MỨC LÃI SUẤT PHẢI TRẢ DO NỢ QUÁ HẠN CHƯA HỢP LÝ

PHẠM THÁI

Pháp luật dân sự quy định, bên có nghĩa vụ trả tiền mà chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Biện pháp này một mặt bảo đảm giá trị cũng như khả năng sinh lợi của đồng tiền cho bên có quyền; mặt khác, cũng là một hình thức phạt để hạn chế bên có nghĩa vụ cố tình dây dưa, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn bất cập nên không phát huy tác dụng.

Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự, phải tuân thủ nguyên tắc: thiện chí, trung thực, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Do đó, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền. Để bảo đảm thực hiện trách nhiệm dân sự, tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Để cụ thể hoá quy định này, ngày 19.6.1997 Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản (Thông tư 01). Theo hướng dẫn của Thông tư 01, đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì ngoài việc bên có nghĩa vụ phải chịu tiền lãi quá hạn từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ, đến khi xét xử sơ thẩm còn phải chịu lãi cả từ thời điểm bên có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải trả. Trước đây, theo cơ chế điều hành lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), ngoài việc quy định lãi suất tái cấp vốn, mức trần lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước còn quy định cả lãi suất nợ quá hạn. Căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định, khi xét xử và thi hành án, các Toà án và Cơ quan Thi hành án Dân sự buộc bên có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn cho bên có quyền.

Continue reading

TRẢ LƯƠNG GIÁO SƯ NHƯ THẾ NÀO?

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Bây giờ mà đặt vấn đề làm thế nào để giáo sư đại học đủ sống, thì có vẻ hơi kỳ cục. Phải thừa nhận rằng dù chưa sánh được với đồng nghiệp ở các nước giàu có như Mỹ, Nhật hay châu Âu, cuộc sống hiện nay của giáo sư đại học trong trường hợp điển hình ở Việt Nam không đến nỗi nào, nếu không muốn nói là khấm khá, so với bản thân nhiều năm trước cũng như so với các tầng lớp khác trong xã hội. Lương cơ bản đúng là chưa cao, nhưng giáo sư đại học có vô vàn những thứ thu nhập ngoài lương cho phép giải quyết các vấn đề của cuộc sống vật chất, đồng thời có dư để tích luỹ.

Hẳn có nhiều ý kiến đề nghị nâng lương (cơ bản) cho giáo sư đại học, một phần lớn lý do, vì e ngại về tính hợp pháp, ổn định, bền vững, của các nguồn thu nhập ngoài lương ấy. Nói cách khác, người ta mong muốn thấy giáo sư sống được một cách đàng hoàng bằng các công việc gắn với thiên chức xã hội, nghề nghiệp của nhà giáo đồng thời là nhà khoa học, tức là những công việc phù hợp với chuyên môn và được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ giảng đường, phòng thí nghiệm,…

Thực ra, chuyện giáo sư đại học làm việc cho các nơi khác ngoài trường đại học của mình ở đâu cũng có. Ở các nước có hệ thống quản lý thu nhập cá nhân tốt, thì chỉ cần trích nộp thuế theo đúng các quy định của luật thuế, các khoản thu nhập ngoài lương của giáo sư trở nên chính đáng và người có thu nhập hoàn toàn yên tâm. Ở Việt Nam, việc kiểm soát thu nhập còn chưa chặt chẽ, nhưng đang ngày một tốt hơn. Đến một lúc nào đó, tất cả các khoản thu nhập của công dân Việt Nam, trên nguyên tắc, đều phải chịu thuế; giáo sư đại học cũng chịu sự chi phối của nguyên tắc đó.

Điểm khác biệt giữa giáo sư nước ngoài và giáo sư Việt Nam về phương diện thu nhập, suy cho cùng, liên quan đến cách thức hay phương thức tạo ra các loại thu nhập. Ở các nước phát triển, dù công việc có thu nhập được thực hiện ở trường hay ở bên ngoài, giáo sư sử dụng năng lực chuyên môn của mình là chính. Chẳng hạn, ngoài việc giảng dạy và nghiên cứu, giáo sư luật còn có thể làm luật sư; giáo sư kinh tế có thể tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô hoặc vi mô; giáo sư tin học có thể tham gia thiết kế phần mềm cho các công ty;… Giáo sư Việt Nam, trong không ít trường hợp, phải chấp nhận (hoặc tìm cách) làm những việc ngoài chuyên môn để cải thiện nguồn thu nhập. Nói khác đi, giáo sư ở các xã hội phát triển có thể kiếm tiền bằng con đường thẳng, chính thống; còn giáo sư ở Việt Nam muốn có nhiều tiền, thì phải đi theo những ngóc ngách, ngã rẽ…

Continue reading

NGƯỜI BAO NHIÊU TUỔI LÀ TRẺ EM?

NGUYỄN HUỲNH HUYỆN

Trong hệ thống pháp luật hiện hành có nhiều quy định về tuổi trẻ em. Tuy nhiên, có một số quy định không thống nhất, thậm chí cùng một tuổi nhưng ở văn bản này gọi là trẻ em, ở luật khác đã thành… người lớn, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Theo điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Các luật và văn bản hướng dẫn khác phải quy định thống nhất với Luật này để thực thi thuận lợi. Tuy nhiên, thực tế nhiều quy định về trẻ em vênh nhau, gây khó khăn trong việc vận dụng. Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17.3.2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Thông tư số 15/2008/TTLT-BTC-BYT ngày 5.2.2008 Liên bộ Tài chính- Y tế hướng dẫn thực hiện khám bệånh, chữa bệnh, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khám bệånh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập quy định: trẻ em dưới sáu tuổi khi khám bệånh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập phải xuất trình thẻ khám bệnh, chữa bệnh; trường hợp chưa được cấp thẻ thì phải xuất trình giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh hay giấy chứng nhận của UBND cấp xã nơi người giám hộ trẻ em cư trú (sau đây gọi chung là thẻ khám bệnh, chữa bệnh)… Tại điều 39, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải người  (HIV/AIDS) quy định, trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi nhiễm HIV mới được tiếp cận thuốc kháng HIV. Quy định này về trẻ em phù hợp với Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhưng so với các quy định khác thì chưa khớp. Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2005  không dùng thuật ngữ trẻ em mà dùng thuật ngữ người chưa thành niên. Theo đó, Điều 18, Bộ luật Dân sự quy định, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Đồng thời, Bộ luật còn quy định năng lực, hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi  khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo quy định của pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Như vậy, thuật ngữ người chưa thành niên và thuật ngữ trẻ em có điều chỉnh  những người chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự không?

Continue reading