NGÀY XUÂN SUY NGẪM VỀ NGHỀ LUẬT SƯ

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM

Lẽ thường, xuân về Tết đến sẽ mang điều lành đến với mọi người, mọi nhà. Với những bài báo đầu năm 2010, cũng là khởi đầu Báo Pháp Luật TP.HCM “lột xác” thì giới luật sư được đưa lên “bàn mổ” với những điều dị nghị mang đậm sự phản cảm của dư luận.

Bốn số liền (từ ngày 01 đến ngày 04/01/2010) tờ báo phê phán một số luật sư là những “con sâu làm rầu nồi canh” trong hoạt động nghề nghiệp luật sư. Với tiêu đề: Tiền thầy bỏ túi, bài báo khái quát: “… không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân”. Phải chăng Báo Pháp Luật muốn tạo ra biệt lệ?

Là người trong giới luật sư, tôi thấm thía và đau đớn vô ngần. Đành rằng, không có nghề xấu, chỉ có người xấu vì “mía sâu có đốt, nhà dột có nơi”. Điều đáng buồn ở chỗ: từ xa xưa nghề luật sư được xã hội đề cao, coi trọng như là thiên chức. Nay lại có những con sâu làm tổn thương uy tín, hoen ố thanh danh những “hiệp sĩ” mà các bậc tiền bối đã dày công gầy dựng, vun đắp.

Chúng ta cần nghiêm khắc với bản thân: “tiên trách kỷ”. Trong lúc những đồng nghiệp chân chính, chấp nhận “thà cạp đất mà ăn” chứ không cam tâm làm điều xấu, thì đó đây có những “thầy cải” sẵn sàng “bán mình cho quỷ dữ”, nhắm mắt chạy theo tiền tài, vật chất!

Nhà thơ Trần Tế  Xương đã từng cảnh báo:

Văn minh Đông Á trời thu sạch,
Này lúc cương thường đảo ngược ru!

Continue reading →

MÙA XUÂN CỦA TƯ DUY VÀ HÀNH ĐỘNG

TS. LÊ ĐĂNG DOANH

Mỗi dân tộc có trách nhiệm với chính mình phải tạo ra cơ chế dân chủ để kịp thời phát hiện thiếu sót và có dũng cảm sửa chữa để tiến lên.

Nhìn lại thập kỷ qua, chúng ta tiếp tục tăng trưởng về lượng trên những gì thiên nhiên đã ban tặng nhưng đạt được quá ít thay đổi về chất và chưa tạo được cơ sở nào cho một đột phá trong tương lai.

Trong thời khắc thiêng liêng giao thời, kết thúc năm cũ, đón năm mới, mỗi người trong chúng ta đều dành cho riêng mình những phút suy tư, nghĩ về những việc trong năm cũ, những điều đã làm được và chưa làm được, nghĩ về năm mới với những dự báo, những dự định, hoài bão cho đất nước, cho dân tộc, trong đó có cá nhân mình.

Suy nghĩ để hành động, vì tất cả đều bắt đầu bằng hành động mới đi đến biến đổi hiện thực. Năm Canh Dần 2010 này là năm cuối cùng của một thập kỷ, cũng là dịp để ta nhìn lại cả mười năm qua và dự tính công việc cho mười năm tới.

Tiếp theo những năm đầu cải cách và hội nhập trong những thập kỷ 1990, trong thập niên 2001-2010 này, Việt Nam đã tiếp tục có những thành tựu nhất định và vẫn được Ngân hàng Thế giới, Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc ca ngợi và nêu gương cho các nước nghèo, chậm phát triển về thành tích tăng trưởng kinh tế cao và xóa đói giảm nghèo nhanh.

Lời khen đó có người ví với phiếu “bé ngoan” cho những trẻ mẫu giáo. Từ năm 2008, nước ta cũng đã vượt qua được ngưỡng “nước thu nhập thấp” (935 đô la Mỹ/người) – một từ hoa mỹ để chỉ nước nghèo – để gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, tuy ta đang ở mức thấp nhất trong nhóm các nước này. Đó là những tiến bộ có thực đáng trân trọng tuy còn dưới tiềm năng của đất nước và con người Việt Nam.

Continue reading →

QUYỀN TƯ PHÁP TRONG CÁC CHÍNH THỂ HIỆN ĐẠI

BÙI NGỌC SƠN – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong khoa học từ trước đến nay, sự phân biệt cụ thể các mô hình chính thể chủ yếu dựa vào quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp mà ít thấy vai trò của quyền tư pháp. Người ta nhận thức rằng, dưới góc độ chính thể, không thấy sự khác nhau giữa tư pháp của hình thức nhà nước này với tư pháp của hình thức nhà nước khác. Điều này được lý giải là: dù nhà nước được tổ chức theo hình thức này hay hình thức khác, thì tư pháp với đặc tính của nó vẫn tồn tại độc lập 1 .

Theo truyền thống, đối tượng tác động của quyền tư pháp là các tranh chấp trong nhân dân và tranh chấp giữa nhân dân với nhà nước. Nhưng cùng với xu hướng phát triển của dân chủ, toà án còn xem xét cả hành vi của các quan chức hành pháp, thậm chí là cả tổng thống trong chính thể cộng hoà tổng thống. Như vậy, tương quan quyền lực trong mô hình chính thể có sự quan hệ giữa tư pháp và hành pháp. Hơn nữa, quyền tư pháp còn xem xét cả hành vi của Quốc hội lập pháp. Cùng với việc mở rộng đối tượng xét xử của toà án đối với các hoạt động của Chính phủ và Quốc hội, quyền tư pháp không còn thuần tuý mang tính chất tố tụng mà thực tế trên phương diện nào đó trở thành một cành quyền lực ngày càng quan trọng, là một yếu tố không thể bỏ qua trong việc xem xét toàn diện mô hình chính thể ở các quốc gia hiện đại.

Như vậy, việc xác định một mô hình chính thể không chỉ dựa vào quan hệ giữa lập pháp và hành pháp mà còn phải dựa vào quan hệ giữa tư pháp với các cành quyền lực đó. Trong mỗi một mô hình chính thể, quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp là khác nhau. Để làm sáng tỏ vấn đề này, dưới đây chúng tôi sẽ phân tích sự khác nhau của quyền tư pháp trong các chính thể hiện đại.

Quyền tư pháp trong chính thể cộng hoà tổng thống

Chính thể cộng hoà tổng thống, mà điển hình ở Mỹ, là một mô hình chính thể áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn. Biểu hiện của nguyên tắc này trong quan hệ lập pháp và hành pháp đã được nói đến nhiều trong các ấn phẩm viết về Hiến pháp. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp, nó ít được đề cập đến. Sự kìm chế và đối trọng không chỉ được thể hiện trong quan hệ lập pháp và hành pháp mà còn trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp.

Continue reading →

VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

PHÙNG VĂN HÙNG – Trung tâm TTTV&NCKH- Văn phòng Quốc hội

Nền kinh tế nước ta đi được một chặng đường 16 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường (Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2002). Đó là một quãng thời gian khá ngắn ngủi so với sự phát triển của các nền kinh tế thị trường khác trên thế giới với bề dày lịch sử hàng trăm năm. Thế nhưng, chúng ta cũng đã được " nếm đủ vị cay đắng, ngọt bùi " của 16 năm xây dựng nền kinh tế đó. Tuy nhiên có thể nói, người được hưởng lợi nhiều nhất chính là người dân. Người dân đã có cuộc sống dễ chịu hơn với hàng hoá, dịch vụ đa dạng hơn, chất lượng cao hơn, nhưng giá lại rẻ hơn. Nói tóm lại, nền kinh tế thị trường bước đầu đã đem lại sự phát triển cho nền kinh tế của đất nước, góp phần tích luỹ, tái đầu tư cho phát triển.

Vì nền kinh tế thị trường có nhiều ưu thế phải ghi nhận, nên có một số ý kiến cho rằng nó tự điều chỉnh theo quy luật cung cầu, không cần phải có sự can thiệp của Nhà nước và mọi sự can thiệp như vậy chỉ làm giảm hiệu quả của nó. Thậm chí họ cho rằng, " bàn tay vô hình " 1 mà Adam Smith nói tới, có thể giải quyết được tất cả. Thực tế ở các nước tư bản phát triển lại chứng minh rằng, Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tối đa thế mạnh của cơ chế thị trường, đồng thời hạn chế tối đa các mặt tiêu cực của nó. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với đất nước ta, một nước đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, lấy " dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" làm mục tiêu cho giai đoạn cách mạng tới.

Vì vậy, trong khuôn khổ có hạn, bài viết này chỉ phân tích một số vấn đề cụ thể nhằm làm rõ thêm vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Continue reading →

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ NHỮNG BÀI TOÁN ĐẶT RA CHO NĂM 2010

THS. TRỊNH THANH HUYỀN

Năm 2009 đang dần khép lại, nhưng dường như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn chưa có điểm dừng, vì thế, những khó khăn kinh tế đối với các nước nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn đó. Ngày 7/12/2009, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke cũng thừa nhận tuy nền kinh tế đầu tầu thế giới không bị rơi vào cuộc suy thoái kép nhưng vẫn còn quá sớm để khẳng định nền kinh tế Mỹ đã phục hồi lâu dài. Khu vực đồng Euro cũng đã có những dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn chưa đủ để Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thay đổi mức lãi suất chủ chốt 1% của mình. Sự chững lại của đất nước “mặt trời mọc” do đồng Yên mạnh và giá tiêu dùng liên tục sụt giảm buộc Nhật Bản phải thông qua gói kích thích kinh tế lên tới 24.400 tỷ yên (khoảng 274 tỷ USD) hôm 8/12/2009 vừa qua.

Đó là với phần còn lại của thế giới, còn với Việt Nam, có thể khẳng định, đà suy giảm đã được ngăn chặn và sự phát triển đã bắt đầu trở lại. Đến thời điểm hiện nay, tới 18/25 chỉ tiêu đặt ra cho năm 2009 đã đạt và vượt; tốc độ tăng GDP của 11 tháng/2009 đạt trên 5% (tốc độ tăng GDP 3 quý đầu năm 2009 lần lượt đạt 3,1%, 4,5% và 5,8%); tăng trưởng tín dụng trên 30%, bội chi ngân sách khoảng 6,9%, an sinh xã hội được đảm bảo. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 11 tháng mới chỉ ở mức 5,07%. Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng với tổng giá trị vốn hóa thị trường tính đến 30/11/2009 lên tới 669.000 tỷ đồng, tương đương với 55% GDP năm 2008, tăng gần gấp 3 lần so với mức 225.934 tỷ đồng cuối năm 2008. Chỉ số Vn-Index đã tăng từ 235,5 điểm (tháng 2/2009) lên 570 điểm vào tháng 8/2009, và đạt đỉnh vào phiên ngày 23/10/2009 với 633,21 điểm.

Song, xem xét một cách toàn diện thì kinh tế – tài chính Việt Nam vẫn còn dấu hiệu bất ổn. Tuy TTCK đã khởi sắc, song vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mà điển hình là tình trạng thăng giáng quá thất thường trong những phiên đầu tháng 12 khiến các mốc kháng cự liên tục bị phá vỡ (ngày 11/12/2009, Vn-Index đã xuống dưới mức 450 điểm). Diễn biến giá vàng và ngoại tệ làm “đứng tim” không ít nhà đầu tư với những cuộc “nhảy múa” ngoài sức tưởng tượng.

Continue reading →

RÀ SOÁT PHÁP LUẬT TẠI TIỂU BANG NORDHEIN WASTFALEN VÀ KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN HÓA Ở VIỆT NAM

TS. KLAUS SCHONENBROICHER – Cục kiểm tra quy phạm liên ngành, Bộ Nội vụ, Tiểu bang Nordrhein- Westfalen CHLB Đức 

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Khoa Luật, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1. Sự cần thiết và những vấn đề cơ bản về rà soát pháp luật

Trong khuôn khổ hoạt động lập pháp liên bang, từ năm 1954 đến 1968, CHLB Đức đã tiến hành một đợt tổng rà soát pháp luật. Sau đợt tổng rà soát này, pháp luật liên bang đã được xác định lại trên cơ sở các văn bản đã được rà soát bao gồm các văn bản cập nhật và có hiệu lực2. Hệ thống pháp luật CHLB Đức vào thời điểm bắt đầu tiến hành đợt tổng rà soát cũng có nhiều điểm tương đồng với hiện trạng pháp luật Việt Nam hiện nay.

Một vài năm trước đây, Tiểu bang Nordrhein-Westfalen (NRW) cũng tiến hành một đợt tổng rà soát pháp luật. Trong đợt tổng rà soát đó, toàn bộ pháp luật tiểu bang đã được kiểm tra, tập hợp thành năm “gói” pháp luật lớn. Các văn bản này sau khi được rà soát đã được xử lý thông qua các điều khoản bãi bỏ hoặc các điều khoản quy định về nghĩa vụ báo cáo sau một thời gian thực hiện. Mục tiêu của các nhà lập pháp lúc đó không chỉ nhằm xây dựng được một hệ thống pháp luật liên bang mang tính cập nhật và đầy đủ, đồng thời loại bỏ các quy định đã hết hiệu lực hoặc lạc hậu mà còn nhằm tập hợp và duy trì tính cập nhật thường xuyên của các đạo luật và văn bản dưới luật, đảm bảo các văn bản này luôn trong tình trạng có hiệu lực và phù hợp với thực tiễn. Điều này sẽ có tác dụng giảm mạnh quan liêu hành chính trong hoạt động lập pháp3.

Từ kết quả hai đợt tổng rà soát pháp luật của CHLB Đức và của Tiểu bang NRW, chúng tôi cho rằng, trong công tác rà soát pháp luật ở Việt Nam cần lưu ý đến một số vấn đề cụ thể sau:

Continue reading →

CÁC ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI THEO BỘ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT CỦA HOA KỲ

ĐỖ MINH TUẤN| Hanoi BizLaw

Các doanh nghiệp Việt Nam khi giao kết hợp đồng xuất khẩu hoặc nhập khẩu với Hoa Kỳ Canada cần lưu ý rằng điều kiện thương mại áp dụng bởi các thương nhân Bắc Mỹ (bao gồm Mỹ và Canada, thậm chí của Mexico) đều thích áp dụng các điều kiện thương mại theo tập quán của Bắc Mỹ. Văn bản qui phạm pháp luật thể hiện rõ nét các điều kiện thương mại này là Bộ Luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ. Các điều kiện thương mại của Bắc Mỹ khác nhiều so với các điều kiện thương mại được qui định trong Incoterms 2000 và Incoterms 1990. Trong Bộ Luật Thương mại thống nhất có năm điều kiện thương mại cơ bản là F.O.B, F.A.S, C.I.F, C.&.F, và Ex-Ship.

Điều kiện F.O.B Bắc Mỹ có hai loại là F.O.B nơi bốc xếp và F.O.B nơi đến. Nếu áp dụng F.O.B nơi bốc xếp (the place of shipment) thì người bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển và chịu mọi chi phí và rủi ro cho đến khi hàng được giao cho người vận chuyển tại cảng bốc xếp. Còn theo F.O.B nơi đến (the place of destination) thì người bán phải chịu rủi ro cho đến khi hàng được giao cho bên bán tại nơi đến. Đây là một điểm khác biệt so với FOB trong Incoterms 2000, theo FOB – Incoterms 2000 thì người bán sẽ được giải phóng trách nhiệm kể từ thời điểm hàng vượt qua lan can tàu tại cảng bốc xếp. Do vậy nếu áp dụng F.O.B Bắc Mỹ cần lưu ý ghi rõ là F.O.B nơi bốc xếp hay F.O.B nơi đến.

Nếu điều kiện F.A.S (Free alongside) được áp dụng thì người bán có nghĩa vụ giao hàng dọc mạn tàu tại cảng chỉ định và chịu mọi phí tổn và rủi ro cho đến khi hàng được giao dọc mạn tàu tại cảng chỉ định.

Cùng với F.O.B các thương gia Bắc Mỹ rất ưa chuộng C.I.F. Điều kiện C.I.F có nghĩa là bên bán sẽ chịu phí bảo hiểm vận chuyển hàng hóa và cước phí vận tải. Về bản chất thì C.I.F Bắc Mỹ cũng tương tự với CIF của Incoterms 2000.

Continue reading →

TẢM MẠN NGÀY TẾT: TỪ “ĂN” ĐẾN … “ĂN TẾT” – SỰ THÚ VỊ CỦA NGÔN TỪ TIẾNG VIỆT

212 VĂN TÌNH

Ăn là câu chuyện của muôn thuở. Từ cổ chí kim, hỏi có ai không ăn mà sống được? Tết nhất hội hè, người ta thường hay tổ chức ăn uống linh đình, đó cũng là chuyện đương nhiên. Ở đây, chúng ta không có ý lạm bàn về chuyện ẩm thực (ẩm: uống, thực: ăn) mà muốn bàn về một vấn đề liên quan tới ngôn ngữ. Đó là ngữ nghĩa của tổ hợp từ "ăn Tết".

Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên) đã thống kê tới 159 tổ hợp có từ ăn đứng đầu. Dĩ nhiên, các từ này phải có nghĩa xuất phát, nghĩa cơ bản của ăn, được giải thích là “tự cho vào cơ thể thức nuôi sống”.

Ăn cơm, ăn cháo, ăn cám, ăn cỏ, ăn ráy, ăn khoai,… là ăn các thức ăn cụ thể. Ăn sáng, ăn trưa, ăn tiệc, ăn cỗ, ăn sam,. .. nói về việc ăn trong các thời điểm và nghi thức, kiểu cách khác nhau. Ăn bớt, ăn bẩn, ăn chặn, ăn cắp,… là các lối “ăn” được coi là xấu, liên quan tới tư cách, phẩm chất của người ăn,… Miếng ăn quá khẩu thành tàn(tục ngữ) mà!

Tuy nhiên, có một loạt tổ hợp ăn mà nghĩa chung của nó lại được thay đổi lệch sang thành tố sau. Ví dụ:

– ăn chia: chia phần (giữa những người, những bên cùng tham gia một công việc nào đó). Tụi mình đã làm ăn với nhau trước hết ăn chia phải sòng phẳng; ăn cho đều kêu cho sòng (tục ngữ).

– ăn chơi: chơi bời, tiêu khiển bằng các thú vui vật chất (và tinh thần). Tay ấy được coi là kẻ ăn chơi bậc nhất, sẵn sàng ném tiền qua cửa sổ.

Continue reading →

QUYỀN TỰ CHỦ QUỐC GIA VÀ CHUẨN QUỐC TẾ TRONG KINH TẾ

ĐỖ TUYẾT KHANH

Trong những lời buộc tội toàn cầu hóa, có một luận điểm thường được đưa ra, đáng ngạc nhiên là xuất phát từ những khuynh hướng chính trị rất khác nhau nếu không muốn nói đối nghịch: từ tả sang hữu, các phong trào đối kháng thường tố cáo rằng toàn cầu hoá xâm phạm chủ quyền của các quốc gia, thậm chí đe dọa sự sống còn của các nhà nước dân tộc (nation states).

Đối với phía tả, toàn cầu hoá đồng nghĩa với chủ nghĩa tự do cực đoan trong kinh tế (ultra-liberalism). Trước sự bành trướng và sức mạnh khổng lồ của các đại công ty đa quốc gia, các nhà nước phải giới hạn lại vai trò và phạm vi hoạt động của mình và càng yếu thế hơn nữa khi phải tuân thủ các quyết định ràng buộc của các tổ chức quốc tế được coi như vừa là công cụ vừa là hiện thân của chủ nghĩa tự do cực đoan này như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO).

Theo phái hữu, nhất là ở Mỹ, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm khi luật quốc tế không cho phép nhà nước bảo vệ quyền lợi các thành phần dân chúng qua các chính sách hành chính hay pháp chế. Thí dụ mất chủ quyền hay được đơn cử nhất là việc chính quyền Mỹ không được dùng đến các biện pháp đơn phương quen thuộc để o ép các nước khác vì như thế vi phạm các quy định của WTO, hoặc phải chấp hành các quyết định của bộ phận giải quyết tranh chấp của WTO sau các vụ kiện.

Điều rõ ràng là toàn cầu hoá đã đi kèm với sự xuất hiện của nhiều yếu tố mới, như Internet và những công nghệ tiên tiến, thay đổi cục diện và mối tương quan giữa các tác nhân : chính quyền, tổ chức quốc tế, doanh nhân, và xã hội công dân. Trong bối cảnh đó, vai trò của các nhà nước dân tộc đã thay đổi thế nào, chủ quyền quốc gia trong kinh tế có thật sự bị thương tổn không và cho đến mức độ nào? Ở đây cần phân biệt chủ quyền (sovereignty) và quyền tự chủ (autonomy), tuy trong công luận và sách vở chỉ thường dùng chữ chủ quyền để nói đến quyền tự chủ. Sự lẫn lộn dễ hiểu vì thật ra hai cụm từ này chỉ là hai mặt của một vấn đề: chủ quyền là một khái niệm pháp lý, de jure, và qưyền tự chủ là biểu hiện thực tiễn, de facto, của khái niệm ấy. Do đó chữ chủ quyền thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả hai mặt này. Nếu theo định nghĩa hẹp, như trong công pháp quốc tế, chủ quyền là quyền lực tối cao ban hành và áp dụng các luật lệ và chính sách, cai quản mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một nước, thì có thể nói không nơi nào chủ quyền bị sứt mẻ, kể cả trong những nước thành viên của Liên hiệp châu Âu, vì chưa có hệ thống nào thay thế, ở mức quốc gia, các nhà nước trong chức năng ấy. Nhưng các nhà nước có thật sự chủ động tới đâu trong việc chọn lựa chính sách và các luật lệ và biện pháp thi hành lại là chuyện khác. Quyền tự chủ ấy bị giới hạn bởi nhiều ràng buộc và cản trở, ở mức độ quốc gia và quốc tế, do nhiều yếu tố, chủ yếu là tình hình kinh tế và chính trị thế giới, tương quan lực lượng giữa các nước, và hệ thống pháp lý quốc tế.

Continue reading →

LƯƠNG CÔNG CHỨC VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

TÂY GIANG

Ngày càng có nhiều công chức bỏ việc trong các cơ quan nhà nước để làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nguyên nhân chính là lương thấp nhưng bên cạnh đó còn là những câu chuyện khác.

Bỏ công chức vì lương?

Báo cáo mới đây từ hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ cho thấy chỉ trong giai đoạn 2003 – 2007 đã có tới 16.000 cán bộ công chức tự nguyện ra khỏi các cơ quan công quyền. Tỷ lệ này đặc biệt cao ở thị trường lao động sôi động nhất cả nước là TP.HCM, khoảng 40%, tương đương với khoảng 6.500 người. Trong hai năm trở lại đây tuy chưa thống kê nhưng có nhiều quan chức đã tự nguyện rời bỏ cơ quan công quyền gây xôn xao dư luận như ông Lương Văn Lý, phó giám đốc sở Kế hoạch và đầu tư TP.HCM, ông Kiều Hữu Dũng, vụ trưởng vụ Các ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng thuộc ngân hàng Nhà nước…

Tại một cuộc khảo sát được thực hiện với 460 công chức thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ Thuỷ sản (cũ), tỉnh Nam Định và Hoà Bình thì có tới 50% công chức trả lời lý do chính để họ có thể bỏ việc là lương. Tuy nhiên thực tế có thể không hoàn toàn như vậy.

Hiện tại hệ thống lương thưởng và trợ cấp của cán bộ công chức rất phức tạp. Phần lương chính được tính theo lương tối thiểu nhân với hệ số. Trong những năm gần đây lương tối thiểu được nâng hàng năm và hệ thống thang bảng lương đã được điều chỉnh. Tuy vậy, theo kết quả nghiên cứu do Ban nghiên cứu của Thủ tướng thực hiện cách đây mấy năm cho thấy lương chỉ chiếm khoảng 30% thu nhập trung bình của cán bộ công chức.

Continue reading →

THỜI GIAN VỚI GIAO THỪA

image BĂNG SƠN

Thời gian là cái gì đó, hoàn toàn vô hình nhưng lại hết sức hữu hình. Nó như một nguyên tố không màu, không mùi, không vị, không đặc, không loãng, cứ lặng lẽ trôi nhưng bất biến.

Không hiểu Đoàn Phú Tứ, một nhà văn tài năng một dịch giả uyên thâm, suốt đời chỉ làm một bài thơ độc nhất rồi chỉ viết văn mà không bao giờ làm thơ nữa, ông viết rằng:

Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian thanh thanh.

Lại còn chú thích rằng tím ngát chứ không phải tím ngắt thì ông nghĩ thế nào, thấy một thứ thời gian có màu và hương trong hoàn cảnh nào?

Nhà khoa học, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu, một nhà thiên văn lỗi lạc của thời nay, của Việt Nam và của nước Pháp, ông đã tìm ra một ngôi sao mới cách trái đất ba vạn năm ánh sáng. mà ta biết một giây ánh sáng đã là ba mươi vạn cây số, không hiểu khoảng cách, con đường xa muôn triệu dặm ấy được đó bằng thời gian như thế nào trong khối óc một con người Việt Nam, tuy xa đất nước nửa thế kỷ nhưng vẫn luôn thuần khiết Việt – Nam – Hồn…

Phút giây giao thừa, thời gian vẫn một dòng tuôn chảy không hề ngừng nghỉ, đứt đoạn, nhưng ta vẫn cảm thấy có một cái gì ngừng lại, vừa mới mất, vừa đang đến, vừa ở lại, vừa thêm ra, vừa giầu lên trong ta. Bước ai đi ngoài kia trống giục và mưa bay, trong niềm xuân phơi phới, có phải là bước của thời gian. Trong này, hoa và hương, đèn và nến, tỉnh và mộng, thực và ảo, người ta yêu và người yêu ta đang hàm tiếu một loài hoa … có phải đó là hình ảnh của thời gian.

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trong thời đại ngày nay, nguồn nhân lực được coi là yếu tố hàng đầu quyết định quy mô, tốc độ, tính chất và hiệu quả của sự phát triển kinh tế – xã hội ở mọi quốc gia. Đào tạo nguồn nhân lực này là trách nhiệm của xã hội, của nhà nước, của các cộng đồng và của mỗi công dân. Nhu cầu tạo dựng nguồn nhân lực này đòi hỏi phải phân định vai trò của các bộ phận trong nguồn nhân lực (đội ngũ trí thức, tầng lớp chính khách và doanh nhân). Với Việt Nam hiện nay, việc tạo dựng và phát triển tam giác nhân lực này là trách nhiệm xã hội của toàn thể cộng đồng, của cả quốc gia, trước hết là của Nhà nước, không ai có thể làm thay Nhà nước trong việc xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển nhân lực.

Sự phát triển các lực lượng sản xuất của nhân loại suốt chiều dài lịch sử đã tích tụ trong nó sự phát triển mang tính bùng nổ trong giai đoạn hiện nay và tạo nên bước nhảy vọt mới của đời sống kinh tế nói riêng, đời sống xã hội nói chung. Sự hình thành kinh tế tri thức đang mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại với rất nhiều hệ quả mà hiện nay, chúng ta chưa thể nhận thức và thấu hiểu hết. Có lẽ cuộc khủng hoảng toàn cầu mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay chỉ là một trong nhiều biểu hiện của sự xung đột giữa kinh tế tri thức đang hình thành và ngày một phát triển với những thể chế cũ do nền đại công nghiệp tạo nên nhưng đã không còn thích ứng với thời đại mới. Ngay cả con người cũng đã không còn thích ứng với những hoạt động của nền kinh tế mới theo những quy tắc khác với thời đại công nghiệp. Kinh tế tri thức dù mới chỉ hình thành ở mức độ khiêm tốn so với nền đại công nghiệp đang thống trị khắp nơi, nhưng nó lại đang đòi hỏi bản thân con người cũng phải thay đổi trên nhiều phương diện. Trong thời đại ngày nay, khi mà kinh tế tri thức đang ngày càng trở thành hiện thực với tốc độ nhanh hơn nhiều so với tốc độ phát triển kinh tế công nghiệp trước đây, thì nguồn nhân lực của quốc gia trở thành nguồn lực chính yếu nhất cho sự phát triển đất nước. Muốn đẩy nhanh sự phát triển, thực hiện phát triển bền vững cả từ nội dung môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội, cả từ góc độ vi mô lẫn vĩ mô thì không thể không tạo dựng nguồn nhân lực quốc gia.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 241/BXD-QLN NGÀY 10 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ BÁO CÁO TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CĂN HỘ NHÀ CHUNG CƯ LÀM CƠ SỞ SẢN XUẤT, KINH DOANH, VĂN PHÒNG

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian vừa qua, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đã phản ánh một số vấn đề tồn tại trong quản lý sử dụng nhà chung cư, trong đó có việc sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng dân cư trong nhà chung cư. Để hướng dẫn địa phương thực hiện các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư, Bộ Xây dựng đã có Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19/11/2009 đề nghị một số địa phương, nơi có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng khẩn trương rà soát, trên cơ sở đó lập kế hoạch, lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để chấn chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng và đặc biệt quan tâm đến công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư.

Trong Công văn số 2544/BXD-QLN đã nêu rõ: đối với nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng này như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

Để tăng cường công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, kịp thời nắm bắt tình hình cũng như những ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng của việc sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng, Bộ Xây dựng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo kiểm tra, thống kê việc sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng tại các nhà chung cư (kể cả nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp trong đó có căn hộ) trên địa bàn, từ đó đề xuất lộ trình, phương án giải quyết phù hợp và báo cáo về Bộ Xây dựng, số 37 phố Lê Đại Hành – Hà Nội trước ngày 30/3/2010 (có Biểu mẫu báo cáo kèm theo).

Điện thoại liên hệ: 04 39746478; Fax: 04 38215208./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CHUYỆN PHONG TỤC TẾT

NGUYỄN VINH PHÚC

Lễ tết là thuộc về phong tục. Trong phong tục của cả nước có phong tục riêng của từng vùng. Mỗi vùng đóng góp những phong tục của mình vào phong tục chung. Hà Nội cũng vậy, từ xưa để hình thành một vùng “Văn hóa kinh kỳ” cũng có tục đón Tết riêng.

Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay đổi các chế độ chính trị cũng ảnh hưởng tới phong tục giã từ cái cũ, tiếp nhận cái mới. Lễ tết cũng vậy, tuy vẫn giữ căn cốt cổ truyền song tết ờ Hà Nội cũng có đổi thay cùng thời gian. Tựu trung vẫn là có hai khâu cơ bản: chuẩn bị và ăn tết.

Có tới vài chục năm đầu thế kỷ XX, giáp Tết ở Hà Nội, nhà nào cũng quét dọn cửa nhà, lau chùi bàn thờ, sắm sanh lễ vật… Về may mặc thì nhà giàu sắm áo gấm, áo đoạn, khăn lượt, khăn nhung… Nhà bình dân thì cũng cố cho được tấm áo dài bằng the, bằng lương, cái khăn lụa, khăn sồi. Nhất là con gái dậy thì, bố mẹ tất mua cho cái khăn vấn tóc bằng nhiễu Tam giang và bộ dây xà tích:

Khen ai nhuộm nhiễu Tam giang
Kéo dây xà tích cho nàng chơi xuân.

Rồi nhà giàu thì lên Hàng Ngang mua vài củ thủy tiên về gọt tỉa, đến Hàng Khoai, Hàng Lược mua hoa cúc, hoa đào, sang Hàng Cân mua bào ngư, long tu. Tới Hàng Bạc để “tắm” lại các đồ trang sức bằng vàng.

Nhà nghèo thì lên Hàng Bồ mua chữ, mua câu đối viết trên giấy, lên Hàng Mã mua vài cành hoa giấy, vào chợ Đồng Xuân mua miến, mua măng và cũng là dịp duy nhất trong năm là lên Hàng Chiếu mua một cặp chiếu đậu có hình chữ Thọ đỏ chót…

Continue reading →

QUAN NIỆM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NƯỚC TA

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử, thiết nghĩ chúng ta tìm hiểu sự áp dụng của nguyên tắc này qua hai mô hình tố tụng là mô hình tranh tụng thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và mô hình thẩm xét ở các nước châu Âu lục địa, trong đó điển hình là Pháp.

Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm.89

Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại. Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm.90 Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm.91 Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định.92

Trái lại, các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng nguyên tắc này là: thứ nhất, với quan niệm rằng thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được sự bổ trợ những kinh nghiệm thực tế cuộc sống của hội thẩm hay phụ thẩm khi xét xử nhưng dầu sao vẫn là những con người bình thường, tức là cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa áp cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm).93 Toà án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan.94 Thứ hai, nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán sơ thẩm. Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn. Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm.95

Continue reading →

KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ NHẬN THỨC LUẬN CHUYỂN ĐỔI

TS. VƯƠNG QUÂN HOÀNG – Đại học Tổng hợp Brussels (Bỉ)

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa thập niên thứ hai, thế kỷ XXI. Tuy vậy, mốc thời gian không quan trọng bằng những đổi thay chóng mặt của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, và những biến đổi sâu sắc nó sẽ mang lại. Quá trình ấy, ngay bây giờ, lại được phóng đại qua lăng kính của những biến động toàn cầu do khủng hoảng kinh tế – tài chính 2007 – 2009, điều có thể dẫn tới những biến đổi lớn về cấu trúc kinh tế nhân loại, cũng như diễn tiến địa – chính trị khắp nơi trên thế giới.

1 – Kinh tế Việt Nam năm 2009

Dân số nước ta hiện nay xấp xỉ 85,9 triệu người, hiển nhiên là một quốc gia có dân số lớn của hành tinh khoảng 7 tỉ. Nếu như phần đông kinh tế gia quen với khái niệm bản chất của lạm phát là do quá nhiều tiền cạnh tranh nhau để giành về một số lượng quá ít hàng hóa, thì ở một nghĩa khác, nói như Min-tơn Frai-men (Milton Friedman), đó cũng có thể là quá nhiều người tìm kiếm một số lượng hàng hóa rất hữu hạn. Như vậy, dân số lớn, bên cạnh ưu điểm nguồn lao động dồi dào, chính là một câu hỏi lớn về khả năng cải thiện kinh tế.

Trong suốt hơn hai thập niên đổi mới, kinh tế Việt Nam liên tục duy trì đà tăng trưởng tương đối. Chất lượng mở rộng kinh tế thể hiện qua thống kê GDP bình quân đầu người từ mức 200 USD/người (năm 1986) đã tăng lên gấp 5 lần, đạt 1.000 USD/người vào năm 2008, và ước tính sẽ vượt 1.200 USD/người sau năm 2010. Sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam cũng thể hiện ở quy mô vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên. Dù chịu ảnh hưởng từ các biến động kinh tế quốc tế, trở ngại của môi trường kinh doanh trong nước, sự gia tăng cạnh tranh thu hút nguồn lực từ các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới, liên tục trong hai thập niên, tỷ lệ FDI so với GDP chỉ hai lần thấp hơn tăng trưởng GDP thực tế, vào các năm 1991 – 1993 và 2003 – 2007. Lượng vốn FDI năm 2009 vẫn có được tín hiệu tốt, một cách so sánh so với bối cảnh khu vực, với mức cam kết mới 20 tỉ USD, và phần giải ngân lượng cam kết quá khứ để cấu thành nguồn lực thực tế 8 tỉ USD.

Continue reading →

CÁC VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

TS. PHAN HỮU THƯ

Trong 360 năm dài tồn tại, triều đại nhà Lê đã để lại cho hậu thế những thành tựu to lớn trên lĩnh vực pháp luật và điển chế. Trong số các thành tựu đó phải kể đến Quốc triều Hình luật, một Bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của Triều Lê. Quốc triều Hình luật cũng chính là Bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ được  đầy đủ cho đến ngày nay.

Theo như tên gọi, Quốc triều Hình luật chính là Luật hình Triều Lê, nghĩa là chỉ bao gồm những quy định liên quan đến  luật hình sự  đương  thời. Tuy nhiên, do ra đời  từ  năm 1470 đến  1497 hoặc sớm hơn cho nên người  làm luật thời đó chưa phân biệt rạch ròi các ngành luật như bây giờ.

Quốc triều  Hình luật  bao gồm sáu quyển,  mỗi quyển  có hai chương,  riêng quyển  ba có ba chương.  Trong đó hai chương  Hộ hôn và Điền sản nằm trong quyển sáu là những chương  quy định về dân sự nhiều nhất, mặc dù rải rác trong một số chương  đều đề cập một vài vấn đề dân sự hoặc hôn nhân gia đình.

Theo Vũ Văn Mẫu thì trong Bộ luật của nhà Lê có rất nhiều điều tân kỳ mà cả các Bộ luật đời nhà Đường  cũng như các Bộ luật Trung Hoa không đề  cập. Những điều tân kỳ nằm rải rác ở khắp các chương nhưng chủ yếu tập trung ở hai chương  Hộ hôn và Điền sản, bởi vì, theo quan niệm cổ điển, các điều thuộc về dân luật thường không được  các nhà làm luật Đông phương quy định. Vì vậy, trong luật Trung Hoa, không có các quy định rõ ràng về cách thức thảo các văn tự, chứng thư, chúc thư, không định rõ về chế độ tài sản của vợ chồng trong lúc sinh thời cũng như trong lúc góa bụa, không ấn định minh bạch các việc về  thừa kế. Trong khi đó, các vấn đề  này đã được  lần lượt trình bày trong Quốc triều Hình luật. Điều 366 quy định về cách thức làm chúc thư hay các chứng thư  khác, Điều 374, 375, 376 quy định về  chế  độ  tài sản riêng của vợ  chồng; trong các điều khác (từ Điều 288-400) đã quy định các vấn đề về thừa kế và hương hỏa.

Continue reading →

MÂM NGŨ QUẢ VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI VIỆT

ANH TUẤN

Tết Việt, nhà nào cũng có mâm ngũ quả bày trên bàn thờ cho dù nhà nghèo hoặc ngày tết có thiếu vài thứ nhưng mâm ngũ quả biểu trưng cho năm lời chúc là: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh vẫn là món cúng không thể thiếu. Mâm ngũ quả của người Việt biểu thị lòng tôn kính, biết ơn tổ tiên của các thế hệ cháu con, “ăn quả nhớ người trồng cây”, tượng trưng cho sự “Viên tròn Quả phúc” là khát vọng của gia đình trong năm mới.

Theo từ Hán Việt thì chữ Phúc trong ngũ quả chính là ước mong gia đình xum họp đông vui, hạnh phúc. Chữ Lộc cầu cho cả nhà được hưởng sự no đủ trong cuộc sống quanh năm. Chữ Thọ mang lời ước được sống trọn đời khỏe mạnh, sống trăm tuổi. Chữ Khang có nghĩa là an khang, an nhàn, tự tại, luôn minh mẫn, hoạt bát trong suốt cả năm. Chữ Ninh là lời ước gia đình ấm êm, tai qua nạn khỏi của cả gia đình và nhà cửa…

Mâm ngũ quả còn là sự tượng trưng cho luật cân bằng âm dương của vũ trụ và của cuộc sống con người. Người xưa quan niệm màu xanh của hoa quả mang tính âm (nải chuối xanh, đu đủ xanh…), trái chín có tính dương (trái thơm, quả hồng, quả cam…).

Mâm ngũ quả cũng tượng trưng cho thuật ngũ hành, cấu tạo nên vật chất của Trời Đất và con người (Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).

Mâm ngũ quả còn tượng trưng cho hương vị của cuộc sống mà con người phải trải qua: Ngọt, bùi, chua, cay, đắng (ngũ vị, ngũ quả).

Continue reading →

THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: ÔI . . . THÂN CHỦ!

THANH TÙNG Ghi

Không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống hài hước đến mức… cười ra nước mắt. Sau một lúc lâu chờ được gặp, vị khách hàng trịnh trọng yêu cầu luật sư chỉ giúp… một bác sĩ Đông y giỏi để trị bệnh đau lưng.

Khách hàng tìm luật sư cậy nhờ về pháp lý là chuyện thường tình. Nhưng trong đời hành nghề, không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống ngược đời hài hước đến mức… cười ra nước mắt như những câu chuyện mà luật sư TNQ (Đoàn Luật sư TP.HCM) chia sẻ dưới đây.

Nhờ luật sư chỉ giùm bác sĩ

Một ngày đẹp trời nọ, một khách hàng đã luống tuổi, vẻ mặt còn khá minh mẫn, ăn mặc lịch sự bước vào văn phòng của luật sư Q. Cô tiếp tân báo rằng luật sư đang tiếp khách, mong ông cụ vui lòng chờ. Ông cụ gật gù cười tươi rói: “Năm phút chứ 50 phút tui cũng chờ để gặp luật sư bằng được, cô ơi!”.

Rồi cũng đến lúc gặp luật sư, ông cụ trịnh trọng vào đề: “Thưa luật sư, có chuyện này rất quan trọng, luật sư đi nhiều, quan hệ rộng, mong giúp tôi nhé!”. “Dạ, cụ cứ nói đi!” – luật sư cởi mở. “Vâng, chả là cái lưng của tui dạo này đau quá thể, luật sư chỉ giùm tôi một bác sĩ Đông y giỏi để tui đến khám, hốt thuốc nghen!”…

Quá bất ngờ, luật sư Q. định phá lên cười nhưng nhìn ông cụ đầy vẻ thành thật, ông lại ráng nhịn vì sợ “phạm thượng”. Cuối cùng luật sư phải “tua” lại trí nhớ xem gia đình, họ hàng mình có ai bị đau lưng, đã từng đi trị Đông y để chỉ giùm “cụ già dễ thương” này. Vui vẻ chào luật sư ra về, ông cụ còn giải thích thêm: “Nhiều người cũng chỉ tui nhưng tui thấy không chắc, cứ phải hỏi luật sư thì mới yên tâm. Già này thiệt tình cảm ơn luật sư nhé!”.

Continue reading →