CÁC BƯỚC TRONG QUY TRÌNH MUA DOANH NGHIỆP

THS. NGUYỄN TRÍ THANH – Đại Học Học Hitotsubashi – Nhật bản & THS.BÙI ANH TUẤN – Đại học tổng hợp Columbia, Hoa Kỳ

y thuộc vào quy mô của giao dịch, mục đích của thương vụ, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mua và doanh nghiệp mục tiêu, các bước trong quy trình mua có thể khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi muốn giới thiệu các bước thường được bên mua thực hiện trong quy trình mua doanh nghiệp. Các phần việc này có thể áp dụng cho hầu hết các thương vụ mua doanh nghiệp diễn ra tại Việt nam cũng như trên toàn thế giới.

• Xác định mục tiêu của giao dịch mua doanh nghiệp;

• Xây dựng kế hoạch thực hiện

• Tập hợp đội ngũ;

• Xác định tiêu chí sàng lọc và lựa chọn doanh nghiệp mục tiêu

• Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu;

• Tiếp cận doanh nghiệp mục tiêu;

• Thực hiện rà soát, thẩm định doanh nghiệp mục tiêu;

• Định giá và đàm phán

• Lựa chọn phương thức thực hiện giao dịch;

• Xác định nguồn tài chính tài trợ cho giao dịch;

• Tiến hành thương lượng cụ thể các điều khoản hợp đồng mua doanh nghiệp và kết thúc giao dịch

• Giai đoạn sau khi mua doanh nghiệp – Những điều cần lưu ý

Continue reading

MỘT SỐ BÌNH LUẬN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Sau hơn bốn năm có hiệu lực, gần đây Luật Cạnh tranh đã được áp dụng để xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh đầu tiên đã có những tác động đáng kể đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam, đến ý thức pháp luật của các doanh nghiệp và góp phần khẳng định giá trị của pháp luật cạnh tranh đối với quản lý kinh tế. Trong quá trình giải quyết vụ việc đã phát sinh nhiều vấn đề về tình hình cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, trong đó có quan niệm của doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp độc quyền) về vai trò của pháp luật cạnh tranh.

1. Nội dung và một số vấn đề đặt ra cho việc giải quyết vụ việc

Vụ việc xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không giữa doanh nghiệp độc quyền nhà nước là Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (PA) – nay là JPA. Theo Hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 ngày 31/12/2007 giữa Vinapco và PA, hai bên thỏa thuận mức phí cung ứng nhiên liệu là 593.000 đồng/tấn tại thời điểm ký kết; khi có sự thay đổi về mức phí cung ứng, Vinapco có trách nhiệm thông báo cho PA bằng văn bản qua đường fax; mọi sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đều phải được hai bên thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của người có thẩm quyền; khi có tranh chấp, các bên phải giải quyết thông qua thương lượng, trường hợp thương lượng không thành sẽ đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; lý do duy nhất để Vinapco có thể ngừng thực hiện Hợp đồng đã giao kết là khi PA chậm thanh toán quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bảng kê của Vinapco.

Đầu tháng 3/2008, do ảnh hưởng bởi biến động giá xăng dầu thế giới nên Vinapco đã có Công văn số 446/XDHK-KDXNK mời đại diện của PA đến họp để xác định lại mức phí cung ứng mới. Việc thương lượng diễn ra bằng các cuộc họp và công văn trao đổi qua lại giữa Vinapco và PA. Tuy nhiên, cả hai bên đều chưa có được sự đồng thuận về mức phí mới. Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn số 512/XDHK-VPĐN gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp. Trong các cuộc họp và các văn bản gửi Vinapco, PA bày tỏ quan điểm thừa nhận việc tăng phí cung ứng khi chi phí thị trường tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty hàng không Việt Nam (VNA), đồng thời đề nghị Vinapco và PA cùng kiến nghị Chính phủ và các bộ liên quan xem xét, quyết định.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHÌN TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

GS.TS. VŨ VĂN HIỀN 

Cơn bão dữ tài chính – kinh tế có sức tàn phá toàn cầu đã qua đỉnh điểm, sức gió hạ dần và rồi sẽ tan đi, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đã chạm đáy suy thoái và đang có dấu hiệu phục hồi với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, sự hủy hoại ghê gớm của cơn bão đó vẫn để lại những hậu quả to lớn, khôn lường. Kinh tế thế giới đang ngổn ngang bao công việc cần giải quyết và nhất là bao điều cần bàn luận một cách nghiêm túc. Trong những vấn đề hết sức cơ bản cần làm rõ, nổi lên một vấn đề hệ trọng, đó là việc cắt nghĩa vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Để nghiên cứu một cách thấu đáo vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này có thể xem xét theo những nội dung chính như sau.

1 – Những nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng

Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu nổ ra, trong rất nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc đại tranh luận, các học giả kinh tế hàng đầu thế giới đã đưa ra những nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng, đó là:

– Sự hình thành và đổ vỡ của "bong bóng" thị trường bất động sản, của các khoản cho vay khổng lồ để thế chấp nhà đất ở Mỹ.

– Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng và sai lệch lớn trong điều tiết tài chính, khi có tình thế xấu xảy ra, hệ thống ngân hàng Mỹ bị hoảng loạn, lan ra toàn thế giới, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn tới sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư.

– Các chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và nhiều nước đã có những khiếm khuyết lại được thực hiện thiếu nhất quán, đầy đủ và thiếu cải cách cơ cấu dẫn tới kinh tế vĩ mô mất cân bằng và thiếu bền vững.

– Sự suy giảm giá trị của đồng USD và khủng hoảng chế độ tiền tệ không bản vị. Chế độ bản vị vàng hối đoái là chế độ tiền tệ quốc tế lấy đồng tiền của một nước làm bản vị thay cho vàng. Từ Hội nghị Bretton Woods (tháng 7-1944), vai trò đồng tiền bản vị là đồng USD (Hàm lượng ấn định là 35 USD = 1 ounce vàng, hay 1 USD = 0,888.671 gram vàng). Từ tháng 8-1971, Mỹ tuyên bố đóng cửa thị trường vàng và đồng USD không còn dùng vàng làm thước đo giá trị nữa. Từ đó, đồng USD được phát hành vô tội vạ và giá trị của nó ngày càng giảm đi.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: VẪN NHIỀU ÁN TỒN ĐỌNG

NHẬT ANH

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2009, các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thụ lý 662.961 việc, đã thi hành xong 354.490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện thi hành. Tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là số lượng án tồn đọng. Tình trạng khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự còn nhiều, nhiều vụ việc phức tạp, khiếu nại tố cáo gay gắt, kéo dài…

Theo một thống kê tại Hội nghị chuyên đề triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 khu vực phía Bắc do Bộ Tư pháp tổ chức mới đây, hiện nay cả nước còn 270.925 án tồn đọng. Trong đó, 188.000 việc chưa có điều kiện thi hành án; hơn 89.000 việc người phải thi hành án ốm nặng, chưa xác định được nơi cư trú, người phải thi hành án không có tài sản; 98.754  án tồn đọng vì có kháng nghị; tuyên không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc có khiếu nại…

Một trong những nguyên nhân án tồn đọng ngày càng lớn dồn từ năm này qua năm khác là do cơ chế, chính sách, pháp luật còn có những bất cập, chưa phù hợp thực tế; công tác quản lý nhà nước còn có những yếu kém, sai phạm, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Trong nhiều trường hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng, đòi lại đất nhưng thiếu cơ chế, chính sách để giải quyết thỏa đáng. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương còn buông lỏng, để xảy ra sai phạm. Quá trình thực hiện thu hồi đất của dân chưa đúng trình tự, thủ tục, thiếu công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và trong một số trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ chưa đủ để người dân tạo lập chỗ ở mới tốt hơn. Có một số dự án thu hồi đất sản xuất của dân nhưng không được sử dụng hợp lý, đất đai bỏ hoang, lãng phí, trong khi nông dân thiếu đất sản xuất, dẫn đến bức xúc, phát sinh khiếu nại.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: “NGÂM ÁN”, THẨM PHÁN BỊ “TRẢM”

SONG NGUYỄN

Chuyện thẩm phán “ngâm án” dân sự vẫn đang tồn tại từ nhiều năm nay, góp phần làm tăng lượng án quá hạn. Ðể án quá hạn vì lỗi chủ quan, đã có không ít thẩm phán bị xem xét trách nhiệm…

Việc “ngâm án” thể hiện ý thức trách nhiệm của người cầm cán cân công lý với công việc. Có những vụ án không phức tạp, thẩm phán vẫn cố tình “ngâm nga”, làm đương sự bức xúc.

Kiểm điểm

Ngày 3-1-2008, TAND TP Cao Lãnh thụ lý vụ tranh chấp đường ranh đất của bà V. Được phân công giải quyết, một thẩm phán đã tổ chức hòa giải, yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ, đo đạc diện tích, xác minh xong xuôi hết rồi nhưng sau đó không chịu lên lịch xử.

Chờ hơn một năm sau, quá bức xúc trước việc “ngâm án” này, bà V. khiếu nại khắp nơi. Tháng 4-2009, Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp đã có công văn truyền đạt ý kiến của chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu TAND tỉnh này xem xét, trả lời khiếu nại của bà V. Sau đó, lãnh đạo TAND tỉnh Đồng Tháp đã yêu cầu TAND TP Cao Lãnh sớm đưa vụ án ra xét xử và nghiêm khắc kiểm điểm thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ kiện.

Chuyển đơn vị

Tháng 5-2002, bà A. kiện đòi nợ, được TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) thụ lý. Kể từ đó, thẩm phán được phân công giải quyết vụ kiện của bà A. cứ “ngâm nga” mãi. Bà A. đã nhiều lần có đơn yêu cầu xét xử, thậm chí đến gặp thẩm phán và chánh án thì chỉ nhận được câu trả lời: “Cứ về chờ”.

Continue reading

Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTG ngày 29 tháng 2 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về THU HỒI ĐẤT; GIAO ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 23 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai;
Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 4780/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định Cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La như sau:

“Điều 1. Thu hồi đất; giao đất ở, đất nông nghiệp

1. Nguyên tắc chung:

a) Nhà nước thu hồi diện tích đất thuộc khu vực lòng hồ; khu vực dự kiến bố trí các công trình xây dựng liên quan đến Dự án Thủy điện Sơn La; diện tích đất của người phải di chuyển; diện tích đất bố trí tái định cư, tái định canh để giao cho Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La phục vụ Dự án Thủy điện Sơn La;

b) Diện tích đất thuộc khu vực bố trí hộ dân tái định cư (kể cả khu vực tái định cư, tái định canh tại chỗ hoặc xen ghép), khu vực đất bố trí các công trình xây dựng liên quan đến các khu tái định cư đã thu hồi, phải giao cho Ban Quản lý Dự án di dân tái định cư cấp huyện hoặc cấp tỉnh để phục vụ tái định cư, tái định canh cho hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La;

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 45/QĐ-TTg NGÀY 11 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 1 QUYẾT ĐỊNH SỐ 246/QĐ-TTG NGÀY 29 THÁNG 02 NĂM 2008 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CƠ CHẾ ĐẶC THÙ VỀ THU HỒI ĐẤT; GIAO ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 23 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai;
Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 4780/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định Cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La như sau:

“Điều 1. Thu hồi đất; giao đất ở, đất nông nghiệp

1. Nguyên tắc chung:

a) Nhà nước thu hồi diện tích đất thuộc khu vực lòng hồ; khu vực dự kiến bố trí các công trình xây dựng liên quan đến Dự án Thủy điện Sơn La; diện tích đất của người phải di chuyển; diện tích đất bố trí tái định cư, tái định canh để giao cho Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La phục vụ Dự án Thủy điện Sơn La;

b) Diện tích đất thuộc khu vực bố trí hộ dân tái định cư (kể cả khu vực tái định cư, tái định canh tại chỗ hoặc xen ghép), khu vực đất bố trí các công trình xây dựng liên quan đến các khu tái định cư đã thu hồi, phải giao cho Ban Quản lý Dự án di dân tái định cư cấp huyện hoặc cấp tỉnh để phục vụ tái định cư, tái định canh cho hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La;

Continue reading

HỢP ĐỒNG KÌ HẠN (FORWARD)

Hợp đồng kì hạn là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một tài sản nào đó vào một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này, ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau. Khác với hợp đồng quyền chọn, trong đó người giữ hợp đồng có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình, thì ở hợp đồng kì hạn, 2 bên chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng.

Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất giá tiền tệ (hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (hợp đồng kì hạn với dầu mỏ).

Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết. Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí. Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư(forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn,  hoặc khoản khấu trừ(forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn.

Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (futures contract). Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng.

Hãy nghiên cứu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về đặc điểm của một hợp đồng kì hạn:

Giả sử Mr. X muốn mua một ngôi nhà trong vòng 1 năm tới, đồng thời Mr. Y sở hữu một căn nhà và anh ta muốn bán trong cùng thời gian đó. Y thoả thuận bán ngôi nhà của Y cho X sau 1 năm nữa với giá là $104,000, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn. Vì X là người mua nên X mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai, ngược lại, Y muốn giá giảm. Cuối năm, giả sử giá thị trường của ngôi nhà lúc đó là $110,000, trong khi Y có nghĩa vụ phải bán nhà cho X với giá $104,000 theo như cam kết trong hợp đồng nên có thể coi như Y đã lỗ $6000, còn X lãi $6000 (vì X có thể mua nhà của Y với giá $104,000 và bán ngay trên thị trường với giá $110,000).

Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ cũng lớn hơn giá giao ngay, vì nó bao gồm cả lãi suất.

Tiếp tục ví dụ trên, giả sử giá bán hiện nay của ngôi nhà là $100,000, thì Y có thể bán ngay để đem gửi ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm. Sau 1 năm Y sẽ có số tiền $104,000 mà không phải chịu chút rủi ro nào. Trong khi đó nếu X muốn mua ngay ngôi nhà anh ta sẽ đến vay ngân hàng số tiền $100,000, và cũng phải trả lãi 4%/năm. Còn ngược lại nếu kí hợp đồng mua kì hạn anh ta sẽ không phải trả lãi nên X cũng sẵn sàng bỏ ra $104,000 để mua ngôi nhà trong vòng 1 năm nữa. Đó là lý do vì sao giá kì hạn được thống nhất ở $104,000 chứ không phải là $100,000.

SOURCE: WIKIPEDIA

Trích dẫn từ: http://saga.vn/dictview.aspx?id=1657