MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ HÔN NHÂN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

LÊ ĐÌNH (sưu tầm)

Người chồng có hôn thú và hôn thú chưa bị thủ tiêu, lúc biết vợ có thai mà lại bỏ nhà ra đi trên hai tháng không có lý do hệ trọng là phạm tội.

Ngay từ xưa, pháp luật của Pháp và Việt Nam đã có nhiều biện pháp chế tài khá nghiêm khắc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Dù các quy định này khá “cổ”, nhưng có nhiều điều cũng rất đáng để chúng ta suy gẫm.

Bỏ phế gia đình

Theo Luật ngày 7-2-1924, bỏ phế gia đình là một khinh tội do đặt ra để phạt người nào bị án tòa buộc cấp dưỡng cho người hôn phối, người tôn thuộc hay ti thuộc mà không chịu thi hành (tương tự như tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng ngày nay).

Sắc luật ngày 3-12-1942 bổ sung thêm vào tội danh trên ba loại hành vi nữa là bỏ cư sở gia đình ra đi trong khi có con vị thành niên, chồng bỏ vợ đang thai nghén và cha mẹ vô hạnh. Mức phạt: từ ba tháng đến một năm tù và phạt tiền từ 5.000 – 100.000 đồng. Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì can phạm có thể được hưởng án treo.

Bỏ cư sở gia đình

Người cha hay người mẹ có con vị thành niên, không có duyên cớ hệ trọng nào mà lại bỏ cư sở gia đình ra đi hơn hai tháng (để lẩn tránh nghĩa vụ của mình về tinh thần hay vật chất đối với gia đình) là phạm tội. Các yếu tố cấu thành tội này là:

– Can phạm phải là cha hay mẹ của một hay nhiều đứa con. Ông bà hoặc người giám hộ không bị phạt về tội này. Nếu người chồng hoặc người vợ không có con (gồm con chính thức, con nuôi, chứ con tư sinh thì không được xem là có gia đình) thì có bỏ gia đình ra đi cũng không sao. Nếu người chồng biết vợ có thai mà bỏ đi thì mới có tội.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 07/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ CHUYỂN NHƯỢNG KHU CHUNG CƯ TRONG DỰ ÁN KHU DÂN CƯ BẮC KÊNH LƯƠNG BÈO

Kính gửi:

Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 67/TS-2009 ngày 01/12/2009 của công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn về việc chuyển nhượng khu chung cư trong dự án Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Căn cứ quy định tại các Điều 6,7,8,9 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản, việc công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn nhận chuyển nhượng từ công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh khu chung cư Lô A trong dự án Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo là việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư, không phải là việc chuyển nhượng toàn bộ dự án. Vì vậy, khi Công ty thực hiện việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư thì không phải áp dụng các quy định về chuyển nhượng toàn bộ dự án được quy định tại Nghị định 153/2007/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điểm a Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP thì “..Chủ đầu tư được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế đối với diện tích đất đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng theo dự án được xét duyệt hoặc theo dự án thành phần của dự án đầu tư đã được xét duyệt; tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng nội dung xây dựng và tiến độ ghi trong dự án đó”. Vì vậy, khi Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh thực hiện việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo, các chủ đầu tư phải tuân thủ đúng các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đầu tư, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng thông báo để Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

CÔNG VĂN SỐ 05/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hà Nội

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 9119/SXD-QLN ngày 11/11/2009 của Sở Xây dựng thành phố Hà Nội về việc hoạt động của các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1/ Về việc các Sàn giao dịch bất động sản có tên gọi trùng nhau

Khi doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản thì việc đặt tên của sàn giao dịch bất động sản phải tuân thủ đúng quy định về tên gọi của pháp nhân được quy định tại Khoản 1 Điều 87 Bộ Luật Dân sự, theo đó “Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt, thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động”. Như vậy, khi doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản có tên gọi của Sàn trùng với tên gọi của sàn giao dịch bất động sản đang hoạt động thì Sở Xây dựng hướng dẫn doanh nghiệp đang thành lập sàn thay đổi tên gọi của Sàn để phù hợp với quy định nêu trên.

2/ Về việc doanh nghiệp thành lập nhiều sàn giao dịch bất động sản

Pháp Luật Kinh doanh bất động sản không quy định hạn chế tổ chức, cá nhân trong việc thành lập sàn giao dịch bất động sản. Việc thành lập sàn giao dịch bất động sản của doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định tại Phần IV Thông tư 13/2008/TT-BXD ngày 21/5/2008 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 153/2007/NĐ-CP và quy định tại Chương IV Bộ Luật dân sự về Pháp nhân.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng thông báo để Sở Xây dựng thành phố Hà Nội nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THÔNG TƯ SỐ 11/2010/TT-BTC NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THUẾ ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Căn cứ các Luật, Pháp lệnh về thuế hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các Luật, Pháp lệnh về thuế;
Căn cứ Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài;
Căn cứ Nghị định số 121/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 07 năm 2007 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư Việt Nam ra nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ (dưới đây gọi chung là Nghị định số 78/2006/NĐ-CP) và Nghị định số 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 của Chính phủ (dưới đây gọi chung là Nghị định số 121/2007/NĐ-CP) như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định về nghĩa vụ thuế đối với các nhà đầu tư Việt Nam nêu tại Điều 2 Nghị định số 78/2006/NĐ-CP và tại Điều 2 Nghị định số 121/2007/NĐ-CP được phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 78/2006/NĐ-CP và Nghị định số 121/2007/NĐ-CP.

2. Trường hợp tại Điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam ký kết hoặc tham gia có liên quan về đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư Việt Nam có quy định về thuế khác với hướng dẫn tại Thông tư này thì nghĩa vụ thuế thực hiện theo các điều ước quốc tế đã ký kết.

Continue reading →

CHỈ THỊ SỐ 134/CT-TTg NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT

Kết quả kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ cho thấy tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức trên phạm vi cả nước vẫn còn nhiều, phổ biến ở hầu hết các địa phương, dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất không đúng mục đích được giao, được thuê hoặc cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đất trái phép; để đất hoang hóa, quản lý lỏng lẻo để bị lấn, bị chiếm đất. Mức độ vi phạm pháp luật đất đai nhiều nhất là các tổ chức kinh tế, các nông trường, lâm trường quốc doanh và các tổ chức sự nghiệp công; nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết. Trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các địa phương đã tích cực chỉ đạo, tổ chức nhiều đợt kiểm tra và xử lý vi phạm trong sử dụng đất của các tổ chức, nhưng việc xử lý các vi phạm còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhiều vụ việc vi phạm kéo dài vẫn chưa được giải quyết.

Để kịp thời khắc phục những yếu kém, đồng thời chấn chỉnh lại việc quản lý sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện ngay một số việc sau đây:

1. Trên cơ sở kết quả kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của tổ chức theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung kiểm tra cụ thể các trường hợp vi phạm và phân loại để có giải pháp giải quyết dứt điểm tình trạng vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức sử dụng đất, trước hết là các vụ việc điển hình, gây nhiều bức xúc trong dư luận.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH SỐ 420/QĐ-BTP NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP QUY ĐỊNH CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Quyết định số 405/CP ngày 10 tháng 11 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về việc thành lập Trường Đại học pháp lý Hà Nội (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội);
Căn cứ Quyết định số 1727/QĐ-TTg ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp;
Căn cứ “Điều lệ trường đại học” ban hành kèm theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ và Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Vị trí và chức năng

Trường Đại học Luật Hà Nội (sau đây gọi là Trường) là trường đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tổ chức đào tạo đại học và sau đại học luật; nghiên cứu khoa học, truyền bá pháp lý và tư vấn pháp luật.

Trường chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư pháp, sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trường là đơn vị sự nghiệp, có con dấu và tài khoản tại Kho bạc và Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

Điều 2. Nhiệm vụ, quyền hạn

Trường có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1. Xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp kế hoạch công tác dài hạn, trung hạn và hàng năm của Trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường đại học của Nhà nước; tham gia xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển Ngành Tư pháp;

Continue reading →