CHUYỂN GIAO CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH: CẦN QUAN TÂM CÁI KHÓ CỦA NGƯỜI DÂN

XUÂN PHÚC

Mới đây, Bộ Tư pháp có văn bản chỉ đạo các địa phương thực hiện chuyển giao công chứng hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng. Đây là bước đi phù hợp với lộ trình xã hội hóa hoạt động công chứng, theo quy định của Luật Công chứng, nhưng người dân sẽ khó khăn hơn và tình trạng quá tải ở các phòng công chứng trước đây có nguy cơ tái diễn.

Luật công chứng và Nghị định số 79 ngày 15.7.2007 đã phân biệt rõ hai loại hoạt động công chứng và chứng thực. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; Phòng Tư pháp cấp huyện, UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Áp lực chuyển giao

Theo quy định trên thì các loại việc sau: Chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; chứng nhận di chúc, văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản; hợp đồng vay tiền; hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản; hợp đồng mua bán nhà… (gọi chung là hợp đồng, giao dịch) đều phải thực hiện công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Luật Nhà ở, Luật Đất đai và Nghị định 181 (đang có hiệu lực), thì các loại hợp đồng, giao dịch trên người dân có thể chọn lựa việc công chứng tại các phòng công chứng hoặc chứng nhận tại UBND cấp xã. Và, trên thực tế đến nay ở nhiều địa phương, UBND cấp xã vẫn còn chứng nhận hợp đồng, giao dịch chưa chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Continue reading

ĐÔI ĐIỀU VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT THEO NGHĨA RỘNG

PHẠM THỊ DUYÊN THẢO – Khoa Luật, Đai học Quốc gia Hà Nội

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Ở một góc độ khác, hoạt động giải thích pháp luật có thể đưa ra cho văn bản một nghĩa xa hơn ý nghĩa ngôn ngữ của nó, một nghĩa mở rộng hoặc hạn chế hơn nghĩa mà ngôn ngữ của văn bản có thể mang.

1. Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là gì?

Giải thích pháp luật là cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý. Giải thích pháp luật là một cấu thành tất yếu của pháp luật, một bảo đảm đối với pháp luật. Việc tạo lập một cơ chế thích đáng cho giải thích pháp luật là mục tiêu và yêu cầu của mỗi hệ thống pháp luật, mỗi quốc gia.

Giải thích pháp luật trong thực tế được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Ở góc độ phổ biến, thông thường, góc độ hẹp hiện nay, giải thích pháp luật được xem là: “một hoạt động có lý trí đưa ra nghĩa của một văn bản pháp luật”1; là “hoạt động liên quan với việc xác định thông điệp có tính quy phạm mà nó xuất hiện từ văn bản”2; là “hoạt động để tìm ra nghĩa và hiểu rõ mục đích của tác giả văn bản pháp luật”3…(Từ đây, xin gọi giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp, nghĩa thông thường là giải thích pháp luật, để định rõ và phân biệt với giải thích pháp luật theo nghĩa rộng sẽ bàn đến sau).

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Đây là điều kiện cần và đủ đối với một hệ thống giải thích pháp luật hiện tại. Bản thân hoạt động giải thích được giới hạn bằng giới hạn của văn bản, và giới hạn của văn bản phải đặt trong giới hạn của ngôn ngữ. Một hoạt động là giải thích nếu nó đưa ra nghĩa trên văn bản phù hợp với một nghĩa (rõ ràng hoặc ẩn) trong ngôn ngữ (cộng đồng hoặc cá nhân) của văn bản. Giải thích pháp luật có tác dụng trong các giới hạn của ngôn ngữ. Nó truyền đạt cho văn bản một nghĩa mà ngôn ngữ có thể mang. Hoạt động giải thích sẽ kết thúc tại “điểm cuối” của ngôn ngữ4.

Continue reading