BẢO HIỂM RỦI RO TÍN DỤNG THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN Ở LIÊN BANG NGA

TRỊNH TRỌNG NGHĨA (theo Tài chính – Nga, số 3/2007) 

Năm 2005 Nga sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật cầm cố bất động sản và các luật hữu quan (như Luật ruộng đất, nhà ở, công chứng và Luật tố tụng dân sự, v.v…) cho phù hợp với tình hình mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hoá các nền kinh tế để Nga gia nhập WTO. Theo Luật cầm cố nói trên, thì những bất động sản sau đây, kể cả công trình xây dựng dở dang, đều có thể dùng làm tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng (xin gọi là tín dụng thế chấp bất động sản tài sản)

1. Ruộng đất, kể cả hồ, ao, trừ ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu công cộng;

2. Công ty, doanh nghiệp, kể cả văn phòng, nhà xưởng, công trình, vật kiến trúc và thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

3. Nhà ở, kể cả các tiện nghi và vật dụng gắn liền với nhà ở phục vụ sinh hoạt hàng ngày;

4. Nhà nghỉ mát, biệt thự, ga ra ôtô và các công trình, vật kiến trúc phục vụ nghỉ mát;

5. Máy bay, tàu thuỷ, kể cả tàu thuyền phà sông biển và các công trình phục vụ ngành hàng không và tàu thuỷ.

Theo luật cầm cố hiện hành, thì người mang tài sản đi thế chấp để vay tiền ngân hàng gọi là người thế chấp hay con nợ; còn người nhận tài sản cầm cố gọi là người nhận thế chấp hay chủ nợ. Người không tham gia vay nợ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (cầm cố) cũng có thể là người thế chấp.

Nếu trong hợp đồng thế chấp bất đJ DSộng sản (nhà ở) không nói gì khác, thì những vật dụng gắn liền với ngôi nhà, phục vụ sinh hoạt hàng ngày ở đây cũng được coi là tài sản thế chấp thuộc bất động sản này. Nếu nhà ở đem thế chấp được xây dựng hay mua sắm bằng tín dụng thế chấp, thì chủ nợ chỉ có quyền cầm cố ngôi nhà này, sau khi nó được cơ quan công chứng hay trước bạ nhà nước công nhận nó thuộc quyền sở hữu của con nợ (của người vay tiền vay nhà). Chủ nợ có quyền yêu cầu con nợ hoàn trả tiền thế chấp sau khi tài sản thế chấp hết hạn cầm cố. Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

       Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó.

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.”

Nhưng vì hiện nay tại nhiều nước trên thế giới người ta nói rất nhiều đến việc “hai bên đều có lợi” (“giải pháp cùng thắng,” win-win solution) trong trao đổi hàng hóa (mậu dịch) và việc “có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội” (mà tiếng Anh người ta gói trong các khái niệm như “cosmopolitan egalitarianism” và “global justice”), nhân cơ hội nầy tôi xin trình bày một vài nhận xét và suy nghĩ về công bằng trong mậu dịch. Theo tôi công bằng trong mậu dịch (Fair Trade) là một nhân tố của công bằng cho toàn xã hội loài người (global justice, cosmopolitan egalitarianism) nhưng, khác với khái niệm global justice hay cosmopolitan egalitarianism, có một quan niệm với những mục tiêu rất thiết thực mà người ta có thể, từng bước, đạt được từ các cấu trúc kinh tế, xã hội và chính trị hiện hữu qua những cuộc vận động hay đấu tranh kiên trì.

Continue reading

SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. NGUYỄN BÁ CHIẾN – Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính

Pháp luật không phải là hiện tượng bất biến. Nó phụ thuộc và được quyết định bởi điều kiện thực tế của xã hội, nó thay đổi và phát triển để phù hợp với sự thay đổi và phát triển của xã hội. Việc sửa đổi pháp luật được đặt ra nhằm điều chỉnh kịp thời và có hiệu quả các quan hệ xã hội. Nhưng việc sửa đổi pháp luật một cách thường xuyên, trong một thời gian ngắn hoặc rất ngắn thể hiện pháp luật không có tính ổn định tương đối.

Nếu các quan hệ xã hội vận động và phát triển rất nhanh thì việc sửa đổi pháp luật thường xuyên cũng là điều bình thường. Ngược lại, nếu các quan hệ xã hội vận động và phát triển bình thường, không có đột biến mà phải sửa đổi pháp luật thường xuyên thì vai trò của pháp luật đó là yếu kém, không phải là khuôn mẫu cho các hành vi xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội. Điều này mang đến những tác động tiêu cực không nhỏ cho xã hội.

1. Thực trạng của việc sửa đổi pháp luật thường xuyên ở nước ta

1.1. Các bình diện sửa đổi pháp luật thường xuyên

Về loại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): việc sửa đổi pháp luật thường xuyên diễn ra từ các đạo luật cho đến các văn bản dưới luật.

Các đạo luật đã được sửa đổi, thay đổi thường xuyên trong thời gian qua ở nước ta là: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1992, được thay thế bằng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2000, được thay thế bằng Luật Đầu tư năm 2005; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi năm 2004 và năm 2005; Luật Giao thông đường bộ năm 2001 được sửa đổi năm 2008; Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 được sửa đổi năm 2002 và được thay thế bằng Luật Ban hành VBQPPL năm 2008; Luật Thương mại năm 1997 được thay thế bằng Luật Thương mại năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 1999 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Giáo dục năm 1998 được thay thế bằng Luật Giáo dục năm 2005.

Continue reading