NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. GVC. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

Theo chúng tôi, khi xây dựng Luật Nuôi con nuôi cần cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình, hợp lý để giải quyết thỏa đáng những trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong quá khứ, nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.

1. Nhận diện quan hệ nuôi con nuôi thực tế

1.1. Một số dạng nuôi con nuôi trong thực tế xã hội Việt Nam

Trong đời sống xã hội Việt Nam, việc nhận nuôi con nuôi đã tồn tại từ lâu, với nhiều lý do và mục đích khác nhau, nhưng lý do cơ bản, phổ biến nhất là vì lòng từ tâm, lòng thương người, muốn cưu mang, giúp đỡ những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Với quan niệm như vậy, việc nhận con nuôi, nhận cha mẹ nuôi đã được thực hiện khá rộng rãi trong đời sống nhân dân.

Với ý nghĩa là một quyền tự do dân sự của cá nhân, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau, tuỳ theo sự lựa chọn của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên có thể thấy, có hai cách thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi trong thực tế. Đó là xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội và xác lập về mặt pháp lý.

Việc nhận nuôi con nuôi có thể được xác lập về mặt pháp lý, thông qua sự kiện đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với những trường hợp có đăng ký, giữa người nhận nuôi và con nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi được nhà nước công nhận và bảo vệ. Vấn đề này không nằm trong khuôn khổ phân tích của bài viết này. Trong phạm vi của bài viết này, chỉ xin bàn đến những dạng xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi trong thực tế mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Continue reading

BÁO CÁO NGÀY 10 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG KẾT 5 NĂM THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI (2003 – 2008)

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 của Quốc hội khóa XII, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan nghiên cứu, xây dựng dự án Luật nuôi con nuôi (sau đây gọi là dự án Luật). Để có thêm cơ sở thực tiễn phục vụ việc xây dựng dự án Luật, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 4635/VPCP-QHQT ngày 15/7/2008, trong các ngày 04-05/9/2008 Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thi hành pháp luật về nuôi con nuôi, nhằm đánh giá, tổng kết các mặt tích cực, thành công, cũng như các khiếm khuyết, bất cập trong việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi. Các đại biểu đã phân tích, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra nhiều giải pháp để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi, nhằm xử lý những vấn đề xã hội hết sức nhạy cảm phát sinh trong lĩnh vực này.

Để chuẩn bị tiến hành Hội nghị, từ tháng 5 năm 2008, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đã có công văn yêu cầu tất cả các địa phương (Sở Tư pháp) chủ động sơ kết tình hình thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương mình, trên cả hai lĩnh vực nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong 5 năm qua, đánh giá về những mặt tích cực, tồn tại, bất cập, tìm ra nguyên nhân để từ đó, kiến nghị các giải pháp khắc phục. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tiến hành sơ kết/tổng kết, rà soát, đánh giá tình hình đăng ký, giải quyết việc nuôi con nuôi từ năm 2003 đến năm 2008 và báo cáo bằng văn bản về Bộ Tư pháp.

Bộ Tư pháp xin báo cáo chung về tình hình thi hành pháp luật về nuôi con nuôi trong 5 năm qua như sau:

A/ NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH RÀ SOÁT, KIỂM TRA VIỆC GIẢI QUYẾT CHO, NHẬN CON NUÔI TRONG NƯỚC

Trong những năm qua, việc giải quyết cho nhận nuôi con nuôi trong nước đã thực hiện tương đối tốt, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi đã góp phần giúp cho nhiều trẻ em có được mái ấm gia đình thay thế ở trong nước, được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt. Đồng thời, thông qua việc giải quyết nuôi con nuôi, cũng góp phần quan trọng bảo đảm cho nhiều người, đặc biệt phụ nữ đơn thân hoặc các cặp vợ chồng hiếm con, được thực hiện quyền làm cha mẹ.

Continue reading

PHONG TỤC CƯỚI HỎI, HÔN NHÂN CỦA MỘT SỐ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1. Tục cưới hỏi của người Thái – Sơn La

Những gì được coi là văn hoá truyền thống, nó đều có sự biến đổi theo thời gian và không gian. Qua sự biến đổi ấy nó đã tự gạn đục khơi trong để có giá trị văn hoá đích thực phù hợp với thời đại mà con người đang sống, làm ra nó, hưởng thụ nó và tôn vinh để nó trường tồn, bất diệt. Tục cưới hỏi của một số tộc người cũng vậy, không có một hương ước hay quy ước hay một văn bản nào quy định hay thay đổi một cách nhanh chóng được tục lệ cưới hỏi của họ vì nó đã in sâu thành nền nếp bao đời. Chỉ qua một quá trình đi lên của xã hội, những tục lệ không còn phù hợp đời sống văn hoá tinh thần mới. Tục cưới hỏi, lấy vợ của người Thái – Sơn La là một minh chứng.

Tuy niên mỗi dòng họ, mỗi vùng miền có đôi chỗ hoặc tên gọi khác nhau. Xưa kia con trai, con gái trưởng thành, nếu con trai muốn lấy vợ thì họ phải chăm lao động, đặc biệt là đan lát, sau là học thổi khèn bè, thổi sao nói được tình yêu với cô gái… Người con gái muốn có chồng, ngoài nết na phải học được thêu thùa khăn Piêu, dệt vải khuýt và luyện cái tai tinh tường để “nghe tình yêu qua khèn bè”; đâu là tiếng khèn bạn tình, đâu là tiếng khèn họ đang trèo cầu thang lên nhà, đâu là tiếng khèn gọi mình ra ngồi đầu sàn nói chuyện cùng họ đêm ttrăng; đâu là tiếng khèn tình không lành mạnh… Khi đôi nam nữ đã nhờ phần lớn là tiếng khèn, ánh mắt nói thay lời yêu thương, khi muốn lấy cô gái làm vợ, người con trai nhờ mẹ đẻ và một vài bà trong họ đến nhà cô gái làm một vài thủ tục gọi là Lòng Luông.

Lòng Luông: là mấy bà chưa mang lễ vật, chỉ đến nhà cô gái xin cho con trai mình được đi về (mà ngày nay gọi là xin đi lại) để tìm hiểu. Sau một thời gian, họ nhà trai tổ chức một đòn có lễ vật: gà, lợn, rượu, gạo… đến nhà cô gái, đoàn này do một ông mối (làm) dẫn đầu và giao tiếp gọi là pay đu, có dòng họ gộp hai giai đoạn này làm một gọi là Lòng luông đu châu.

Continue reading

PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA PHỤ NỮ

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong lĩnh vực đất đai

Vai trò của phụ nữ, vấn đề nữ giới trong việc quyết định các chính sách về đất đai là một yếu tố để đảm bảo thành công việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai, xây dựng xã hội dân sự. Đảng và Nhà nước ta đã xác định, tăng cường bình đẳng về giới, lồng ghép các vấn đề giới vào các chính sách, chương trình và dự án phát triển là một nội dung quan trọng trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo.

Nhìn vào các một số quy định hiện hành, Nhà nước ta không có sự phân biệt về chính sách theo giới, nam/nữ bình đẳng trước pháp luật về đất đai. Điều 105, 106 và 108 Luật Đất đai năm 2003 quy định, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất có các quyền chung của người sử dụng đất. Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã ghi nhận: “1- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. 2- Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, phải ghi tên cả vợ và chồng”1. Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Điều 48 khoản 3: “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng”. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định “tất cả những giấy tờ, đăng ký tài sản gia đình bao gồm cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được ghi cả tên vợ và chồng”. Tại Điều 5 của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP còn quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng đã đăng ký quyền sở hữu mà chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên cả vợ và chồng. Nếu vợ, chồng không yêu cầu cấp lại giấy đăng ký tài sản thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật đã đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mà có ghi tên vợ và chồng, có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THAM NHŨNG TRONG NGÀNH TÒA ÁN

HỒNG THANH (Theo báo cáo minh bạch toàn cầu năm 2007)

Giữa năm 2007, tổ chức minh bạch thế giới (TI) đã công bố bản báo cáo tham nhũng toàn cầu, trong đó các số liệu cho thấy tòa án là ngành có xu hướng tham nhũng lớn nhất. Đây là một điều rất đáng lo ngại, bởi lẽ hậu quả của tham nhũng trong hệ thống tòa án sẽ làm mất lòng tin của các nhà đầu tư đối với hệ thống pháp lý quốc gia, điều này cũng đồng nghĩa với việc tham nhũng sẽ trở thành lực cản lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.

Đặc biệt, không phải chỉ có báo cáo minh bạch của TI công bố điều này mà thậm chí trong báo cáo cạnh tranh toàn cầu của diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum’s) cũng đã khẳng định những nguy cơ xảy ra tham nhũng nhiều nhất trong ngành toà án.

Có rất nhiều cách giải thích nguyên nhân dẫn đến nạn tham nhũng trong hệ thống tòa án ở các quốc gia tuy nhiên tác giả Stefan Voigt – Giáo sư thuộc Viện nghiên cứu kinh tế quốc tế trường đại học Marburg – Đức có một cách đặt vấn đề khá thú vị đó là ông đã đưa ra các giả thuyết về các nguyên nhân dẫn đến tham nhũng trong hệ thống tòa án. Hy vọng sẽ đem lại cho bạn đọc cái nhìn rõ hơn vì sao ngành tòa án lại có nguy cơ tham nhũng nhiều nhất trong năm.

1. Lương dành cho cán bộ ngành tòa án thấp tăng khả năng tham nhũng: Giả thuyết này được nhiều người chấp nhận là lý do để ngành tòa án đứng đầu trong bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng năm 2007. Điều này là tất yếu, bởi lẽ lương dành cho các thẩm phán, công tố viên quá thấp, do đó các khoản tiền hối lộ sẽ dễ được họ chấp nhận hơn. Điều này đúng ở hầu hết các nước được công bố trong báo cáo minh bạch toàn cầu năm 2007. Đặt một giả thuyết ngược lại nếu lương dành cho công chức ngành tòa án cao, giúp họ đảm bảo cuộc sống thì khi đó, việc nhận hối lộ chắc chắn sẽ khó xảy ra hơn. Tuy nhiên việc đặt giả thuyết lương cao sẽ không tham nhũng cũng không hoàn toàn đúng bởi có thể lấy một ví dụ như Campuchia, với mức thu nhập hàng năm của thẩm phán mới vào nghề là 3,804 đô la trong khi đó mức thu nhập bình quân đầu người năm 2006 chỉ có 380 đô la, nhưng Camphuchia vẫn đứng thứ 156 trên 163 quốc gia trong bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng năm 2006? Như vậy giả thuyết lương thấp dẫn đến khả năng tham nhũng cao là một lý do hợp lý không chỉ trong ngành tòa án nói riêng mà hầu như ở các ngành khác.

Continue reading

TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH TRONG NỀN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA – SỰ PHÂN BIỆT GIỮA HÀNH CHÍNH TÀI PHÁN VÀ HÀNH CHÍNH QUẢN LÝ

LG. LÊ ĐỨC TIẾT

Công dân được pháp luật bảo vệ, đây cũng chính là một trong những quyền cơ bản của con người mà Hiến pháp của nhiều nước hiện nay trên thế giới đều công nhận. Đó cũng là một trong những nét đặc trưng của nền công lý hiện đại mà thế giới loài người văn minh ngày nay đã đấu tranh giành được.

Song trong cuộc sống, đấu tranh xảy ra hàng ngày, quyền công dân được pháp luật bảo vệ chưa được thực thi một cách hữu hiệu, đầy đủ và kịp thời. Ở nhiều nước, nơi nào tình trạng độc đoán, chuyên quyền còn ngự trị thì quyền công dân được pháp luật bảo vệ chỉ tồn tại một hình thức trong các văn bản pháp luật mà thôi.

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quyền công dân được pháp luật bảo vệ đã được ban hành, áp dụng từ ngày có chính quyền cách mạng. Quyền này được thực thi ngày một rộng rãi về mặt nội dung và ngày càng thêm chắc chắn bởi các biện pháp bảo vệ mang tính hiệu quả cao.

Ví dụ: Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tự do, nhân phẩm, tài sản của công dân chống lại những hành vi phạm tội. Nhà nước ta đã tổ chức ra hệ thống các cơ quan Điều tra hình sự, các Viện kiểm sát nhân dân và các Toà án hình sự để chuyên trách đấu tranh với tình trạng phạm tội. An ninh đất nước, an toàn xã hội được đảm bảo là do hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật góp phần tạo nên.

Để bảo vệ các quyền dân sự của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu phi tài sản nhưng có liên quan chặt chẽ với quyền sở hữu tài sản như quyền sáng tác, sáng chế, phát minh, Nhà nước ta đã tổ chức ra Toà án dân sự với chức năng giải quyết các tranh chấp về dân sự, về hôn nhân trong nhân dân. Hoạt động của các Toà án dân sự đã góp phần bảo vệ kết quả các quyền sở hữu về động sản, bất động sản của công dân, bảo vệ các quan hệ tốt đẹp về gia đình và hôn nhân. Điều này đã góp phần tạo nên tâm lý “an cư lạc nghiệp” trong lòng người dân và ổn định xã hội và thanh bình cho đất nước – một ước mơ mà nhân dân nhiều nước trên thế giới chưa đạt được vì tình trạng nhồi da xáo thịt, tranh giành quyền lực trong nội bộ các nước ấy.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU

TRẦN THỊ THU THỦY

1. Quy định về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Cộng hòa Liên bang Đức

Cộng hoà liên bang Đức không có Luật liên bang về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Cơ sở pháp lý cho việc bồi thường nhà nước là những điều khoản lẻ tẻ và không hệ thống được quy định rải rác trong Hiến pháp; Bộ luật dân sự; Luật phòng, chống lây nhiễm; Luật bồi thường đối với các biện pháp hình sự…Khi chủ thể của hành vi công quyền trong lĩnh vực luật công mà hành vi của họ vi phạm quyền lợi của công dân, Hiến pháp Đức bảo đảm cho công dân sự bảo vệ pháp lý khi công chức nhà nước có hành vi vi phạm quyền lợi của họ. Theo đó, công dân khả năng được đề nghị thẩm định tính hợp pháp của hành vi nói trên (bảo vệ pháp lý nguyên phát). Sự bảo vệ pháp lý ấy còn được bổ sung bởi Luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước (ở một số bang mới sáp nhập) vì bên cạnh việc thẩm định hành vi công quyền qua Toà án, Luật này đưa ra khả năng đòi bồi thường hậu quả của sự vi phạm trên (bảo vệ pháp lý thứ phát).

Ở Đức, công dân có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, yêu cầu xoá bỏ hậu quả bất lợi trong một số trường hợp sau:

Thứ nhất, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ của công chức. Người bị thiệt hại có thể đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại, kể cả thu nhập (lãi) bị mất và tiền bồi thường cho thiệt hại tinh thần. Tuy nhiên, trong trường hợp vi phạm đó xảy ra do vô tình, công chức chỉ bị quy trách nhiệm nếu người bị thiệt hại không được bồi thường bằng một cách khác.

Thứ hai, khi có các biện pháp và quyết định bất hợp pháp của ngành tư pháp.

Khi thẩm phán có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ trong quá trình xét xử, Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm nếu sự vi phạm đó đồng thời là tội phạm (bóp méo luật hoặc nhận hối lộ). Trong trường hợp phán quyết của Thẩm phán trong thủ tục thi hành án, lệnh trong tố tụng hình sự hoặc nghị quyết trong các thủ tục nhằm xác định án phí hoặc ấn định giá trị tố tụng sẽ được ngoại trừ để bảo vệ sự độc lập của Thẩm phán, bảo vệ hiệu lực pháp luật của các phán quyết Nhà nước.

Continue reading