XÁC MINH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

P.T

Xác minh trong hoạt động công chứng là một trong những vấn đề hết sức quan trọng đối với việc chứng nhận một văn bản công chứng đúng pháp luật. Văn bản công chứng có hiệu lực cao cần phải chấp hành đúng các quy định của pháp luật chung và đặc biệt là pháp luật chuyên ngành về công chứng.

Đó là các quy định về thủ tục, cách thức tiến hành việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứng viên theo đúng trình tự nhất định thông qua các bước thực hiện công chứng. Trong bài viết này xin trao đổi với bạn đọc về vấn đề xác minh trong hoạt động công chứng  để tham khảo.

Luật công chứng năm 2006 của Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 có qui định về vấn đề xác minh trong hoạt động công chứng tại một số Điều Luật như sau:

Tại khoản 4 Điều 35 Luật công chứng qui định về công chứng hợp đồng, giao dịch : "Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng giao dịch có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng".

Tại khoản 2 Điều 48 Luật công chứng qui định về công chứng di chúc: "Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép thì công chứng viên từ chối công chứng di chúc đó hoặc theo đề nghị của người lập di chúc tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định".

Continue reading

QUYỀN LỢI NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

XƯA VÀ NAY – Năm 1483, vua Lê Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, soạn định lại, xây dựng lại thành một bộ luật hoàn chỉnh. Đó là bộ "Quốc triều hình luật" hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức. Luật Hồng Đức nói riêng và pháp luật thời Lê nói chung mang đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc tình trạng xã hội nước ta thế kỷ XV và sau này.

Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong hai chương "Hộ hôn" và "Điền  sản". Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ – điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm. Có 53/722 điều luật (7%) bànvề hôn nhân – gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình. Người vợ, trên lý thuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng. Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ – chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ. Cũng giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc. Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà"(1). Điều 23 trong "Quốc triều hình luât" quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng. Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội. Trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện).

Điều 322 – "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị". Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1 năm – nếu vợ đã có con).

Continue reading

KHẮC PHỤC NHỮNG XUNG ĐỘT VÀ LỖ HỔNG TRONG PHÁP LUẬT

NGUYỄN MINH ĐỨC – Trung tâm Nghiên cứu Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm – Học viện Cảnh sát nhân dân

Gần đây, hệ thống pháp luật của nước ta đã và đang ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chế độ chính trị, chế độ kinh tế, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta những năm qua cho thấy còn tồn tại hiện tượng nhiều quy phạm pháp luật (QPPL) trong một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí phủ định lẫn nhau hoặc trái với Hiến pháp (khoa học pháp lý gọi là xung đột trong pháp luật).

Ngoài ra còn có những quan hệ xã hội đang tồn tại và phát triển mà không có QPPL điều chỉnh (gọi là lỗ hổng trong pháp luật). Để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chúng tôi đề cập một số vấn đề về phương diện lý luận và thực tiễn, cũng như kinh nghiệm của nước ngoài trong việc giải quyết các xung đột, lỗ hổng trong pháp luật ở nước ta hiện nay.

1. Vấn đề xung đột trong pháp luật

Có thể nói, trong lý luận và thực tiễn pháp luật chúng ta thường dùng các thuật ngữ và khái niệm như: mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu sót mà không gọi là xung đột và lỗ hổng trong pháp luật. Trên thực tế, khoa học pháp lý nước ta chưa có những nghiên cứu đầy đủ và chính xác về hai vấn đề này. Trong khi đó, vấn đề xung đột và lỗ hổng trong pháp luật đã được ghi nhận và nghiên cứu tương đối sâu trong khoa học pháp lý hiện đại của các nước trên thế giới.

Xung đột trong pháp luật là “sự bất đồng hoặc mâu thuẫn giữa các quy phạm, các VBQPPL riêng lẻ cùng điều chỉnh một hoặc nhiều quan hệ xã hội, mà sự mâu thuẫn đó được xuất hiện trong quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền”1.

Continue reading

NHỮNG CHIÊU NÉ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHI CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

TẠP CHÍ THUẾ – Trên thực tế, không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng của luật để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho ngân sách. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.

Là sắc thuế có tầm ảnh hưởng rộng, tác động đến hầu hết mọi tầng lớp dân cư, mọi sinh hoạt của đời sống, xã hội nên việc triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không tránh khỏi vướng mắc phát sinh trong năm đầu triển khai.

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có sự nắm bắt để sửa đổi, bổ sung chính sách kịp thời, nhưng riêng vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Tự khai là tài sản duy nhất

Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng;  công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở.

Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách.

Continue reading

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG – NHỮNG BẤT CẬP CẦN SỬA

LS. NGUYỄN BÌNH AN – Văn phòng Luật sư Ngọn Lửa Việt – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

Từ khi ban hành cho đến nay, Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã tạo một hành lang pháp lý quan trọng điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ hài hoà, ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội. Khi nền kinh tế và xã hội phát triển nhanh với điểm nhấn VN gia nhập WTO, BLLĐ đã lộ ra những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào quan hệ lao động.

Bất cập giữa luật và văn bản hướng dẫn

Theo tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề 2006, trường hợp người học nghề, tập nghề được DN tổ chức dạy nghề không thu phí học nghề, nếu đã ký HĐLĐ và cam kết làm việc cho DN theo một thời hạn nhất định mà không làm việc hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cam kết làm việc cho DN thì phải bồi thường chi phí dạy nghề (theo Điều 24, BLLĐ, Điều 37 Luật Dạy nghề 2006).
Tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề là vậy, nhưng Nghị định số 44/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành đã loại trừ một số trường hợp, đó là khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ đúng và đủ theo các quy định tại Điều 37 BLLĐ thì không phải bồi hoàn chi phí đào tạo.
Trong thực tế, để chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc của NLĐ VN, các DN có vốn đầu tư nước ngoài, bằng chi phí của mình, đã đưa NLĐ của mình sang các nước phát triển để đào tạo từ vài tháng đến vài năm với cam kết NLĐ phải làm việc cho DN trong khoảng thời gian nhất định. Nhiều NLĐ đã về nước, đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của DN nói riêng và kinh tế VN nói chung.

Tuy nhiên, một số NLĐ, căn cứ vào lỗ hổng của pháp luật lao động hiện hành, đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn của mình theo đúng quy định của pháp luật, không thực hiện cam kết làm việc cho DN trong một thời hạn nhất định như đã thỏa thuận.

Continue reading

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG PHILIPPINES VỚI THẨM QUYỀN VỀ CẤP PHÉP ĐĂNG KÝ KINH DOANH

NGUYỄN ĐỨC LAM

Chính quyền địa phương Philippines hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1987 và Bộ luật chính quyền địa phương 1991.Trong đó, chính quyền địa phương được thu thuế như thuế tài sản, thuế kinh doanh, phí, cấp phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp chưa hoạt động và cấp lại một số giấy tờ đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ở địa phương đó. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng có quyền chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, thương mại và đất ở, thực thi các quy định về môi trường, thực thi Bộ luật Xây dựng, xây dựng và thông qua các kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý việc sử dụng xe ba bánh; quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, nông nghiệp, dịch vụ công….

1. Cơ chế chung về cấp phép kinh doanh

Chính quyền địa phương Philippines hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1987 và Bộ luật chính quyền địa phương 1991. Theo Điều X của Hiến pháp, các địa phương được quyền tự chủ trong phạm vi của mình; Quốc hội phải ban hành một Bộ luật về chính quyền địa phương với nguyên tắc phân cấp; mỗi đơn vị địa phương có quyền tạo các nguồn thu, đánh thuế, phí theo hướng dẫn và giới hạn do Quốc hội đặt ra.

Dựa trên nguyên tắc phân quyền, Bộ luật chính quyền địa phương đã quy định một số thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương có quyền chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, thương mại và đất ở, thực thi các quy định về môi trường, thực thi Bộ luật Xây dựng, xây dựng và thông qua các kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý việc sử dụng xe ba bánh; quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, nông nghiệp, dịch vụ công.

Trong lĩnh vực kinh tế, chính quyền địa phương được thu thuế như thuế tài sản, thuế kinh doanh, phí, cấp phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp chưa hoạt động và cấp lại một số giấy tờ đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ở địa phương đó. Thuế kinh doanh thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương, một dạng công cụ quản lý và là nguồn thu lớn của chính quyền địa phương ở Philippines.

Continue reading

VÌ SAO TÒA ÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÒN ÁN QUÁ HẠN?

THANH TÙNG – HỒNG TÚ

“Xếp xó” hồ sơ khi gặp án khó, trả hồ sơ tới lui vì “nhát tay”… Không chỉ làm cơ quan tố tụng đau đầu, án quá hạn còn làm người dân mệt mỏi, khổ sở vì phải chờ đợi và không biết đến bao giờ quyền lợi của mình mới được giải quyết dứt điểm. Vì sao lại có thực trạng này?

I. Vẫn trình độ non và nhát tay

“Quyết” kéo rê chứ không xử

Cuối năm 2007, bà H. kiện ra TAND quận 12 (TP.HCM) đòi khoản nợ 1,2 tỉ đồng mà bên mua nhà còn thiếu. Được phân công giải quyết, thẩm phán nhiều lần hòa giải nhưng bị đơn chỉ một lần đến dự, lại không chịu ký vào biên bản.

Năm 2008, tòa mở phiên xử nhưng phải hoãn vì bị đơn vắng mặt. Sau đó, thẩm phán lại… tổ chức hòa giải. Dù bị đơn luôn vắng mặt nhưng thẩm phán vẫn “kiên trì” hòa giải trong khi theo luật, tòa hoàn toàn có quyền xử vắng mặt bị đơn nếu sau hai lần triệu tập hợp lệ mà bị đơn không đến.

Chịu hết siết, bà H. đã yêu cầu chánh án TAND quận 12 thay đổi thẩm phán vì cho rằng vị này không khách quan, cố tình kéo rê án có lợi cho phía bị đơn. Tháng 5-2009, chánh án TAND quận 12 đã ra quyết định không cho thẩm phán trên tiếp tục giải quyết vụ kiện. Đến nay, vụ kiện của bà H. cũng chưa được vị thẩm phán mới giải quyết xong.

Bắt dân chờ đến bao giờ?

Trường hợp của ông C. còn khổ sở hơn nhiều. Cuối năm 2002, ông khởi kiện người hàng xóm bít lối đi vào đất của mình và được TAND quận 12 thụ lý. Một tháng sau, tòa triệu tập các bên đương sự đến làm việc. Rồi bẵng đi hai năm, đến cuối năm 2004, tòa mới gọi ông C. đến bảo cung cấp chứng cứ. Xong, tòa lại nói ông về, chờ cơ quan chức năng đo vẽ, định giá đất.

Continue reading

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO

HOÀNG THẾ THỎA

Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái tiền tệ và trở thành vật ngang giá – thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế. Mặt khác, nhờ đặc tính lý hoá của nó, vàng được sử dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng. Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần, nhưng giá vàng tăng chậm và có thể coi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều NHTW và nhà đầu tư, nên giá vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh.

Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT của NHNN. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới biến động theo xu hướng ngày càng tăng và vàng trở thành hàng hóa đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng và hấp thụ một lượng tiền khổng lồ, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành CSTT. Ngoài hoạt động kinh doanh truyền thống, giá vàng tăng mạnh đã thúc đẩy sự hình thành các loại hình kinh doanh vàng với qui mô ngày càng lớn, điển hình là các sàn giao dịch vàng.

Về hoạt động của các sàn vàng, sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam là sàn giao dịch vàng của Ngân hàng Á Châu, được hình thành vào ngày 25/5/2007 với tên gọi ban đầu là Trung tâm giao dịch vàng Sài gòn và gồm 9 thành viên, là các NHTM và doanh nghiệp kinh doanh vàng quy mô lớn. Từ tháng 12/2007, sàn giao dịch này mở rộng sang các khách hàng cá nhân. Từ đó, khối lượng giao dịch trên sàn đã gia tăng đột biến.

Continue reading