BỐI CẢNH HỢP ĐỒNG

THS. TRẦN THANH TÙNG – THS. CAO THỊ HÀ GIANG

Nếu hợp đồng là một bức tranh thì bối cảnh chính là tờ giấy vẽ tranh. Bức tranh sẽ như thế nào nếu các bên ký kết chưa biết được tờ giấy của mình to hay nhỏ, vuông hay tròn?

Câu hỏi này có thể khiến một số người giật mình vì không nhiều người nghĩ đến bối cảnh khi soạn hợp đồng.

Hợp đồng cần bối cảnh

Hợp đồng là công cụ pháp lý không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh. Một khi được ký kết, hợp đồng chính là “luật” của các bên tham gia. Như những văn bản khác, hợp đồng thể hiện một hoàn cảnh cụ thể với những bên cụ thể, những mong muốn cụ thể.

Sẽ không có một hợp đồng mẫu phù hợp với mọi hoàn cảnh và mọi đối tượng. Bối cảnh khác nhau thì hợp đồng sẽ khác nhau, bối cảnh thay đổi thì hợp đồng cần phải thay đổi theo. Vậy bối cảnh hợp đồng là gì và ảnh hưởng như thế nào đến giá trị pháp lý của hợp đồng?

Bối cảnh hợp đồng ghi nhận những sự kiện, hoàn cảnh làm cơ sở cho các bên ký kết, như tư cách, chức năng của các bên, địa vị kinh tế, cơ sở pháp lý, kết quả mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng, sơ lược nội dung giao dịch…

Những sự kiện trong phần bối cảnh là những thông tin tiền đề cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng. Trong một hợp đồng cụ thể, bối cảnh thường được nêu ngay trong phần “căn cứ”, “dẫn nhập” hoặc “recital”, “whereas” trong các hợp đồng thương mại quốc tế.

Phải nhìn nhận rằng phần bối cảnh hợp đồng hiện còn khá xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI HÀNH LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2008

XUÂN HOA

1. Nặng lời với dân bị kỷ luật

Luật Cán bộ, công chức (CB-CC) có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Nếu chiếu theo những quy định của luật này, thì làm một người CB-CC sẽ không hề đơn giản. Bởi nếu lỡ quên mà quen thói hách dịch, cửa quyền với dân sẽ bị kỷ luật, hoặc dù hoàn thành nhiệm vụ nhưng năng lực kém thì vẫn sẽ bị bố trí công tác khác…

“Mạnh tay” với cán bộ, công chức kém đạo đức, văn hóa

Nếu như trước đây, vấn đề đạo đức và văn hóa giao tiếp của CB-CC chủ yếu được quy định dựa trên quy chế của cơ quan, đơn vị, thì với Luật CB-CC nhằm thực hiện chủ trương xây dựng và quản lý đội ngũ công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ vấn đề đạo đức và văn hóa giao tiếp đã được đưa thẳng vào luật (Điều 15, 16,17 Luật CB-CC). Ví dụ như với nhân dân, theo Luật CB-CC phải gần gũi, có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc và tuyệt đối không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ. Trong tình trạng cán bộ công chức “đánh mất nụ cười” khi tiếp dân như hiện nay thì những quy định này có thể nói là tương đối cần thiết và sát thực.

Và tất nhiên, nếu CB-CC vi phạm các quy định này thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật. Có thể nói, Luật đã khá “mạnh tay” xử lý CB-CC kém đạo đức, văn hóa thông qua việc phân định lại hình thức kỷ luật áp dụng cho từng đối tượng Bên cạnh những hình thức xử lý kỷ luật cũ như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc, thì có bổ sung thêm hình thức giáng chức. Tuy nhiên, việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Mặt khác, luật có quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm (trước đây là 03 tháng). Với việc kéo dài thời hiệu như vậy, vấn đề xử lý kỷ luật CB-CC vi phạm sẽ được tiến hành triệt để và nghiêm minh hơn.

Năng lực công chức – yếu tố được xem trọng

Việc tuyển dụng CB-CC vào của nước ta hiện nay còn khá nhiều bất cập và kẽ hở vì nhiều lý do khách quan, chủ quan nên đã tạo ra ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của đội ngũ CB-CC. Có thế nói, không có một cơ quan, tổ chức nào hiện nay có may mắn sở hữu được một đội ngũ công chức vừa hồng lại vừa chuyên, và ở đâu đó vẫn còn những “con sâu làm rầu nồi canh”. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải đánh giá công chức và quan trọng hơn là kết quả đánh giá phải được phục vụ cho chính công cuộc cải tổ đội ngũ  công chức.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NHỮNG LỖ HỔNG QUÁ LỚN

MẠNH QUÂN

Lâu nay, các nhà quản lý vẫn hay nhấn mạnh rằng, cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không phải là quá trình tư nhân hoá. Nhưng với những gì diễn ra trên thực tế trong nhiều năm qua ở các DNNN đã được CPH, có không ít tiền của, giá trị tài sản của Nhà nước, bằng nhiều cách, đã được chuyển hoá không đúng quy định, không đúng giá trị thực, thành tài sản của doanh nghiệp tư nhân, cho các cá nhân…

Khối tiền của ấy sẽ một đi không trở lại nếu như các cơ quan kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ,… không có những đợt kiểm tra, kiểm toán để thu hồi. Những con số: 3.744 tỉ đồng, gần 150.000 USD, trên 1.380.000m2 đất, hơn 13.449.000 cổ phần…, phần lớn phải thu hồi, mà Thanh tra Chính phủ mới công bố sau cuộc tổng thanh tra chuyên đề về CPH khối DNNN trong năm 2009 (chưa nói đến các cuộc kiểm toán của ngành kiểm toán, các cuộc điều tra của ngành công an) là những khoản sai phạm chứng minh không gì rõ hơn cho quá trình biến tài sản nhà nước thành tài sản riêng nói trên.

DNNN thường không được đánh giá cao về hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Nhưng đến khi từng doanh nghiệp “công” được định giá để tiến hành CPH, nhà đầu tư sẽ phải nhìn các doanh nghiệp ấy một cách thèm thuồng. Bởi, đơn giản, nhiều DNNN thường sở hữu những khối tài sản giá trị khổng lồ: khoáng sản, đất đai, địa lợi… Và thất thoát nhiều nhất trong quá trình CPH chính là ở khâu định giá tài sản khối tài sản ấy.

Theo đánh giá chung của Thanh tra Chính phủ, khi xác định giá trị tài sản là hiện vật, các công ty tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp thường không thực hiện theo đúng nguyên tắc “giá thị trường”. Nhiều nơi viện lý do: thị trường không có tài sản tương đương nhưng thường, các đơn vị đó lại không thực hiện đầy đủ quá trình định giá. Người ta thường dùng số liệu kế toán cũ, lạc hậu làm căn cứ nên giá trị tài sản của doanh nghiệp đưa vào CPH thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế. Có tình trạng chung là các hội đồng xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cố ý hiểu khác đi quy định về cách xác định chất lượng tài sản trong thông tư hướng dẫn (của bộ Tài chính) để hạ thấp chất lượng nhiều tài sản xuống 20% kể cả nhà cửa, phương tiện giao thông, v.v. đang sử dụng. Thậm chí có nơi, như ở Cần Thơ, trung tâm Dịch vụ và thẩm định giá tài sản của nhà nước còn sử dụng cả cán bộ chưa hề qua đào tạo, không có chuyên môn thẩm định tham gia vào việc xác định giá trị doanh nghiệp.

Continue reading

SỬA NHỮNG BẤT CẬP TRONG XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG

LS. HÀ XUÂN BỘ

Những quy định về hình thức kỷ luật lao động và người bào chữa trong Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã tạo hành lang pháp lý, góp phần tích cực vào việc đảm bảo trật tự sản xuất kinh doanh, kỷ luật lao động trong DN và quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động (NLĐ).

Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn phát sinh một số bất cập, vướng mắc chưa được xem xét, sửa đổi tại dự thảo BLLĐ (sửa đổi) lần này.

Bất cập trong áp dụng hình thức kỷ luật sa thải

Trong các hình thức kỷ luật lao động được quy định trong BLLĐ, đáng chú ý là sa thải, bởi đây là hình thức kỷ luật nặng nhất. Nếu bị xử lý theo hình thức này, NLĐ sẽ mất việc làm, mất thu nhập, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bản thân và gia đình. Vì vậy, cần có quy định thật cụ thể, chi tiết và chặt chẽ.

Tại Điều 85 BLLĐ đã quy định một số trường hợp cụ thể được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải, gồm: NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh; NLĐ bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm; NLĐ tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm..

Chính quy định cụ thể này đã tạo thuận lợi cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong việc áp dụng và NLĐ khi bị kỷ luật sa thải cũng thấy thoả mãn, tránh được những tranh chấp dẫn đến khiếu nại, khởi kiện không đáng có.

Tuy nhiên, Điều 85 BLLĐ cũng quy định "có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của DN". Vậy hành vi khác theo quy định này là hành vi nào? Mức thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng? Đây là vấn đề còn có những ý kiến, những quan điểm khác nhau.

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP: KHÔNG CẦN LUẬT RIÊNG?

NGUYỄN QUANG

Mới đây, một nhóm nghiên cứu gồm các luật sư đến từ 3 văn phòng luật sư uy tín trong và ngoài nước đã trình bày bản báo cáo, theo đó cho rằng, không cần thiết phải xây dựng một văn bản pháp lý riêng cho hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Nhiều quy định, ít tác dụng

Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh… đã có một số quy định liên quan đến hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức, chứ chưa “chạm” tới nội dung của hoạt động M&A.

Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Phạm Mạnh Dũng cho biết, hiện nay, tại Việt Nam khái niệm M&A vẫn chưa được dịch và hiểu cho thống nhất. Ông Dũng nêu: Luật Đầu tư chỉ đưa ra các khái niệm “sáp nhập” và “mua lại công ty” mà không đưa ra nội hàm của các khái niệm này (Điều 25); còn Luật Doanh nghiệp sử dụng khái niệm “sáp nhập” (Điều 153), mà không sử dụng thuật ngữ “mua lại công ty”, tuy nhiên lại có thêm thuật ngữ “hợp nhất doanh nghiệp” (Điều 152).

Phía doanh nghiệp kêu bị thiệt do khung pháp lý cho M&A rời rạc, chưa có luật cụ thể. Một lãnh đạo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt cho rằng, hiện tại cơ quan quản lý Việt Nam mới chỉ “chấp nhận” khái niệm thâu tóm. Trong khi theo thông lệ quốc tế, có hai hình thức: sáp nhập (hai công ty gộp chung tài sản, quyền nghĩa vụ, chấm dứt sự tồn tại của mình và trở thành một công ty mới) và thâu tóm (một công ty mua lại toàn bộ hoặc phần lớn công ty kia, các công ty bị thâu tóm sẽ chấm dứt sự tồn tại). Ông Đặng Thế Đức, Luật sư điều hành Công ty Luật Indochina Cousel cho biết, khi muốn xúc tiến một thương vụ M&A, các doanh nghiệp luôn lúng túng với những vấn đề như các hình thức giao dịch, thẩm định và điều tra, đàm phán và soạn thảo hợp đồng…

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: LY HÔN VÌ CHỒNG KHÔNG ĐI MỸ

SONG NGUYỄN

Cấp giám đốc thẩm chỉ hủy phần phân chia tài sản chung nhưng tòa sơ thẩm lần hai giải quyết lại cả yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, được không?

Ngày 7-1- 2010 vừa qua đã là lần thứ 12 TAND TP.HCM quyết định hoãn xử vụ ly hôn giữa bà T. (Việt kiều Mỹ) với ông B. Vụ án ban đầu đã được tòa giải quyết khá nhanh vì hai bên đương sự thỏa thuận được với nhau nhưng rồi một bên đổi ý khiến quá trình tòa xử lại phát sinh nhiều rắc rối.

Thỏa thuận ban đầu

Theo hồ sơ, năm 1989, sau khi lấy ông B., bà T. sang Mỹ sống, mỗi năm chỉ về nước với chồng vài tháng. Năm 2000, bà sinh được một bé gái, có ý đưa chồng sang Mỹ định cư luôn nhưng ông B. không chịu, nói “phải 60 tuổi mới đi”. Thấy tình cảm sứt mẻ vì mỗi người một phương, tháng 11-2005, bà T. đâm đơn xin ly hôn, chia tài sản chung…

Theo bà T., vợ chồng bà có một căn nhà, một căn hộ chung cư, một xe hơi, một xe máy, ba chiếc tivi, tổng giá trị hơn 5,4 tỉ đồng. Bà yêu cầu được chia đôi mỗi người khoảng 2,2 tỉ đồng. Ngược lại, ông B. nói căn nhà là ông tự bỏ tiền ra mua và đứng tên, còn xe hơi đã bán nên yêu cầu tòa cho vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Tháng 3-2006, TAND TP.HCM đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên. Theo đó, bà T. được nuôi con, ông B. có trách nhiệm cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng đến khi con trưởng thành. Về tài sản chung, ông B. được quản lý, sử dụng hết nhưng phải trả cho bà T. 1,6 tỉ đồng…

Hủy phần chia tài sản chung

Sau đó, bà T. đã khiếu nại xin xem xét giám đốc thẩm vì cho rằng giá trị tài sản mà tòa sơ thẩm công nhận là quá thấp so với thực tế. Bà nói mình không sống tại Việt Nam nhiều nên không biết rõ giá trị thật của hai căn nhà. Cạnh đó, do ông B. dây dưa việc trả tiền và cấp dưỡng nuôi con nên bà yêu cầu tòa tăng mức cấp dưỡng nuôi con là 2.000 USD/tháng tính đến năm cháu bé 18 tuổi và trả một lần.

Continue reading