đai, đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển tâm lý pháp luật của người Việt Nam thời Pháp thuộc và cả hiện nay[1].

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, hệ thống pháp luật thuộc địa được thay thế bằng hệ thống pháp luật XHCN, nhưng các dấu vết của luật cũ vẫn được bảo tồn trong tục lệ. Khi xây dựng pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, người làm luật đã lấy lại rất nhiều giải pháp tích cực của tục lệ bên cạnh việc tham khảo và tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong các nền pháp luật thuộc hệ thống La Mã – Đức. Bằng cách đó, luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ mới tiếp tục chịu ảnh hưởng của luật dân sự Pháp. Đặc biệt, pháp luật Việt Nam hiện hành chấp nhận quan niệm về sở hữu trong luật của Pháp[2] và sử dụng những khái niệm trong luật sở hữu của Pháp phát triển để phát triển các chế định cơ bản của pháp luật tài sản Việt Nam.

Vấn đề là, pháp luật về sở hữu bất động sản trong luật Việt Nam, như là một phần của pháp luật dân sự, không thể được xây dựng dựa trên quyền sở hữu đất đai theo kiểu Pháp. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý; cá nhân, pháp nhân và nói chung các chủ thể của quan hệ pháp luật mà không phải là nhà nước chỉ thực hiện trên đất một quyền mà về phương diện kỹ thuật, có thể so sánh với quyền của người sử dụng đất trong quan hệ với chủ đất trong luật cổ của Pháp[3]. Với quyền này, người có quyền – cũng được gọi là người sử dụng đất – có thể thu được từ đất những lợi ích vật chất nhất định có giá trị tiền tệ. Bởi vậy, chính quyền sử dụng đất, chứ không phải đất, là tài sản thuộc sở hữu tư nhân trong luật Việt Nam hiện hành.

Continue reading

MẤY Ý KIẾN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

TS. VŨ ĐỨC KHIỂN – Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá XI

Quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là một trong những nội dung cơ bản của Hiến pháp nước ta. Trong tất cả các bản Hiến pháp của nhà nước ta, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 đều dành nhiều chương, điều quy định về bộ máy nhà nước (Hiến pháp năm 1946 có 4 trong tổng số 7 chương (4/7 chương), 48 trong tổng số 72 điều (48/72 điều); Hiến pháp năm 1959 có 5/10 chương, 66/112 điều; Hiến pháp năm 1980 có 5/12 chương, 60 /147 điều; Hiến pháp năm 1992 sau khi đã được sửa đổi, bổ sung một số điều có 5/12 chương, 58/147 điều). Bởi vậy khi bàn về hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước chúng ta không thể không xem xét những quy định trong Hiến pháp về vấn đề này.

Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động lập pháp của Quốc hội các khóa IX, X và XI, các nghị quyết của Đảng được thông qua trong thời gian gần đây (Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng khóa IX đều thấy có nhiều vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước được đặt ra nhưng chưa giải quyết do “đụng trần” Hiến pháp đã quy định. Đó là tổ chức chính quyền địa phương; tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát và mới đây nhất là tổ chức Quốc hội, tổ chức Chính phủ. Công cuộc cải cách hành chính với mục đích “ nâng cao hiệu lực quản lý, tăng cường pháp quyền… xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương đến cơ sở “ và “đổi mới và tăng cường hệ thống hành pháp cả về tổ chức cán bộ, cơ chế hoạt động. Phát huy vai trò điều hành của bộ máy hành pháp” đã được đặt ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991).

Continue reading

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN CON NGƯỜI

VŨ HẠNH

Ngày xưa khi Digogène cầm đèn đi giữa ban ngày, đáp câu hỏi: "Ngài đi đâu đấy?" bằng câu: "Đi tìm một người”, hẳn nhà hiền triết thời cổ đã muốn đòi hỏi nhân tính như một biểu hiện thanh cao của một bản chất lý tưởng, khác xa với sự tầm thường ti tiện phổ biến trong những hạng người gọi là quý phái đương thời.

Ở tập cổ tích của Campuchia, dễ tìm thấy trong các tiệm sách "xôn" dọc các hè phố ngày nào, có một câu chuyện lý thú, kể một anh chàng nhìn quanh thấy ai cũng có nhiều sự thô bỉ, xấu xa, gần với loài vật hơn là loài người, bèn quyết tâm tìm cho được một người. Đợi ngày hội lớn tập trung đông đảo, anh ta cải trang làm người nghèo khổ ngồi dưới gầm cầu câu cá. Bao nhiêu là người chỉ mãi nghĩ đến cuộc vui ngày hội hoặc chỉ bận tâm về sự trưng diện của mình, thản nhiên đi qua. Cuối cùng một công chúa đến, nhìn xuống dưới cầu và chùn bước lại. Nàng bảo: "Ta không thể nào bước trên đầu người". Cận thần bèn tâu: "Nó chỉ là đứa nghèo hèn, công nương chớ quá bận tâm". Và công chúa đáp: "Dù có nghèo hèn, kẻ đó cũng biết vui buồn, cũng có giá trị của họ. Hãy bảo người ấy chèo khỏi nơi ấy, ta mới dám bước qua cầu”. Chàng đi câu nọ, nghe thế, nhủ thầm: "Đó là một người"?…

Người ta vẫn lưu ý rằng tiếng gọi con người là sự kết hợp giữa hai yếu tố, đó là tiếng con – chỉ loài động vật với những phản ứng bản năng – cùng với tiếng người chỉ những đòi hỏi vươn cao. Hình ảnh nhân sư khổng lồ, dựng lên ở giữa sa mạc Ai Cập với cái đầu người và mình sư tử, hẳn là biểu tượng rõ nhất cho cuộc chiến đấu gian nan để con người được hình thành: dù đã cố ngoi đầu lên với những sắc diện là người, nhân loại vẫn còn bị lôi kéo lại bởi những thú tính thấp hèn là cái thân xác súc vật nặng nề kéo dài ở trên mặt đất. Và chỉ khi nào con người thực sự cất nổi mình lên, rũ bỏ được sự chi phối của cái thân xác bốn cẳng để đứng vững vàng trên cái tư thế hai chân, con người mới thực sự người, để tiến đến một giai đoạn cao hơn của sự thăng hoa nhân loại.

Continue reading