BÀI DIỄN VĂN HAY DÀNH CHO SINH VIÊN VÀ NHỮNG NGƯỜI HÀNH NGHỀ LUẬT

Diễn văn của luật sư George Graham Vest tại một phiên tòa xét xử vụ kiện một người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire của báo The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 1.000 năm qua. 

Thưa quý ngài hội thẩm,

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù quay ra chống lại chúng ta. Con cái mà ta nuôi dưõng với tình thương yêu hết mực rồi ra có thể là một lũ vô ơn.

Những người gần gũi, thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và trung thành.

Tiền bạc mà con người có được rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lở vận.

Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù gió ông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được! Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta, như thái dương trên bầu trời.

Continue reading

TIỆM CẬN CÁC QUI PHẠM LUẬT QUỐC TẾ

LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các quy phạm Luật Quốc tế không giống nhau cả về nội dung và hình thức, bao gồm: các quy phạm thành văn và các quy phạm bất thành văn. Quy phạm thành văn như quy phạm điều ước và các văn kiện của tổ chức quốc tế và của hội nghị quốc tế. Các quy phạm đó điều chỉnh các quan hệ quốc tế khu vực, liên khu vực và toàn cầu trên cơ sở quyền và trách nhiệm của quốc gia này đồng thời cũng là quyền và trách nhiệm của quốc gia tương ứng (trừ các điều khoản bảo lưu [1].

Quy phạm bất thành văn được tồn tại dưới dạng tập quán quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận là quy phạm bắt buộc và chúng có thể được ghi nhận trong các phán quyết của tòa án, cơ quan trọng tài, nghị quyết của tổ chức quốc tế, thậm chí có cả trong các văn bản đơn phương của các quốc gia. Quy phạm tập quán có thể trở thành quy phạm điều ước thông qua việc luật hóa và khi đó cùng một quy phạm đối với một số quốc gia này là quy phạm điều ước, còn đối với nhóm quốc gia khác là quy phạm tập quán(1) Cùng với sự phát triển tiến bộ của Luật Quốc tế, quy phạm điều ước ngày càng thể hiện vai trò quan trọng và chủ yếu trong việc điều chỉnh phần lớn các quan hệ quốc tế hiện đại, nhưng điều đó không có nghĩa là quy phạm điều ước có thể thay thế hoàn toàn các quy phạm tập quán [2]. Vấn đề này đã được các nhà khoa học Luật Quốc tế trên thế giới nghiên cứu trong các công trình khoa học của mình và phần lớn trong số họ đều cho rằng quy phạm tập quán là nguồn cơ bản của Luật Quốc tế [3].

Trong hệ thống Luật Quốc tế có các ngành luật, các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ quốc tế khác nhau. Chẳng hạn như, các quy phạm của Luật vũ trụ thì quy định quy chế pháp lý của khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác; Công ước về Luật điều ước quốc tế thì quy định về quy trình ký kết và thực thi điều ước; Luật an ninh quốc tế lại bao hàm các biện pháp đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế; Công ước về Luật Biển thì điều chỉnh Luật Biển quốc tế; Công ước về luật lệ và tập quán chiến tranh điều chỉnh về Luật nhân đạo quốc tế, v.v…

Continue reading

TRIẾT HỌC PHÁP LUẬT TRONG HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC PHÁP LÝ

HOÀNG THỊ KIM QUẾ – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặt vấn đề

Trong hệ thống các khoa học pháp lý, triết học pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng trên cấp độ chung và cấp độ chuyên ngành. Nói một cách đơn giản nhất, triết học pháp luật chính là cách tiếp cận triết học các vấn đề pháp luật và các vấn đề nhà nước trong mối quan hệ với pháp luật. Ở nước ta, trong những năm gần đây đã bắt đầu có sự quan tâm nghiên cứu, bàn luận về triết học pháp luật. Tuy vậy, so với tầm vóc và ý nghĩa của bộ môn khoa học pháp lý này cũng như sự phát triển của nó trên thế giới, việc nghiên cứu ở nước ta về triết học pháp luật vẫn còn rất khiêm tốn, cả trong lý luận hàn lâm và lý luận giảng đường.

1. Ba con đường – ba cách thức – ba hướng cơ bản về tiếp cận pháp luật

Trong khoa học từ xa xưa đã hình thành nên ba con đường hay ba cách thức cơ bản về tiếp cận pháp luật, nhà nước: lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật. Đó cũng chính là ba hướng tiếp cận pháp luật cần được quan tâm triển khai ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Có làm được điều này thì chúng ta mới có thể khắc phục nhanh chóng được sự lạc hậu và chủ động tham gia hội nhập, trong đó có hội nhập về tư tưởng, về khoa học và đào tạo luật học. Cũng cần phải nhấn mạnh thêm, ngoài ra còn một số cách tiếp cận khác về nhà nước, pháp luật như: tâm lý học pháp luật, kinh tế học pháp luật, nhân chủng học pháp luật v.v… Nhưng với tư cách là những cách thức, hướng tiếp cận có tính liên ngành, chung và cơ bản nhất vẫn là: triết học pháp luật, lý luận pháp luật và xã hội học pháp luật.

Ba cách thức – ba hướng tiếp cận các vấn đề pháp lý không phải hoàn toàn tách biệt nhau mà luôn có sự tích hợp trong việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Về phương diện này những năm gần đây ở nước ta bước đầu đã được triển khai nghiên cứu tuy chưa thường xuyên và sâu sắc. Ví như vấn đề triết lý của luật thương mại, triết lý của quan hệ lao động, triết lý lập pháp, mối quan hệ giữa xã hội và pháp luật; mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán, luật tục, hương ước, tôn giáo, đạo đức v.v… Không chỉ trong các ấn phẩm khoa học mà cả trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo luật, đặc biệt là tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, trong nhiều môn học đã có sự tích hợp ba cách tiếp cận pháp luật này – lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI

N..T.K.O

Hoạt động đảm bảo tiền gửi được triển khai đầu tiên ở New York, Mỹ năm 1829 với danh hiệu “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, hàm ý bảo hiểm trách nhiệm đối với tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi.

Từ năm 1831 đến năm 1858, năm bang tiếp theo ở Mỹ đã thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Mặc dầu hầu hết các tổ chức BHTG có lúc hoạt động thành đạt, một số chính sách về ngân hàng có liên quan được ban hành trong những năm sau đó (1886) đã góp phần làm cho các tổ chức này đóng cửa. Thời kỳ thử nghiệm tiếp theo của hoạt động BHTG cũng diễn ra ở Mỹ vào những năm 1908-1930. Từ 1908 đến 1917 ở Mỹ đã có tám bang thành lập hệ thống BHTG. Tính đến 1930 cả tám hệ thống này đã đóng cửa do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế bất lợi làm cho nhiều ngân hàng ở tám bang này đóng cửa và dẫn đến các tổ chức BHTG ở đó bị mất khả năng thanh toán.

Hoạt động ngân hàng ở Mỹ đầu những năm 30 tiếp tục gặp khó khăn. Trong giai đoạn 1930 – 1933 mỗi năm có hơn 1.000 ngân hàng ngừng hoạt động, đỉnh cao là năm 1933 có 4.000 ngân hàng thương mại phải ngừng hoạt động. Trước tình hình đó, ngày 1/1/1934 Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã được thành lập, đây là mô hình được xem là hình mẫu đầu tiên về BHTG (FDIC, 1998).

Tiếp theo FDIC, trong những năm 1960, trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức BHTG, những năm 1970 có thêm bốn quốc gia. Hầu hết các quốc gia triển khai hoạt động BHTG công khai vào những năm cuối 1990 (xem hình). Đến nay, trên thế giới có 98 quốc gia có tổ chức hoạt động BHTG công khai. Đặc biệt, ngày 6/5/2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ. Đến nay IADI đã có 52 tổ chức BHTG các nước là thành viên, 6 hiệp hội, 5 quan sát viên và 12 đối tác (số liệu tính đến năm 2008, IADI). Điều đó đánh dấu sự quan tâm chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn một động lực mới thúc đẩy phát triển hoạt động này trên toàn thế giới.

Continue reading

HỘ KHẨU VÀ QUYỀN LAO ĐỘNG

NGUYỄN QUANG A

Năm 2006 khi thảo luận về Luật Cư trú, nhiều người trong đó có người viết những dòng này, đã đề nghị bãi bỏ chế độ hộ khẩu vì nó ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động, gây ra sự phân biệt đối xử, vi phạm Hiến pháp, vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã long trọng ký kết, nhưng các quy định hạn chế quyền cư trú phổ quát mà cụ thể là chế độ hộ khẩu vẫn được thông qua.

Theo đó, để được đăng ký thường trú ở thành phố công dân phải chứng minh mình có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

Ngay cả quy định trên của Luật Cư trú cũng nên được xem xét lại theo hướng huỷ bỏ, thế mà Dự thảo Luật Thủ đô dự kiến sẽ được trình Quốc hội trong năm nay lại đi ngược lại hướng đó, thậm chí còn quy định khắt khe hơn: thay cho "1 năm trở lên" dự thảo lại quy định thời gian tạm trú là "5 năm trở lên". Dự thảo đã dấy lên nhiều ý kiến phản đối.

Đây là điều không thể chấp nhận được, không chỉ vì nó vi phạm các quyền cơ bản của con người, vi phạm Hiến pháp, vi phạm bản thân Luật Cư trú (hay những người soạn thảo hiểu "từ 1 năm trở lên" có thể là 5, 10 hay 50 năm trở lên cũng hợp luật?)  mà cũng bởi vì nó không phục vụ cho sự phát triển của chính Thủ đô, nó cản trở sự linh động của thị trường lao động, cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và đất nước.

Tuy nhiên, nó tạo quyền cho những người quản lý. Đừng thấy khó quản lý thì tìm cách cấm. Đó là cách hành xử của những người không có năng lực, hay của những người bị lợi ích nhóm chi phối.

Người ta thường hay vin cớ "an ninh" để giữ chế độ hộ khẩu, chế độ khai báo. Việc đó cũng chẳng khác gì việc: vì một số người mắc bệnh hiểm nghèo mà bắt toàn dân phải uống thuốc đặc trị, vừa tốn phí nguồn lực quốc gia, vừa gây phiền hà cho người dân và thậm chí gây nguy hiểm cho họ. Có các cách quản lý khác hữu hiệu hơn nhiều.

Continue reading

XUNG QUANH VỤ THUỐC TÂN DƯỢC TRỊ GIÁ HÀNG TỶ ĐỒNG CỦA VINACERO HẾT HẠN SỬ DỤNG

1. QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

1.1. Vì sao Bộ Y tế lại im lặng?

Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) là doanh nghiệp hoạt động vì sự nghiệp nhân đạo. Đầu năm 2008, cùng một lúc, từ nhà sản xuất thuốc-Polysan (LB Nga) và các công ty đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương lén lút bắt tay nhau bội tín, làm cho thuốc của Vinareco tồn kho và nguy cơ phải hủy gần chục tỷ đồng tiền thuốc do quá date.

Trong nhiều năm qua, Vinareco là Nhà phân phối chính thức duy nhất 2 loại thuốc Cycloferon và Reamberin (thuốc điều trị gan và điều hoà miễn dịch) tại Việt Nam. Trong nhiều năm, doanh nghiệp này phải bỏ hàng tỷ đồng để làm thị trường. Từ những năm đầu 2004, thuốc chỉ tiêu thụ vài trăm ngàn USD, đến năm 2008, thuốc đã có thương hiệu tiêu thụ trên 1 triệu USD/năm là do Vinareco đã lập hồ sơ và 2 lần đưa vào danh mục của Bộ Y tế. Thế nhưng đầu 2008, từ sự bội tín của 2 doanh nghiệp vốn là đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương đã đẩy doanh nghiệp này phải tồn kho và phải tiêu hủy hàng tỷ đồng tiền thuốc một cách hết sức lãng phí. Điều đáng nói, ngay khi bắt đầu sự việc xảy ra Vinareco và Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều “cầu khẩn” đối với Bộ Y tế nhưng hơn 1 năm nay tất cả đều rơi vào im lặng.

Ngày 24.3.2009, trước khó khăn của đơn vị trực thuộc, Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều công văn gửi Bộ trưởng Bộ Y tế và Bệnh viện Bạch Mai nhờ giúp đỡ tiêu thụ số thuốc để khỏi cận date phải hủy, lúc đó hạn sử dụng còn khá dài, mặc dù trong Công văn có nêu: Nếu được Bệnh viện giúp đỡ thì coi đây là nghĩa cử cao đẹp góp phần vào sự nghiệp nhân đạo… nhưng các đơn vị này hầu như không có trả lời!

Tiếp đến, ngày 24.8.2009, Chủ tịch Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam lại có Công văn gửi Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Nguyễn Quốc Anh nhờ giúp đỡ, trong Công văn có nêu: Người trúng thầu năm 2008-2009 là Công ty TNHH Thống Nhất, chính là người bội tín gây hậu quả cho Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) của Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Lại một lần nữa, từ Bộ Y tế đến Giám đốc Bệnh viện vẫn thờ ơ, vô cảm.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 144/BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XÉT CÔNG NHẬN CHO NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT CÓ TÊN TRONG SỔ MỤC KÊ LẬP TRƯỚC NĂM 1993 DO BỘ XÂY DỰNG BAN HÀNH

Kính gửi:

Văn phòng Chính phủ

Ngày 07/01/2010, Văn phòng Chính phủ có công văn số 124/VPCP-KTN đề nghị Bộ Xây dựng có ý kiến đối với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nêu tại công văn số 4591/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/12/2009) về việc xét công nhận cho những trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê lập trước năm 1993 như có tên trong sổ địa chính để làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Việc Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất xét công nhận những trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê lập từ trước năm 1993 được coi như có tên trong sổ địa chính, tạo cơ sở cho việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp này là phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất cũng như góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng nhận thấy để đảm bảo việc áp dụng thống nhất, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với địa phương tổng hợp về số liệu các trường hợp nêu trên trong phạm vi cả nước để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng về đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với việc xét công nhận người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê trước năm 1993 như người có tên trong sổ địa chính để làm cơ sở cho việc cấp giấy chứng nhận, đề nghị Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 314/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 28 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Trả lời công văn số 67/UBND ngày 06/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Doanh nghiệp có sử dụng lao động là người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp thì phải thực hiện việc tuyển dụng và quản lý người nước ngoài theo đúng quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Thông tư số 08/2008/TT-BLĐTBXH ngày 10/6/2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên.

2. Tiền lương của người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp do hai bên thỏa thuận và được ghi trong hợp đồng lao động.

3. Tiền lương của người nước ngoài không nằm trong đơn giá tiền lương của người lao động Việt Nam.

Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn Công ty Thương mại và Đầu tư Khánh Hòa thực hiện chi trả tiền lương cho người nước ngoài đúng theo quy định của nhà nước./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG

CÔNG VĂN SỐ 307/LĐTBXH-BHXH NGÀY 28 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP KHU VỰC ĐỐI VỚI NGƯỜI HƯỞNG TRỢ CẤP TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP HÀNG THÁNG VỪA HƯỞNG LƯƠNG HƯU

Kính gửi:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trả lời Công văn số 4599/BHXH-CSXH ngày 08/12/2009 của quý cơ quan đề nghị cho ý kiến về việc thực hiện chế độ phụ cấp khu vực đối với trường hợp vừa hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng vừa hưởng lương hưu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Nghị định số 122/2008/NĐ-CP ngày 04/12/2008 của Chính phủ và Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc thực hiện phụ cấp khu vực đối với người hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng thì người lao động nghỉ việc đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần kể từ ngày 01/01/2007 trở đi, mà trước đó đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực, thì ngoài hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần theo quy định còn được hưởng trợ cấp một lần tương ứng với thời gian và số tiền phụ cấp khu vực đã đóng bảo hiểm xã hội. Đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 01/01/2007, cư trú tại nơi có phụ cấp khu vực được hưởng phụ cấp khu vực theo mức hiện hưởng (không điều chỉnh theo mức lương tối thiểu chung) cho đến khi có quy định mới của Chính phủ.

Như vậy, đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 01/01/2007, từ ngày 01/01/2007 tiếp tục được hưởng phụ cấp khu vực theo mức hiện hưởng thì không thuộc đối tượng được giải quyết trợ cấp một lần theo quy định tại Nghị định số 122/2008/NĐ-CP và Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để quý cơ quan biết và chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố thực hiện./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Minh Huân