VẤN ĐỀ BẢO LƯU TRẬT TỰ CÔNG trong tư pháp

THS. BÙI THỊ THU – Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà nội

Tổng quan

Trước yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia luôn có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa cũng như pháp luật các nước nhằm hòa nhập vào môi trường pháp lý quốc tế để tìm kiếm và cân bằng các lợi ích và các giá trị xã hội. Với ý nghĩa đó, tư­ pháp quốc tế cũng là một ngành luật quốc gia[1], có mục đích liên thông kết nối các quan hệ pháp lý tư trên phạm vi quốc tế.

Tuy nhiên, với mục đích điều chỉnh các quan hệ luật tư có tính chất quốc tế (quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), việc áp dụng các quy phạm của tư pháp quốc tế đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là việc phải áp dụng các quy phạm xung đột (QPXĐ) theo yêu cầu thực tiễn. Do tính chất phức tạp của các quy phạm này, đặc biệt là trong trường hợp phải áp dụng pháp luật nư­ớc ngoài theo sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột làm sao khi áp dụng phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các lợi ích quốc tế. Đặc biệt trong trường hợp pháp luật nước ngoài có nội dung trái víi các qui của pháp luật, xâm phạm những lợi ích, đường lối mà nước có tòa án giải quyết đang bảo vệ, nói cách khác pháp luật nước ngoài trái trật tự công của quốc gia có tòa án giải quyết vụ việc.

Vấn đề này trong lĩnh vực t­ư pháp quốc tế được gọi là “bảo l­ưu trật tự công” – một trường hợp ngoại lệ khi tòa án áp dụng các quy phạm xung đột trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Vậy thế nào là “Trật tự công”và “ Bảo l­ưu trật tự công trong tư­ pháp quốc tế”? Sự cần thiết cũng nh­ư nguyên nhân của việc bảo l­ưu trật tự công trong hệ thống pháp luật quốc gia là gì? Việc giải thích và áp dụng vấn đề bảo l­ưu trật tự công trong t­ư pháp quốc tế đư­ợc thực hiện nh­ư thế nào? Bài viết sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề pháp lý căn bản về khái niệm, ý nghĩa, sự cần thiết phải bảo l­uu trật tự công (I) phạm vi, thực tiễn áp dụng, hệ quả của việc bảo l­ưu trật tự công trong tr­ường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài (II), và trong trường hợp công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án n­ước ngoài, cũng như của trọng tài nước ngoài của tòa án việt Nam, đồng thời trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn các n­ước, bài viết sẽ đưa ra một số đóng góp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này (III).

Continue reading

VẤN ĐỀ BẢO LƯU TRẬT TỰ CÔNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

THS. BÙI THỊ THU – Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà nội

Tổng quan

Trước yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia luôn có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa cũng như pháp luật các nước nhằm hòa nhập vào môi trường pháp lý quốc tế để tìm kiếm và cân bằng các lợi ích và các giá trị xã hội. Với ý nghĩa đó, tư­ pháp quốc tế cũng là một ngành luật quốc gia[1], có mục đích liên thông kết nối các quan hệ pháp lý tư trên phạm vi quốc tế.

Tuy nhiên, với mục đích điều chỉnh các quan hệ luật tư có tính chất quốc tế (quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), việc áp dụng các quy phạm của tư pháp quốc tế đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là việc phải áp dụng các quy phạm xung đột (QPXĐ) theo yêu cầu thực tiễn. Do tính chất phức tạp của các quy phạm này, đặc biệt là trong trường hợp phải áp dụng pháp luật nư­ớc ngoài theo sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột làm sao khi áp dụng phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các lợi ích quốc tế. Đặc biệt trong trường hợp pháp luật nước ngoài có nội dung trái víi các qui của pháp luật, xâm phạm những lợi ích, đường lối mà nước có tòa án giải quyết đang bảo vệ, nói cách khác pháp luật nước ngoài trái trật tự công của quốc gia có tòa án giải quyết vụ việc.

Vấn đề này trong lĩnh vực t­ư pháp quốc tế được gọi là “bảo l­ưu trật tự công” – một trường hợp ngoại lệ khi tòa án áp dụng các quy phạm xung đột trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Vậy thế nào là “Trật tự công”và “ Bảo l­ưu trật tự công trong tư­ pháp quốc tế”? Sự cần thiết cũng nh­ư nguyên nhân của việc bảo l­ưu trật tự công trong hệ thống pháp luật quốc gia là gì? Việc giải thích và áp dụng vấn đề bảo l­ưu trật tự công trong t­ư pháp quốc tế đư­ợc thực hiện nh­ư thế nào? Bài viết sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề pháp lý căn bản về khái niệm, ý nghĩa, sự cần thiết phải bảo l­uu trật tự công (I) phạm vi, thực tiễn áp dụng, hệ quả của việc bảo l­ưu trật tự công trong tr­ường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài (II), và trong trường hợp công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án n­ước ngoài, cũng như của trọng tài nước ngoài của tòa án việt Nam, đồng thời trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn các n­ước, bài viết sẽ đưa ra một số đóng góp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này (III).

Continue reading

BỎ HAY KHÔNG BỎ LÃI SUẤT CƠ BẢN?

DƯƠNG THU HƯƠNG – Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Trong quá trình thảo luận dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi), có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản. Vấn đề được nhiều người quan tâm nhất hiện nay là bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng nhà nước? Theo dõi các phiên thảo luận của QH, tôi rất chú ý đến ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu “… lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa Ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”.

Ngẫm nghĩ ý kiến này, tôi thấy rất tâm đắc và vì vậy, với tư cách là người đã “ở trong cuộc” được tham gia từ đầu việc xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước từ năm 1995, được QH thông qua năm 1997, tôi xin nêu một vài suy nghĩ của mình về vấn đề lãi suất cơ bản và “bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2009.

Lãi suất cơ bản là gì?

Nhiều người đặt câu hỏi: Lãi suất cơ bản là gì? Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 cho ra một định nghĩa “… là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Với định nghĩa này, có hai vấn đề còn mập mờ và phiến diện.
Mập mờ vì “là lãi suất do Ngân hàng nhà nước công bố”. Vậy Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Vì lãi suất cơ bản không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ; không phản ánh được vai trò phát đi tín hiệu của chính sách tiền tệ, chưa kể đến việc hình thành nên nó còn thiếu cơ sở kinh tế. Tại sao là 6%? Tại sao là 8%? Có lúc Ngân hàng Nhà nước đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản là 7% thì có nhiều chuyên gia đề nghị xuống 5%… Con số này được dựa trên cơ sở nào?

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN HIỆN NAY

TS. CHU TIẾN QUANG – Trưởng Ban Chính sách và Phát triển nông thôn Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển đổi mới mạnh mẽ lên sản xuất hàng hóa, hướng tới xuất khẩu và đã thu được những thành công lớn, thể hiện ở sự tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và sự đa dạng hóa kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề của sản xuất nông nghiệp(1), nông dân(2) và nông thôn cần phải tiếp tục giải quyết.

1 – Về sản xuất nông, lâm, thủy sản

Thứ nhất, vẫn chưa thống nhất trong việc xác định vị trí, vai trò của ngành nông, lâm thủy sản trong tổng thể nền kinh tế hiện nay. Do đó dẫn đến nhiều bất cập trong hoạch định và thực thi các chính sách phát triển nông, lâm, thủy sản thời gian vừa qua.

Thứ hai, quy hoạch phân bổ tài nguyên (đất đai, nguồn nước…) phục vụ phát triển nông nghiệp chưa hợp lý, chưa hướng tới việc cải thiện năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Điều này thể hiện ở sự mâu thuẫn, bất cập về quản lý nhà nước trong phân bổ, quản lý việc sử dụng đất vào phát triển các ngành sản phẩm nông, lâm, thủy sản theo điều kiện tự nhiên, sinh thái và nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng quy hoạch sản xuất nông, lâm, thủy sản bị phá vỡ triền miên nhưng không được xử lý kịp thời và triệt để, tạo ra sự hỗn loạn trong sản xuất, hao phí vốn đầu tư của người nông dân, gây ra khó khăn cho đời sống của họ.

Thứ ba, đầu tư xã hội và đầu tư của Nhà nước vào nông, lâm, thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hiện đại. Cụ thể, tỷ trọng vốn đầu tư xã hội vào nông, lâm, thủy sản mấy năm gần đây đã giảm nhanh về tỷ trọng so với tổng đầu tư. Đây chính là nguyên nhân rất cơ bản làm cho tình trạng kết cấu hạ tầng của sản xuất nông, lâm, thủy sản rất lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm, thủy sản hiện nay.

Continue reading

SỐNG ĐỂ ĐƯỢC . . . GHÉT?

LS. ADRIAN TAN – Singapore (TRẦN LÊ ANH MINH dịch và giới thiệu)

Đừng đặt cuộc sống trong giới hạn của những người trung bình

Thật là một vinh dự lớn lao khi được dành mười phút phát biểu tại đây mà chẳng lo bị phản bác, mỉa mai hay trả thù. Tôi nói điều này với tư cách một người Singapore và hơn hết là với tư cách một người chồng.

Vợ tôi là một người tuyệt vời, hoàn hảo ở mọi khía cạnh duy chỉ ngoại lệ một điều. Cô ấy là biên tập viên của một tờ tạp chí. Cô ấy kiếm sống nhờ "sửa lưng" người khác. Cô ấy đã mài dũa kỹ năng chuyên môn của mình hơn một phần tư thế kỷ, chủ yếu nhờ luyện tập tại nhà qua những cuộc trao đổi giữa hai vợ chồng.

Nói dễ hiểu hơn, tôi là một luật sư tranh tụng. Tôi dành thời gian mỗi ngày để chỉ ra sai lầm của người khác. Tôi kiếm sống bằng việc phản bác.

Dẫu vậy đời sống hôn nhân của chúng tôi vẫn cực kỳ hạnh phúc. Đơn giản vì mỗi khi có cuộc tranh cãi giữa một biên tập viên và một luật sư, kẻ chiến thắng không ai khác ngoài vợ.

Và chính thế nên tôi muốn bắt đầu bài này bằng một lời khuyên nhỏ cho cánh mày râu: một khi đã chinh phục được trái tim nàng, bạn chẳng nhất thiết phải chinh phục nốt mấy cuộc tranh luận.

Hôn nhân được coi là một dấu mốc của cuộc đời. Một số trong các bạn đã kết hôn. Một số chưa từng kết hôn. Một số sẽ kết hôn. Một số rất thích tận hưởng trải nghiệm này và sẽ kết hôn nhiều, nhiều lần nữa. Cũng tốt thôi.

Dấu mốc lớn tiếp theo trong cuộc đời các bạn là ngày hôm nay: lễ tốt nghiệp. Kết thúc quá trình giáo dục. Hoàn tất việc học.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2010/TT-BCT NGÀY 22 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG TRÌNH LƯỚI ĐIỆN CAO ÁP

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp (Nghị định số 106/2005/NĐ-CP); Nghị định số 81/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP (Nghị định số 81/2009/NĐ-CP);
Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực, Nghị định số 106/2005/NĐ-CP, Nghị định số 81/2009/NĐ-CP như sau
:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết khoản 2 Điều 51 Luật Điện lực, khoản 3 Điều 3 và khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP; khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 81/2009/NĐ-CP.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các đơn vị điện lực, các hộ dân sống trong và liền kề hành lang an toàn lưới điện và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Đặt biển cấm, biển báo

Ngoài việc thực hiện các quy định chung của pháp luật về biển cấm, biển báo, việc đặt biển cấm và biển báo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2010/TT-BCT NGÀY 22 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG TRÌNH LƯỚI ĐIỆN CAO ÁP

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp (Nghị định số 106/2005/NĐ-CP); Nghị định số 81/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP (Nghị định số 81/2009/NĐ-CP);
Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực, Nghị định số 106/2005/NĐ-CP, Nghị định số 81/2009/NĐ-CP như sau
:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết khoản 2 Điều 51 Luật Điện lực, khoản 3 Điều 3 và khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP; khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 81/2009/NĐ-CP.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các đơn vị điện lực, các hộ dân sống trong và liền kề hành lang an toàn lưới điện và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Đặt biển cấm, biển báo

Ngoài việc thực hiện các quy định chung của pháp luật về biển cấm, biển báo, việc đặt biển cấm và biển báo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Continue reading