BÀN VỀ VẤN ĐỀ LÃI SUẤT TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

DƯƠNG THU HƯƠNG – Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Một vài năm gần đây, vấn đề lãi suất trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 1, điều 476) thu hút sự quan tâm của nhiều người. Và khi QH xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) và dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) thì vấn đề lãi suất lại nóng lên.

Trước khi đi vào các vấn đề cụ thể, cần phải làm rõ và thống nhất một vấn đề chung nhất: mục tiêu của “vấn đề lãi suất” trong từng luật là gì?

Mục tiêu của Bộ Luật Dân sự: quy định lãi suất là để “chống cho vay nặng lãi”, tuy nhiên phạm vi điều chỉnh của luật này lại quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân… Vì vậy cả cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng đều được coi như nhau và áp dụng cơ chế như nhau.

Mục tiêu của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng là: hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo nguyên tắc thị trường, mọi “giá cả” của hàng hoá tiền tệ được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Vì vậy hai luật này bắt buộc phải tuân theo tính thị trường của hoạt động ngân hàng, thể hiện trong việc hình thành lãi suất, tỷ giá… trên thị trường tiền tệ như Luật Chứng khoán đã thể hiện sự tôn trọng giá cả của các loại chứng khoán được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn, kể cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Vì thế, Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước cần có những mục tiêu riêng biệt cho phù hợp với từng đối tượng. Sự ép buộc phải thực hiện theo một mục tiêu duy nhất của Bộ luật Dân sự khiến cho hoạt động của thị trường tiền tệ, hoạt động của ngân hàng không thuận lợi.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 44/TCT-TNCN NGÀY 7 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỊ HỦY BỎ

Kính gửi:

Cục Thuế thành phố Hà Nội

Trả lời công văn số 18704/CT-THNVDT ngày 28/10/2009 của Cục thuế Hà Nội nêu vướng mắc về việc hoàn trả thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị huỷ bỏ. Vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Điều 692 Bộ Luật dân sự quy định hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất như sau: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Tại khoản 3 Điều 32 Luật thuế TNCN quy định: “Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập quy định tại Điều 28 và Điều 29 của Luật này là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực”.

Căn cứ vào các quy định trên và theo quy định của Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất, được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho hộ gia đình, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau thông qua Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được cơ quan Công chứng chứng thực; trên cơ sở Hợp đồng đã được công chứng chứng thực, hồ sơ chuyển nhượng sẽ được chuyển đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác định nghĩa vụ tài chính của các bên liên quan (thuế TNCN đối với người chuyển nhượng và lệ phí trước bạ đối với người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) làm cơ sở cho cơ quan nhà nước về quản lý đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng. Trường hợp trong thời gian theo quy định về trình tự thủ tục tiếp nhận hồ sơ, luân chuyển hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Thông tư Liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của Liên Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Mội trường mà các cơ quan Nhà nước chưa làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng có thoả thuận với nhau huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng và phải được cơ quan nhà nước về quản lý đất đai chấp nhận huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tiền thuế TNCN và lệ phí trước bạ đã nộp sẽ được hoàn trả cho người nộp theo đơn đề nghị và giấy tờ có xác nhận huỷ bỏ hợp đồng của cơ quan quản lý đất đai.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 90/TCT-TNCN NGÀY 8 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ QUYẾT TOÁN THUE THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 VÀ ĐĂNG KÝ NGƯỜI PHỤ THUỘC NĂM 2010

Kính gửi:

Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tổng cục Thuế nhận được ý kiến phản ánh của các Cục thuế, đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế hỏi về vấn đề hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2009 và việc thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh từ năm 2010.Về vấn đề này, sau khi báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Về quyết toán thuế TNCN năm 2009:

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, cải tiến các thủ tục hành chính về thuế, Tổng cục Thuế đang nghiên cứu để sửa đổi các thủ tục hành chính về thuế TNCN theo hướng đơn giản, dễ thực hiện để trình Bộ Tài chính ban hành. Dự kiến các thủ tục hành chính về thuế TNCN mới sẽ được ban hành trong nửa đầu tháng 01/2010 để áp dụng ngay cho kỳ kê khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 và kê khai thuế TNCN phát sinh từ tháng 01/2010 trở đi.

Vì vậy, đề nghị các Cục thuế thông báo cho các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập biết chủ trương này để tạm dừng việc nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 trong tháng 01/2010 và thực hiện kê khai quyết toán theo mẫu kê khai mới để nộp cho cơ quan thuế từ ngày 01/02/2009.

2. Về đăng ký giảm trừ gia cảnh và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc, vừa qua Tổng cục Thuế nhận được ý kiến của các Cục thuế và tổ chức chi trả thu nhập hỏi: khi thực hiện Luật thuế TNCN, năm 2009 cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công đã thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh với cơ quan chi trả thu nhập, sang đầu năm 2010 có phải thực hiện đăng ký lại hay không:

Continue reading

TẠI SAO GỌI LÀ FED MÀ KHÔNG GỌI CENTRAL BANK

TS. TÔN THANH TÂM

Đa phần, Chính phủ các nước trên thế giới sử dụng cụm từ “Central Bank” (Ngân hàng Trung ương), còn lại sử dụng cụm từ “Federal Reserve” (Dự trữ Liên bang) như Cục Dự trữ liên bang Mỹ – FED, hay “Reserve Bank” (Ngân hàng dự trữ) chẳng hạn như: Úc (Reserve Bank of Australia), New Zealand (Reserve Bank of New Zealand), Ấn Độ (Reserve Bank of India)…; mặc dù, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của Central Bank giống như FED hay Reserve Bank, nhưng giữa Central Bank và FED vẫn có những điểm khác nhau khá lớn, tùy thuộc vào tính chất “sở hữu về vốn” và sự lựa chọn “mô hình” mà các quốc gia áp dụng.

Bài viết này không đi sâu so sánh bất cứ vấn đề gì giữa Central Bank và FED hay Reserve Bank, mà chỉ tóm lược một vài sự kiện quan trọng, tạo nên cái gọi là FED Hoa Kỳ, và các cuộc khủng hoảng tài chính do các thế lực tài phiệt quốc tế gây ra, để làm căn cứ cho bạn đọc tự so sánh, tìm hiểu.

1. Hội nghị Trà Boston – Giọt nước tràn ly

Như chúng ta đã biết, Hoa Kỳ vốn là thuộc địa của Anh cho đến năm 1774, để phản đối chính sách thuế của Anh đánh vào Trà (tea tax), một hội nghị trà được được tổ chức tại Boston (Boston Tea Party). Nhân dịp này, nhiều người Mỹ đóng giả người da đỏ nhảy lên tàu chở trà của Anh khiêu chiến và ném các thùng trà xuống biển. Hành động đó đã bị chính quyền cai trị Anh đàn áp. Để chống trả, phía Mỹ đã thành lập các đội quân chiến đấu chống lại quân đội Anh. Nhân sự kiện này, vào năm 1774, ông Benjamin Franklin đã đứng ra triệu tập một Hội nghị ở Philadelphia để đưa ra chính sách về quyền của người Mỹ được đóng thuế. Trong đó ông Benjamin nhấn mạnh: “Nếu như ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa (tức nước Mỹ) thì người dân của xứ này sẽ vui vẻ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác… và nó trở thành nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập của Mỹ”. Sau đó, với sự chiến thắng vang dội của đoàn quân Massachusetts, Hội nghị đã cho ra Bản tuyên ngôn độc lập ngày 4/7/1776 và dưới sự lãnh đạo tài tình của Tướng George Washington, quân đội Mỹ đánh thắng quân đội Anh vào năm 1781, theo Hiệp ước Versailles, năm 1785 Anh quốc chính thức công nhận độc lập cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, vai trò và tầm ảnh hưởng của ông Benjamin Franklin được xếp sau Tướng George Washington. Ông Benjamin được coi là người cha lập quốc của nước Mỹ, ông là người duy nhất ký tên vào 4 tài liệu chính thức về việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đó là: Tuyên ngôn độc lập, Hiệp ước Paris, Hiệp ước liên minh với Pháp, Hiến pháp Mỹ.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2010/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 41/2009/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 05 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM

Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 9/12/2000;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008 (sau đây gọi tắt là “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính”);
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm;
Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm như sau:

Phần I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Thông tư này hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Nghị định 41/2009/NĐ-CP”).

Điều 2. Các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tuân thủ quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 3. Nguyên tắc xác định đối tượng bị xử phạt

1. Trường hợp Nghị định 41/2009/NĐ-CP quy định đối tượng bị xử phạt là tổ chức thì đối tượng bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt là tổ chức; quy định đối tượng bị xử phạt là cá nhân thì đối tượng bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt là cá nhân;

2. Trường hợp Nghị định 41/2009/NĐ-CP quy định đối tượng bị xử phạt là tổ chức hoặc cá nhân thì đối tượng chính bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt trước tiên là tổ chức. Các cá nhân có liên quan chỉ bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt khi:

Continue reading