ỦY THÁC TƯ PHÁP DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước, tình hình kinh tế, xã hội luôn phát triển, hợp tác kinh tế, đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều hơn, trong bối cảnh đó các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài cũng tăng lên. Để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật thì tương trợ tư pháp là một công cụ hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp đó.

Năm 2009, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 3.622 vụ án có yếu tố nước ngoài (trong đó dân sự 1.367, hôn nhân gia đình 1.106, kinh doanh thương mại 1.227 và lao động 22). Hoạt động tương trợ tư pháp trong các vụ án này chủ yếu là ủy thác tư pháp giữa Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án có thẩm quyền của các nước để nhằm giúp nhau thực hiện một số công việc như ghi lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa chỉ, trưng cầu giám định…

Việc ủy thác tư pháp trước hết dựa trên cơ sở các hiệp định song phương về tương trợ tư pháp mà Việt nam đã ký kết; đối với các nước mà Việt Nam chưa ký Hiệp định tương trợ tư pháp, việc thực hiện dựa trên nguyên tắc có đi có lại, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia và các bên cùng có lợi. Tùy theo nội dung của từng Hiệp định, có Hiệp định chỉ điều chỉnh các vấn đề tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp hai nước mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột pháp luật như Hiệp định ký với Pháp và Trung quốc.

Do đặc điểm về lịch sử, nhiều gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh tại Miền nam có nhiều người thân định cư làm ăn sinh sống ở nước ngoài như Mỹ, Úc, Canada, Anh…đây là những nước chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam nên việc thực hiện ủy thác tư pháp gặp nhiều khó khăn vì không có kết quả. Đối với những nước có Hiệp định tương trợ tư pháp thì có thể nhận được kết quả nhưng rất chậm. Mặt khác trào lưu kết hôn với người nước ngoài cũng là vấn đề để lại hậu quả khi một bên trở về nước và có yêu cầu ly hôn với người đang ở nước ngoài.

Continue reading

HỌC THEO TÍN CHỈ THẾ NÀO CHO HIỆU QUẢ?

VIỆT HÀ – Khoa Sư phạm, Địa học Quốc gia Hà Nội

Đọc sách, thảo luận, thuyết trình, trình chiếu Powerpoint, làm bài tập lớn – bài tập nhỏ… Đó là một số khâu cơ bản của một hình thức dạy học mới ở Việt Nam những năm gần đây: Mô hình dạy học theo tín chỉ. Mô hình này hiện nay đã trở nên không còn xa lạ đối với sinh viên Việt Nam.

Ở một số trường, nó đã được áp dụng nhưng chưa đồng bộ và còn rất nhiều ý kiến trái chiều. Năm 2006, các trường đại học đã tổ chức rất nhiều các cuộc hội thảo bàn về những vấn đề của dạy học theo tín chỉ, về hình thức, nội dung, nhiệm vụ và tính chất… của mô hình này. Thực tế, việc dạy và học theo tín chỉ vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề không tránh khỏi của một mô hình dạy học mới. Một câu hỏi lớn được đặt ra là: Học theo tín chỉ thế nào cho hiệu quả?

Một số sinh viên tỏ ra háo hức với mô hình dạy học mới này trong khi đó số khác lại tỏ ra tiếc nuối với mô hình cũ – dạy học theo niên chế. Không phải vì mô hình cũ có hứng thú và hiệu quả hơn với họ mà chỉ vì một lí do hết sức đơn giản: họ ngại thay đổi, họ muốn giữ thói quen học – thi – trả bài từ bao lâu nay. Bản thân nhiều giảng viên cũng chưa thích ứng ngay được với cường độ và tính chất của hình thức giảng dạy mới này. Vì vậy, trước tiên đòi hỏi cả thầy và trò phải thực sự bứt phá, có ý thức thay đổi để thoát khỏi những thói quen cũ.

Học theo chương trình tín chỉ, muốn được điểm cao và hiệu quả học tập tốt, không đơn giản chỉ là bạn phải lên thư viện đọc sách từ sáng đến tối, “cày” chăm chỉ, đến kì thi học thuộc bài mà quan trọng hơn là kĩ năng và sự sáng tạo của bạn trong những công việc quen thuộc ấy. Điểm khác biệt lớn nhất của tín chỉ so với cách học truyền thống là ở chỗ thời lượng sẽ dành nhiều hơn cho thảo luận, làm việc nhóm và tự đọc sách.

Continue reading

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM

PGS. TS. TRẦN ĐÌNH HẢO – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Sự ra đời và đi vào hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam(DIV) đã đánh dấu một bước phát triển mới của hệ thống các định chế tài chính – ngân hàng ở Việt Nam. Thực tiễn hoạt động của DIV trong thời gian qua đã khẳng định: Có thể còn có những quan niệm, nhận thức khác nhau, nhưng rõ ràng DIV là một định chế tài chính không thể thiếu trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững của hệ thống tài chính – ngân hàng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra một loạt vấn đề cần được giải quyết như: DIV cần được tiếp tục củng cố và hoàn thiện như thế nào? theo mô hình nào cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam hiện nay? Luật Bảo hiểm tiền gửi cần được xây dựng như thế nào ? v.v. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin có đôi lời tham gia luận bàn về vị trí, vai trò và về địa vị pháp lý của tổ chức BHTG.

Theo quy định tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 (Nghị định 89) của Chính phủ về BHTG thì DIV là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng. Hoạt động của DIV phải bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí.

Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ ( Nghị định 109) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89 tuy có những quy định mới và tăng quyền chủ động cho tổ chức BHTG, nhưng theo đánh giá của tôi về cơ không có gì thay đổi lớn về chức năng nhiệm vụ chính của tổ chức BHTG so với quy định tại Nghị định số 89.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN VÀ ĐẢM BẢO SỰ PHÁT TRIỂN AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

TS. PHÙNG VĂN HÙNG – Giám đốc Trung tâm Thông tin, TV và NCKH Văn phòng Quốc hội

Hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng luôn có những rủi ro, trong đó mất khả năng thanh toán là rủi ro lớn nhất. Hậu quả có thể dẫn tới là hệ thống tài chính quốc gia bị tê liệt; xã hội bị bất ổn và niềm tin của các nhà đầu tư sẽ bị giảm sút. Một trong những công cụ phòng ngừa được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay là bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi được bảo hiểm cộng với tiền lãi nhập gốc cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.

Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có vị trí hết sức quan trọng cho tăng trưởng kinh tế; và đặc biệt có một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam cuộc sống của họ chỉ biết trông chờ vào lãi suất thu được từ việc gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, thì vần đề bảo hiểm tiền gửi lại càng có ý nghĩa quan trọng. Ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi. Tiếp theo đó, ngày 9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg về việc thành lập cơ quan BHTG Việt Nam. Sau 9 năm đi vào hoạt động tổ chức BHTG tại Việt Nam đã và đang tiếp tục khẳng định tốt vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng, ổn định an ninh chính trị và đời sống xã hội. BHTG được xem như một lời đảm bảo công khai và hữu hiệu của Chính phủ để củng cố lòng tin của công chúng; hạn chế tình trạng người gửi tiền đổ xô đi rút tiền hàng loạt tại ngân hàng vì nghe tin đồn thất thiệt, không có cơ sở về tình hình hoạt động tài chính kém lành mạnh của một ngân hàng nào đó; hoặc thậm chí ngay cả trong trường hợp thực sự có sự đổ vỡ của một ngân hàng nào đó thì Nhà nước cũng sẽ có biện pháp can thiệt kịp thời nhằm tránh sự lây lan sang tổ chức tín dụng đang hoạt động lành mạnh khác.

1. Mô hình và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

BHTG được xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1932 sau những vụ vỡ nợ ngân hàng hàng loạt, đó là BHTG liên bang của Mỹ (FDIC). FDIC là cơ quan của Chính phủ có nhiệm vụ thực hiện việc bảo hiểm đối với toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng Mỹ. Sau sự ra đời của FDIC, tính đến nay trên thế giới đã có khoảng hơn 90 quốc gia có tổ chức BHTG. Ngày 6/5/2002

Continue reading