MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

CỤC QUẢN LÝ NHÀ – BỘ XÂY DỰNG

1. Thế nào là thị trường ?

Thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Thừa nhận sản xuất hàng hoá không thể phủ định sự tồn tại khách quan của thị trường. Qua nghiên cứu và phân tích lí thuyết về thị trường của các nhà kinh điển ta thấy một số vấn đề cần lưu ý:

– Thị trường gắn với sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá là cơ sở kinh tế quan trọng của thị trường. Thị trường phản ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất xã hội.

– Mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ngày càng được nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Từ chỗ chỉ đề cao thị trường ngoài nước hoặc trong nước đến chỗ thấy được quan hệ thống nhất hữu cơ của 2 loại thị trường này. Phải có các giải pháp để biến thị trường trong nước thành bộ phận của thị trường thế giới.- Vai trò điều tiết của nhà nước đối với thị trường là cần thiết tất yếu. Điều tiết thị trường theo yêu cầu các quy luật kinh tế và sự vận động khách quan của thị trường.

– Ngày nay không tồn tại thị trường dưới dạng thuần tuýy đơn nhất. Trong nền kinh tế mỗi nước đều tồn tại nhiều dạng thức, nhiều thể loại và nhiều cấp độ thị trường khác nhau.

Thị trường và kinh tế thị trường là những vấn đề phức tạp. Từ những nghiên cứu sơ lược, cổ xưa cho đến những nghiên cứu quy mô khoa học ngày nay phạm trù thị trường luôn được đưa thêm những nội dung mới. Tuỳ từng điều kiện và giác độ nghiên cứu mà người ta đưa ra các khái niệm thị trường khác nhau.

Khái niệm cổ điển cho rằng: thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá. Theo khái niệm này người ta đã đồng nhất thị trường với chợ và những địa điểm mua bán hàng hoá cụ thể. Trong kinh tế hiện đại ít dùng khái niệm này.

Continue reading

BÀN VỀ NỘI DUNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG KINH TẾ (*)

NGUYỄN THỊ VIỆT HỒNG – Viện Khoa học Thống kê

Vốn đầu tư là chỉ tiêu kinh tế cơ bản thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích khác nhau mà mỗi người quan tâm đến nội dung của vốn đầu tư theo các giác độ khác nhau. Từ trước đến nay đã có những chỉ tiêu về “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản” và “Vốn đầu tư phát triển” được công bố số liệu, nhưng chỉ tiêu về “vốn đầu tư trong kinh tế” theo tôi là rất quan trọng, nhưng hiện nay còn nhiều vấn đề cần bàn đến. Vậy nội dung của chỉ tiêu này bao gồm những gì? có khác hay không so với các chỉ tiêu về “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB)” và “Vốn đầu tư phát triển”.

1. Đầu tư

Trong kinh tế “Đầu tư” được hiểu là sự chi tiêu mà kết quả làm tăng tài sản cho nền kinh tế (giá trị của những tài sản mua đi bán lại giữa các thực thể kinh tế với nhau không được coi là đầu tư đối với nền kinh tế). Vì vậy, có những trường hợp đối với một cá nhân, hoặc của một tổ chức nào đó là đầu tư, nhưng xét trên phạm vi toàn nền kinh tế thì đó không phải là đầu tư nếu quá trình đầu tư đó không tạo thêm tài sản mới. (ví dụ: một người bỏ ra một khoản tiền để mua một ngôi nhà của người khác để ở thì hành vi mua bán đó không được tính là đầu tư trên phạm vi toàn nền kinh tế).

Các nhà kinh tế vĩ mô chia đầu tư thành 3 loại chính như sau: đầu tư vào tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh; đầu tư vào tài sản lưu động(1) và đầu tư vào nhà ở.

Đầu tư tài sản cố định(2) là sự bỏ vốn ra để xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng và mua sắm trang, thiết bị và các tài sản đủ tiêu chuẩn là TSCĐ của các đơn vị sản xuất kinh doanh (làm tăng thực sự tài sản sản xuất). Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính là những tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG: LÀM LÚN NỨT NHÀ HÀNG XÓM

TRẦN VŨ

Tòa sơ thẩm tuyên phải bồi thường, tòa phúc thẩm lại ra phán quyết hoàn toàn trái ngược. Gây thiệt hại, chỉ khắc phục một lần?

Ngày 10-12-2009 vừa qua, TAND tỉnh Cà Mau đã bác yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại vì nhà bị lún nứt của bà TND, đồng thời buộc bà D. phải nộp 1 triệu đồng tiền án phí.

Gây thiệt hại, chỉ khắc phục một lần?

Theo hồ sơ, giữa năm 2008, ông N. đã khởi công xây một căn nhà mới sát vách nhà bà D. (ven kinh sáng Cà Mau-Bạc Liêu, phường 6, TP Cà Mau). Sau đó, bà D. phát hiện ra nhà của mình bị nứt dần và lún sụp, liền báo cho ông hàng xóm tới xem.

Sau khi xem hiện trạng, ông N. đã chấp nhận bù đắp cho bà D. bằng cách đổ hai cây cột, hai cây kèo gia cố chống lún nứt, ngoài ra còn trám, trét hết những vết nứt trong nhà bà D.

Tuy nhiên, tình trạng lún, nứt nhà không hết mà vẫn diễn ra nên bà D. tiếp tục đòi ông N. phải có trách nhiệm. Cho rằng mình đã lo một lần là hết trách nhiệm rồi, ông N. từ chối nên bà D. phải làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết.

Nhiều lần tổ chức hòa giải, chính quyền cơ sở đều có quan điểm là ông N. nên bù đắp thêm cho bà D. một khoản tiền nữa để sửa nhà bởi thực tế việc lún nứt nhà của bà D. là do ảnh hưởng từ hoạt động xây nhà của ông N. Dù đã được thuyết phục như vậy nhưng ông N. vẫn quyết liệt từ chối.

Cuối cùng bà D. phải khởi kiện ông N. ra TAND TP Cà Mau để đòi bồi thường thiệt hại.

Continue reading

VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA TÒA HIẾN PHÁP

CAO VŨ MINH – Đại học Luật TPHCM

1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay.

Giải thích pháp luật chính là việc làm sáng rõ hơn về mặt tư tưởng, nội dung, mục đích, ý nghĩa của quy phạm pháp luật nhằm giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định này một cách thống nhất và nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, hiện nay giải thích pháp luật chưa được quan tâm đúng tầm với sự phát triển của nhà nước và pháp luật. Theo sách báo về lý luận nhà nước và pháp luật thì nội dung của pháp luật cần phải được thể hiện bằng ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, một nghĩa, dễ đọc, dễ hiểu, nhưng trên thực tế tiêu chí này rất khó đạt được. Nhiều quy phạm pháp luật được ban hành ra hoặc là không rõ ràng hoặc là gây ra nhiều cách hiểu khác nhau. Điển hình như hai thuật ngữ “bãi bỏ” và “hủy bỏ”. Lâu nay vẫn có sự tranh luận sôi nổi xoay quanh hai thuật ngữ này. Có người cho rằng, hai thuật ngữ này là giống nhau vì trong nhiều văn bản pháp luật hay thậm chí cả Hiến pháp – đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất cũng không có tiêu chí nào cho phép xác định sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này (trong Hiến pháp quy định lúc thì áp dụng quyền “bãi bỏ”, lúc thì “huỷ bỏ” mà không hề đưa ra tiêu chí phân biệt). Cũng có quan điểm cho rằng, hai thuật ngữ này là khác nhau vì nếu giống nhau thì chỉ cần sử dụng một trong hai. Giới luật học thì cứ bàn, nhiều nhà nghiên cứu thì cứ cất công nghiên cứu vấn đề này1 còn những chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật thì cứ để đó, tạo ra một câu hỏi không lời đáp.

Một ví dụ khác: Khoản 1 Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật 2008) quy định:

– Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

– Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 26/2009/TT-NHNN NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA NGAN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VIỆC MUA – BÁN NGOẠI TỆ CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC

Căn cứ Điểm 3 văn bản số 2578/TTg-KTTH ngày 23/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc bán ngoại tệ của một số Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây viết tắt là NHNN) hướng dẫn thực hiện như sau:

MỤC I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:

1.1. Thông tư này quy định việc Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thực hiện nghĩa vụ bán ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng được phép và được quyền mua lại ngoại tệ trong phạm vi số ngoại tệ đã bán từ Tổ chức tín dụng được phép để phục vụ nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp.

1.2. Việc mua – bán ngoại tệ theo nội dung quy định tại Thông tư này được áp dụng đối với các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước (bao gồm cả các doanh nghiệp thành viên có vốn nhà nước trên 50% theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2005 và không phải là Tổ chức tín dụng) có tên sau:

a) Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

b) Tập đoàn Than, khoáng sản Việt Nam

c) Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam (Tổng công ty Hóa chất Việt Nam)

d) Tổng Công ty Cảng Hàng không Miền Nam

đ) Tổng Công ty Lương thực Miền Nam

e) Tổng Công ty Lương thực Miền Bắc

g) Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam

Continue reading