VỀ VẤN ĐỀ QUI ĐỊNH LÃI SUẤT CƠ BẢN: MỘT TIỀN LỆ ĐẸP CỦA PHƯƠNG PHÁP LẬP PHÁP

BẠCH LONG

Dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) đã được trình QH cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Sáu và hiện đang trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý trình UBTVQH xem xét. Tuy nhiên, tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật này do Ủy ban Kinh tế vừa tổ chức thì các nhà lập pháp và các nhà kinh tế học vẫn tranh luận quyết liệt về những vấn đề lớn của dự án Luật. Đây cũng là một trong những trường hợp khá hãn hữu đối với các dự án Luật đã được chuyển sang giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý.

Vấn đề nóng nhất và cũng là tiêu điểm tranh luận quyết  liệt giữa các nhà lập pháp và các nhà kinh tế tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) chính là việc dự thảo Luật đề nghị bãi bỏ quy định về lãi suất cơ bản.

Ủng hộ quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, một số chuyên gia kinh tế cho rằng: lãi suất cơ bản thiếu cả cơ sở lý thuyết chặt chẽ và cơ sở thực tiễn. Mặc dù đã được luật hóa từ năm 1997 nhưng cho đến giữa năm 2008 lãi suất cơ bản trên thực tế không được sử dụng như một cơ sở để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất như mong muốn. Bằng chứng là trong khoảng thời gian này, lãi suất trên thị trường hầu như không có bất cứ mối tương quan nào với lãi suất cơ bản. Phó giám đốc nghiên cứu, giảng dạy Chương trình Fulbright Vũ Thành Tự Anh nêu dẫn chứng: trong suốt hai năm 2006-2007, mặc dù lãi suất qua đêm liên ngân hàng có lúc lên tới gần 9%, có lúc xuống tới 3% nhưng lãi suất cơ bản hoàn toàn đứng yên. Lãi suất cơ bản chỉ được thực sự sử dụng như một công cụ của chính sách tiền tệ kể từ giữa năm 2008 khi chỉ số lạm phát so với cùng kỳ năm trước đã vượt quá 20%. Và, khi các ngân hàng thương mại tranh nhau đẩy lãi suất lên tới 15-16% (tức là gần gấp đôi lãi suất cơ bản ở thời điểm đó). Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp này, lãi suất cơ bản được sử dụng không phải như một cơ sở có tính định hướng thị trường mà thuần túy là một công cụ hành chính nhằm áp đặt trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng.

Continue reading

5 YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TÍNH KHẢ THI TRONG GIAI ĐOẠN SOẠN THẢO DỰ ÁN LUẬT

HÀ LINH

Trong quá trình chuẩn bị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh yếu tố đầu tiên để đưa dự luật vào chương trình là sự cần thiết ban hành. Yếu tố này được lý giải như một tất yếu quyết định và lấn át yếu tố khả thi. Khi thẩm định chương trình, tính khả thi còn bị xem nhẹ. Điều này dẫn đến chương trình dễ bị “đổ vỡ” phải điều chỉnh nhiều lần, thậm chí có dự án không kịp chuẩn bị phải rút ra khỏi chương trình rồi lại vì tính cấp thiết để đề nghị bổ sung…

Vấn đề tính khả thi của luật phải được đặt ra và xem xét kỹ lưỡng khi quyết định đưa dự án luật vào chương trình hàng năm. Và trách nhiệm “gác cửa” vấn đề này cho QH trước hết thuộc về cơ quan chủ trì thẩm tra luật. Vì vậy cần xây dựng các tiêu chí về tính khả thi để thẩm định dự án luật có đủ điều kiện đưa vào chương trình hay không.
Từ thực tiễn ban hành luật có thể nêu một số yếu tố quyết định tính khả thi của luật ngay trong giai đoạn soạn thảo.

1. Xác định rõ phạm vi điều chỉnh ngay từ đầu

Khi đạo luật đưa vào chương trình xây dựng pháp luật thì trước hết phải xác định rõ ràng, dứt khoát phạm vi điều chỉnh của dự án. Không thể vừa làm vừa bổ sung hay cắt xen phạm vi điều chỉnh. Vì phạm vi điều chỉnh liên quan đến toàn bộ nội dung của dự án. Thay đổi, bổ sung phạm vi điều chỉnh sẽ dẫn đến thay đổi nội dung dự luật.

Việc xác định phạm vi điều chỉnh đối với các dự án luật khác nhau và có tác động trực tiếp đến tính khả thi. Có luật lớn phạm vi điều chỉnh rng. Có luật điều chỉnh mối quan hệ xã mới hình thành, chưa thực sự ổn định. Có luật sửa đổi bổ sung một số điều nhằm tới các mối quan hệ xã hội cụ thể. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh ngay từ khâu soạn thảo. Trong nhiều trường hợp khi trình ra QH hay UBTVQH cho ý kiến mà phạm vi điều chỉnh chưa xác định rõ hoặc lại tiếp tục có sự điều chỉnh như Dự án luật Người khuyết tật; Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11 về công trình, dự án quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư… Sự thay đổi phạm vi điều chỉnh như vậy có thể sẽ đưa dự án trở về vị trí ban đầu, rất mất thời gian và không thể chuẩn bị kỹ lưỡng.

Continue reading

NÊN CÓ TÒA ÁN CHUYÊN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LÊ TRỌNG DŨNG – Công ty TNHH Luật Gia Phạm

Xu thế “san phẳng thế giới” trên các lĩnh vực pháp luật đã khiến thói quen bảo vệ tài sản tư, tạo lợi thế cạnh tranh từ tài sản trí tuệ trong xã hội phương Tây từng bước xuất hiện trong các văn bản pháp luật nước ta. Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và nhiều văn bản pháp luật kế tiếp đều mang “hơi thở” của xu hướng đó.

Pháp luật sở hữu trí tuệ với chức năng là nền tảng pháp lý bảo vệ các tài sản trí tuệ đang được hoàn thiện và giữ vai trò quan trọng đảm bảo lợi ích của các tri thức có tài sản tư. Những quy định xác lập quyền, cơ chế bảo vệ và thực thi trong pháp luật sở hữu trí tuệ dần khắc phục tình trạng nhiều tài sản bị “lấy đi” dễ dàng. Tuy nhiên, trước tình cảnh các ca sĩ và nhà đầu tư tranh giành quyền lợi, các công ty ra sức bảo vệ nhãn hiệu, kiểu dáng, sáng chế, người ta vẫn thấy rằng ước mơ công lý của người có tài sản trí tuệ vẫn còn xa lạ.

Khi nhận thấy sự sáng tạo bị xâm phạm, người có tài sản trí tuệ thường lên tiếng phản đối để đòi lại công bằng. Họ thường phối hợp với cơ quan hành chính hoặc tìm đến tòa án dân sự. Nhưng với đặc thù phức tạp, mang tính chuyên môn cao nên nhiều khi các cơ quan hành chính và tòa án dân sự, vốn còn nhiều mặt hạn chế, vẫn không thể giải quyết thỏa đáng.

Khi gặp trường hợp khó, các cơ quan này thay vì phải giải quyết rốt ráo thì lại thường “đá” cho nhau. Khi đó người có tài sản trí tuệ cứ loay hoay không biết quyền lợi hợp pháp của mình có được bảo vệ hay không. Bởi thế, khi kinh tế phát triển, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ gia tăng, người dân mong có tòa án đủ năng lực để xét xử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

Continue reading