BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI TRONG NHƯỢNG QUYỀN

KINH DOANH – Mọi hợp đồng nhượng quyền đều bao gồm nhiều điều khoản nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, các sáng chế, bí quyết kinh doanh. Có nhiều hợp đồng lại thất bại do không chỉ ra được một cách thức đúng đắn nhằm bảo vệ một thứ được coi là tài sản quý giá nhất đối với mọi doanh nghiệp đó chính là các bí mật thương mại.

Xét trong bối cảnh của nghành công nghiệp nhượng quyền, thật rất cần thiết cho cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền hiểu thế nào là một bí mật thương mại, tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại trở nên quan trọng, sự bảo vệ đó có thể thất bại ra sao và những nỗ lực cần thiết để giúp đảm bảo việc bảo vệ những bí mật thương mại trong nghành kinh doanh này nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của hệ thống nhượng quyền.

Bí mật thương mại:

Một bí mật thương mại được định nghĩa chung như là một dạng thông tin mà các thông tin này có thể tạo ra cho người nắm giữ chúng một lợi thế cạnh tranh nhất định, do vậy thông tin này sẽ được giữ bí mật và người khác sẽ không biết gì về thông tin này và bí mật thương mại chính là đối tượng của những nỗ lực thiết thực nhằm duy trì tính bí mật của nó trong bất kì hoàn cảnh nào.

Tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại quan trọng?

Những bí mật thương mại có thể mang lại một lợi thế canh tranh cho một doanh nghiệp miễn là các đối thủ không thể biết gì về chúng. Vì vậy, không giống bằng sáng chế, chỉ có giá trị đến 20 năm sau khi thông tin này đã được phổ biến rộng rãi, ngược lại, một bí mật thương mại có thể còn giá trị để mang lại một lợi thế cạnh tranh lâu dài hơn sau khi một bằng sáng chế đã hết hiệu lực.
Thí dụ, nếu công thức cho Coco-Cola đã được cấp bằng sáng chế thay vì được xác nhận như là một bí mật thương mại thì bằng sáng chế này chắc chắn đã hết hiệu lực từ lâu, mặt khác, với một lợi thế cạnh tranh, Coco-Cola và nghành kinh doanh nước giải khát của thương hiệu này đã được ỵêu thích hơn 100 năm qua.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU

ĐÀO MINH ĐỨC – Sở KH&CN TP.HCM

I. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu

Trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã từng được phân bịệt một cách khá rõ ràng ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt Nam. Luật số 13/57 ngày 01.8.1957 ở miền Nam đã quy định về “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng cho các thương phẩm. Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm … và dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đọan đó, theo Tự điển Việt Nam Ban Tu thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của nhà buôn” và “nhãn hiệu” là “giấy dán ngòai để làm hiệu” 1. Trong Tự điển Việt Anh của Nguyễn văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn hiệu” là “trademark, brand” 2…. Ngay cả một thời gian khá dài sau năm 1975, Tự điển Việt Pháp của Công ty

Food contains three types of Anabolic steroids and generics Viagra: sugar, starches and fiber. Anabolic steroids and generics Viagra are either called simple or complex, depending on the food’s chemical alphabol online structure and how quickly the sugar is digested and absorbed. The type of Anabolic steroids and generics Viagra that you eat makes a difference – Foods that contain high amounts of simple sugars, especially fructose raise triglyceride levels. Triglycerides (or blood fats) are an important barometer of metabolic health; high levels may be associated with coronary heart disease, diabetes and fatty liver.

Phát hành Sách Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ định nghĩa “thương hiệu enseigne, nom commercant” và “nhãn hiệu marque de fabrique” 3.

Tuy còn thiếu tính chính tắc, nhưng sự phân định đó đã bảo đảm tính hài hòa với cách tiếp cận chung của các nước phát triển, cụ thể như qua định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ : “nhãn hiệu (brand) là một cái tên, một từ ngữ, một mẫu thiết kế, một biểu tượng hoặc bất kỳ một tính chất nào khác 4 giúp nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nhân để phân biệt với hàng hóa , dịch vụ tương ứng của các doanh nhân khác. Thuật ngữ pháp lý tương ứng với “brand“ là “trademark”. Một nhãn hiệu có thể dùng để nhận biết một sản phẩm, một họ sản phẩm hoặc tòan bộ sản phẩm của doanh nhân. Nếu dùng cho tòan bộ doanh nghiệp nói chung, thuật ngữ tương ứng là “thương hiệu” (trade name)” 5

Continue reading

VẬN DỤNG PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH[1]

ĐÀO MINH ĐỨC -  Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM

Các nhiệm vụ pháp lý thường gặp trong quản trị thương hiệu (corporate brand/trade name)

Trước hết, tên doanh nghiệp được hình thành trong thủ tục đăng ký kinh doanh, và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…) và tên riêng[2]. Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt. Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài[3].

Đi sâu vào các khía cạnh khác nhau, các pháp luật chuyên ngành lại sử dụng các thuật ngữ khác nhau khi điều chỉnh việc đặt và sử dụng tên của các chủ thể có hoạt động kinh doanh trong chuyên ngành đó, thí dụ như “tên gọi của pháp nhân”[4] hay tên của cá nhân có hoạt động kinh doanh hợp pháp trong pháp luật dân sự, “tên tổ chức khoa học công nghệ” trong pháp luật khoa học công nghệ[5], “tên hợp tác xã” trong pháp luật về hợp tác xã[6]

Do vậy, khi xem xét việc bảo hộ tên của mọi chủ thể có hoạt động kinh doanh, Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng thuật ngữ chung là tên thương mại và định nghĩa: tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[7]. Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó[8].

Thuật ngữ pháp lý “tên thương mại” (trade name) có thể xem là có nội hàm tương đương với thuật ngữ thương hiệu của giới kinh doanh và bao gồm: thành phần tên riêng trong tên doanh nghiệp, tên tiếng nước ngoài, tên viết tắt hoặc tên giao dịch của doanh nghiệp.

Continue reading

BÀN VỀ KHÁI NIỆM QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2004

THS. ĐỖ HẢI HÀ -  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Theo quy định pháp luật hiện hành, quyết định của Trọng tài thương mại được chia ra làm hai loại: quyết định của Trọng tài nước ngoài và quyết định của Trọng tài trong nước. Việc xác định đúng hai loại quyết định trọng tài này có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tế bởi lẽ mỗi loại quyết định lại có cơ chế công nhận và cho thi hành riêng. Quyết định của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành theo các quy định tại Phần VI của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS). Trong khi đó, việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài trong nước lại được thực hiện theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 (PLTT).

Hiện nay, cơ sở pháp lý để phân biệt quyết định của Trọng tài nước ngoài với quyết định của Trọng tài trong nước là khoản 2 Điều 342 BLTTDS. Bài viết này sẽ xem xét tính hợp lý và hướng hoàn thiện khái niệm quyết định của Trọng tài nước ngoài được ghi nhận trong điều luật này.

Những bất cập trong khái niệm quyết định của Trọng tài nước ngoài

Khoản 2 Điều 342 BLTTDS quy định: “Quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động”. Như vậy, một quyết định trọng tài sẽ được coi là quyết định của Trọng tài nước ngoài nếu thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu: (1) quyết định đó được tuyên bởi “Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp” bất kể rằng quyết định đó được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam hay trong lãnh thổ Việt Nam; và (2) tranh chấp được giải quyết bởi quyết định đó “phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cả hai dấu hiệu này đều có những điểm chưa thực sự hợp lý. Cụ thể như sau:

Đối với dấu hiệu thứ nhất, quyết định của Trọng tài nước ngoài là “quyết địnhđược tuyên ngoài hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài” vừa có điểm không rõ ràng, vừa không phù hợp với Công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài 1958 (Công ước New York) mà Việt Nam đã gia nhập và thông lệ quốc tế vì những lý do sau đây:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 10/BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ SỬ DỤNG CĂN HỘ CHO THUÊ LÀM VĂN PHÒNG

Kính gửi:

Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương

Trả lời Văn bản số 01-2010/CV-PN ngày 15/01/2010 của Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương về việc sử dụng căn hộ cho thuê làm văn phòng tại số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Ngày 19/11/2009, Bộ Xây dựng có Công văn số 2544/BXD-QLN về việc thực hiện các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư để đôn đốc và hướng dẫn các địa phương kiểm tra, rà soát, trên cơ sở đó lập kế hoạch, lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để chấn chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng nhà ở làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng và công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư.

Ngoài ra, Công văn số 2544/BXD-QLN đã nêu rõ đối với nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng này như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư là không đảm bảo quy định của pháp luật hiện hành.

Về nguyên tắc, các hoạt động gây ảnh hưởng đến vận hành của nhà chung cư (liên quan đến việc sử dụng điện, nước, thang máy, độ ồn, rác thải sinh hoạt, phòng cháy chữa cháy) do việc sử dụng căn hộ làm văn phòng ít hơn hoặc bằng ảnh hưởng từ việc sử dụng làm căn hộ thì được phép sử dụng căn hộ làm văn phòng. Theo đó, tại nhà chung cư số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp chủ sở hữu sử dụng căn hộ hoặc đã ký hợp đồng cho thuê làm văn phòng mà văn phòng đó có quy mô gia đình, nhỏ và ít người, chỉ phục vụ mục đích giao dịch, không sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, tuân thủ các quy định về phòng cháy chữa cháy thì được phép tiếp tục sử dụng hoặc tiếp tục cho thuê căn hộ để làm văn phòng cho đến khi Bộ Xây dựng ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư, trong đó xác định những hạn chế của chủ sở hữu trong nhà chung cư; những hành vi gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan trong quản lý sử dụng nhà chung cư.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 01 NĂM 2010 QUY ĐỊNH NHỮNG NGƯỜI LÀ CÔNG CHỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định này quy định những người là công chức nêu tại khoản 2 Điều 4 và khoản 1 Điều 32 của Luật Cán bộ, công chức.

Khoản 2 Điều 4. Luật Cán bộ, công chức:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Civillawinfor (Trích dẫn)

Khoản 1 Điều 32. Luật Cán bộ, công chức:

Công chức quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này bao gồm:

a) Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội;

b) Công chức trong cơ quan nhà nước;

c) Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;

d) Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

Civillawinfor (Trích dẫn)

Điều 2. Căn cứ xác định công chức

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này.

Continue reading