CÔNG VĂN SỐ 10/BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ SỬ DỤNG CĂN HỘ CHO THUÊ LÀM VĂN PHÒNG

Kính gửi:

Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương

Trả lời Văn bản số 01-2010/CV-PN ngày 15/01/2010 của Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương về việc sử dụng căn hộ cho thuê làm văn phòng tại số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Ngày 19/11/2009, Bộ Xây dựng có Công văn số 2544/BXD-QLN về việc thực hiện các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư để đôn đốc và hướng dẫn các địa phương kiểm tra, rà soát, trên cơ sở đó lập kế hoạch, lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để chấn chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng nhà ở làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng và công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư.

Ngoài ra, Công văn số 2544/BXD-QLN đã nêu rõ đối với nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng này như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư là không đảm bảo quy định của pháp luật hiện hành.

Về nguyên tắc, các hoạt động gây ảnh hưởng đến vận hành của nhà chung cư (liên quan đến việc sử dụng điện, nước, thang máy, độ ồn, rác thải sinh hoạt, phòng cháy chữa cháy) do việc sử dụng căn hộ làm văn phòng ít hơn hoặc bằng ảnh hưởng từ việc sử dụng làm căn hộ thì được phép sử dụng căn hộ làm văn phòng. Theo đó, tại nhà chung cư số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp chủ sở hữu sử dụng căn hộ hoặc đã ký hợp đồng cho thuê làm văn phòng mà văn phòng đó có quy mô gia đình, nhỏ và ít người, chỉ phục vụ mục đích giao dịch, không sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, tuân thủ các quy định về phòng cháy chữa cháy thì được phép tiếp tục sử dụng hoặc tiếp tục cho thuê căn hộ để làm văn phòng cho đến khi Bộ Xây dựng ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư, trong đó xác định những hạn chế của chủ sở hữu trong nhà chung cư; những hành vi gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan trong quản lý sử dụng nhà chung cư.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 01 NĂM 2010 QUY ĐỊNH NHỮNG NGƯỜI LÀ CÔNG CHỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định này quy định những người là công chức nêu tại khoản 2 Điều 4 và khoản 1 Điều 32 của Luật Cán bộ, công chức.

Khoản 2 Điều 4. Luật Cán bộ, công chức:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Civillawinfor (Trích dẫn)

Khoản 1 Điều 32. Luật Cán bộ, công chức:

Công chức quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này bao gồm:

a) Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội;

b) Công chức trong cơ quan nhà nước;

c) Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;

d) Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

Civillawinfor (Trích dẫn)

Điều 2. Căn cứ xác định công chức

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này.

Continue reading

CẨM NANG MUA BÁN, SÁP NHẬP TẠI VIỆT NAM

VIỆT NAM M&A NETWORK

1. Khái niệm Mua bán – Sáp nhập (M&A)

M &A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions” có nghĩa là Mua bán và Sáp nhập) là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Như vậy, nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A liên quan đến vấn đề sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc  tạo ra những giá trị mới cho cổ đông.

Hộp 1.1. Những tình huống không được coi là M&A

•     Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác nhưng không tham gia hoạt động quản trị/điều hành, chỉ thuần túy nhận cổ tức hoặc kỳ vọng nhận thặng dư khi bán lại cổ phần cho nhà đầu tư khác;

•     Một quỹ đầu tư chứng khoán mua cổ phiếu (niêm yết hoặc OTC) của một doanh nghiệp đại chúng trên thị trường chứng khoán và cũng không tham gia quản trị/điều hành tại doanh nghiệp đó.

•     Một quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital) khi đầu tư vốn với tư cách cổ đông vào các doanh nghiệp và cử đại diện phần vốn góp tại Hội đồng quản trị nhưng vai trò của các thành viên này chủ yếu chỉ mang tính tư vấn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp này với kỳ vọng khi doanh nghiệp phát triển sẽ có thể thoái vốn thông qua việc phát hành cổ  phiếu ra công chúng (IPO). Trường hợp doanh nghiệp do quỹ đầu tư vào không thành công thì khoản đầu tư trên có thể mất theo đúng tính chất “mạo hiểm” của quỹ.

Như vậy, hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của một doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt động quản trị/điều hành của doanh nghiệp. Tuy nhiên mức độ thay đổi về quản trị còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, điều lệ doanh nghiệp và các thỏa thuận của các bên khi tiến hành thương vụ M&A. Continue reading

KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

NGUYỄN UYÊN MINH – Vụ Pháp luật và cải cách tư pháp- Văn phòng Trung ương Đảng

Khiếu kiện về đất đai là một khái niệm dùng để chỉ việc khiếu nại, tố cáo(KN,TC) của các cá nhân hoặc tổ chức (trong trường hợp khiếu nại) nhằm hướng tới lợi ích của họ trong lĩnh vực đất đai. Thực trạng KN về đất đai ở nước ta hiện nay thường thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau :

Thứ nhất, khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cư.

Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội đất nước, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án phát triển. Tuy nhiên vấn đề bồi thường và hỗ trợ và tiến hành tái định cư cho những diện bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Một số dự án chưa có khu tái định cư hoặc chưa giải quyết tái định cư đã quyết định thu hồi đất ở. Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để mua nhà ở mới tại khu tái định cư. Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn. Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác. Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án trên cùng địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, giá nhà ở tại khu tái định cư còn tính quá cao nên tiền nhận bồi thường không đủ trả cho nhà ở tại khu tái định cư. Các quy định của pháp luật về đất đai để giải quyết vấn đề tái định cư đã khá đầy đủ nhưng các địa phương thực hiện chưa tốt, thậm chí một số địa phương chưa quan tâm giải quyết nhiệm vụ này dẫn đến tình trạng KN kéo dài.

Thứ hai, là KN về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH THƯƠNG MẠI CỦA VƯƠNG QUỐC THÁI LAN

Bhumibol Adulyadej, Rex

Ngày 22 tháng 3 năm 1999

Quốc vương Bhumibol Adulyadej trân trọng tuyên bố

Xét thấy cần thiết phải ban hành một đạo luật điều chỉnh về hoạt động cạnh tranh trong thương mại trên cơ sở các quy định về chống độc quyền tại Luật quản lý giá và chống độc quyền trước đây,

Xét thấy Luật này bao gồm các quy định về hạn chế quyền và tự do cá nhân, theo quy định tại điều 29 cùng với các điều 31, điều 35, điều 36, điều 45, điều 48 và điều 50 của Hiến pháp Vương quốc Thái Lan, các quyền này có thể được điều chỉnh bởi một đạo luật;

Với sự góp ý và tán thành của Nghị viện, Quốc vương ban hành Luật này với các điều khoản như sau:

Điều 1

Luật này có tên là "Luật cạnh tranh thương mại, năm Phật lịch thứ 2542 (1999)"

Điều 2

Luật này có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày được công bố trên Công báo Chính phủ.

Điều 3

Trong luật này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

LUẬT THƯƠNG MẠI LÀNH MẠNH VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐỘC QUYỀN CỦA HÀN QUỐC

Chương 1

Quy định chung

Điều 1: Mục đích

Mục đích của luật là nhằm khuyến khích cạnh tranh kinh tế tự do và lành mạnh bằng việc cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh và tập trung sức mạnh kinh tế quá mức luật pháp cho phép và bằng việc điều chỉnh những hành động thông đồng không chính đáng và các hành vi thương mại không lành mạnh, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh sáng tạo, bảo vệ người tiêu dùng, đẩy mạnh sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân.

Điều 2: Giải thích từ ngữ

1. "Doanh nghiệp" là bất kỳ người nào tham gia vào một trong những hình thức kinh doanh được liệt kê dưới đây. Bất kỳ một công chức, nhân viên, đại lý hay bất kỳ một người nào khác hành động vì lợi ích của doanh nghiệp, vì muốn áp dụng các quy định liên quan tới hiệp hội thương mại.

1-2. "Công ty mẹ" là bất kỳ công ty nào mà mục tiêu chủ yếu trong kinh doanh là nhằm kiểm soát các công ty trong nước với tổng số tài sản vượt quá số lượng quy định trong Nghị định của Tổng thống. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty mẹ sẽ được xác định theo Nghị định của Tổng thống.

1.3. "Công ty con" là những công ty trong nước mà hoạt động kinh doanh của chúng bị kiểm soát bởi một công ty mẹ.

2. "Tập đoàn kinh doanh" là một nhóm các công ty mà trong thực tế chịu sự kiểm soát của một người được quy định trong Nghị định của Tổng thống và thuộc một trong những trường hợp dưới đây:

a. người đó là một tổng công ty, là một nhóm các công ty có cả người đó và những công ty do người đó kiểm soát; và

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH THỔ NHĨ KỲ

Luật số 4054

Phần I

Mục đích, phạm vi điều chỉnh, Giải thích thuật ngữ

Mc đích

Điều 1

Mục đích của Luật này là bảo vệ cạnh tranh bằng các biện pháp điều chỉnh, giám sát cần thiết; ngăn ngừa việc lạm dụng vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp chiếm ưu thế trên thị trường; ngăn ngừa các thoả thuận, các quyết định và các hành vi gây kìm hãm, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh trên thị trường hàng hoá và dịch vụ.

Phạm vi điều chỉnh

Điều 2

Mọi thoả thuận, quyết định và hành vi gây kìm hãm, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt động trên hoặc có tác động tới thị trường hàng hoá và dịch vụ thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ; hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp có ưu thế trên thị trường và việc sáp nhập hoặc mua lại doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào gây cản trở một cách đáng kể tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường; mọi biện pháp, quyết định, điều tiết và giám sát để bảo vệ cạnh tranh đều thuộc phạm vi điều

chỉnh của Luật này.

Điều 3

Giải thích từ ngữ

Trong luật này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Bộ: có nghĩa là Bộ Thương mại và Công nghiệp

Continue reading

BẢO HIỂM RỦI RO TÍN DỤNG THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN Ở LIÊN BANG NGA

TRỊNH TRỌNG NGHĨA (theo Tài chính – Nga, số 3/2007) 

Năm 2005 Nga sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật cầm cố bất động sản và các luật hữu quan (như Luật ruộng đất, nhà ở, công chứng và Luật tố tụng dân sự, v.v…) cho phù hợp với tình hình mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hoá các nền kinh tế để Nga gia nhập WTO. Theo Luật cầm cố nói trên, thì những bất động sản sau đây, kể cả công trình xây dựng dở dang, đều có thể dùng làm tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng (xin gọi là tín dụng thế chấp bất động sản tài sản)

1. Ruộng đất, kể cả hồ, ao, trừ ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu công cộng;

2. Công ty, doanh nghiệp, kể cả văn phòng, nhà xưởng, công trình, vật kiến trúc và thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

3. Nhà ở, kể cả các tiện nghi và vật dụng gắn liền với nhà ở phục vụ sinh hoạt hàng ngày;

4. Nhà nghỉ mát, biệt thự, ga ra ôtô và các công trình, vật kiến trúc phục vụ nghỉ mát;

5. Máy bay, tàu thuỷ, kể cả tàu thuyền phà sông biển và các công trình phục vụ ngành hàng không và tàu thuỷ.

Theo luật cầm cố hiện hành, thì người mang tài sản đi thế chấp để vay tiền ngân hàng gọi là người thế chấp hay con nợ; còn người nhận tài sản cầm cố gọi là người nhận thế chấp hay chủ nợ. Người không tham gia vay nợ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (cầm cố) cũng có thể là người thế chấp.

Nếu trong hợp đồng thế chấp bất đJ DSộng sản (nhà ở) không nói gì khác, thì những vật dụng gắn liền với ngôi nhà, phục vụ sinh hoạt hàng ngày ở đây cũng được coi là tài sản thế chấp thuộc bất động sản này. Nếu nhà ở đem thế chấp được xây dựng hay mua sắm bằng tín dụng thế chấp, thì chủ nợ chỉ có quyền cầm cố ngôi nhà này, sau khi nó được cơ quan công chứng hay trước bạ nhà nước công nhận nó thuộc quyền sở hữu của con nợ (của người vay tiền vay nhà). Chủ nợ có quyền yêu cầu con nợ hoàn trả tiền thế chấp sau khi tài sản thế chấp hết hạn cầm cố. Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

       Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó.

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.”

Nhưng vì hiện nay tại nhiều nước trên thế giới người ta nói rất nhiều đến việc “hai bên đều có lợi” (“giải pháp cùng thắng,” win-win solution) trong trao đổi hàng hóa (mậu dịch) và việc “có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội” (mà tiếng Anh người ta gói trong các khái niệm như “cosmopolitan egalitarianism” và “global justice”), nhân cơ hội nầy tôi xin trình bày một vài nhận xét và suy nghĩ về công bằng trong mậu dịch. Theo tôi công bằng trong mậu dịch (Fair Trade) là một nhân tố của công bằng cho toàn xã hội loài người (global justice, cosmopolitan egalitarianism) nhưng, khác với khái niệm global justice hay cosmopolitan egalitarianism, có một quan niệm với những mục tiêu rất thiết thực mà người ta có thể, từng bước, đạt được từ các cấu trúc kinh tế, xã hội và chính trị hiện hữu qua những cuộc vận động hay đấu tranh kiên trì.

Continue reading

SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. NGUYỄN BÁ CHIẾN – Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính

Pháp luật không phải là hiện tượng bất biến. Nó phụ thuộc và được quyết định bởi điều kiện thực tế của xã hội, nó thay đổi và phát triển để phù hợp với sự thay đổi và phát triển của xã hội. Việc sửa đổi pháp luật được đặt ra nhằm điều chỉnh kịp thời và có hiệu quả các quan hệ xã hội. Nhưng việc sửa đổi pháp luật một cách thường xuyên, trong một thời gian ngắn hoặc rất ngắn thể hiện pháp luật không có tính ổn định tương đối.

Nếu các quan hệ xã hội vận động và phát triển rất nhanh thì việc sửa đổi pháp luật thường xuyên cũng là điều bình thường. Ngược lại, nếu các quan hệ xã hội vận động và phát triển bình thường, không có đột biến mà phải sửa đổi pháp luật thường xuyên thì vai trò của pháp luật đó là yếu kém, không phải là khuôn mẫu cho các hành vi xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội. Điều này mang đến những tác động tiêu cực không nhỏ cho xã hội.

1. Thực trạng của việc sửa đổi pháp luật thường xuyên ở nước ta

1.1. Các bình diện sửa đổi pháp luật thường xuyên

Về loại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): việc sửa đổi pháp luật thường xuyên diễn ra từ các đạo luật cho đến các văn bản dưới luật.

Các đạo luật đã được sửa đổi, thay đổi thường xuyên trong thời gian qua ở nước ta là: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1992, được thay thế bằng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2000, được thay thế bằng Luật Đầu tư năm 2005; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi năm 2004 và năm 2005; Luật Giao thông đường bộ năm 2001 được sửa đổi năm 2008; Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 được sửa đổi năm 2002 và được thay thế bằng Luật Ban hành VBQPPL năm 2008; Luật Thương mại năm 1997 được thay thế bằng Luật Thương mại năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 1999 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Giáo dục năm 1998 được thay thế bằng Luật Giáo dục năm 2005.

Continue reading

BỨC TÂM THƯ GỬI NGÀNH GIÁO DỤC

TRẦN QUANG QUÍ

Vậy nên, dạy làm người đầu tiên là ở gia dình. Dạy làm người mới khó làm sao. Dạy làm người cũng phải có thế chân kiềng: Gia đình – Nhà trường – Xã hội. Và dạy làm người phải có kế sách và chiến lược. Không phải cứ nhồi nhét mà thành.

Vâng, học làm người là câu chuyện đầu tiên, muôn thuở, và quan trọng nhất của sự học. Từ lâu, cha ông ta đã nhận thức được ý nghĩa quan trọng của sự học là: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Con đường tiếp nhận tri thức có thể có nhiều cách, trong trường học, trong sách vở, ngoài cuộc sống, và cũng tùy thuộc vào khả năng nhận thức của mỗi con người.

Nhưng văn hóa, nhân cách, tình yêu thương, sự cảm thông, tính năng động, trách nhiệm trước cuộc sống, ý chí vươn lên… mới là mấu chốt trong việc xây dựng con người. Có người tốt mới có xã hội tốt. Một xã hội phát triển và văn minh, nhất định không thể có trên một lãnh thổ của những con người lười nhác, dốt nát, ích kỉ, vô trách nhiệm.

Đã vài thập kỉ nay, tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, và sự gia tăng bạo lực, tội phạm… trong nhà trường đã được báo động. Nhưng xem ra, ngành giáo dục, và cả xã hội vẫn loay hoay trong cái mớ bòng bong, không biết gỡ rối bằng cách nào, từ đâu cho có hiệu quả?

Tình trạng học sinh lười học, đua đòi chơi bời, ăn diện, chơi game bạo lực, trộm cắp, phe nhóm, nghiện hút, đánh lộn, đua xe, chém nhau bằng hung khí, đánh lại thầy cô, thậm chí giết người… vẫn xảy ra một cách đáng lo ngại. Trường hợp mới nhất mà báo chí đưa tin là Nguyễn Hồng Tín, học sinh lớp 7A, trường THCS An Châu, Châu Thành, An Giang đã đánh gục thầy Cao Hữu Phục tại bục giảng vào ngày 12/1/2010, chỉ vì thầy nhắc nhở, không được chơi cờ caro trong lớp.

Continue reading

GÓT CHÂN ACHILLE CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

LÊ NGỌC (Theo Le Monde)

Theo một kết quả thăm dò đầy bất ngờ mới đây, một trong những quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Ấn Độ hiện nay là… Mauritius – đảo quốc nhỏ bé nằm ở Đông Nam châu Phi. Nghĩa là vượt trên cả Pháp, Anh và thậm chí là Mỹ. Đây chỉ là một trong những biểu hiện của cái được gọi là “gót chân Achille của chủ nghĩa Tư bản”, có thể hiểu là những lỗ hổng được hình thành từ trong chính những quy luật lợi nhuận và thị trường của chủ nghĩa này.

Tổ chức phi chính phủ Global Witness (GW) cho hay, tháng 8.2006, Sassou Nguesso, con trai của Tổng thống Cộng hoà Congo, đã chi tới 35.000USD- nguồn thu từ dầu mỏ của nước này, để tiến hành những phi vụ mua bán xa xỉ tại những thành phố mua sắm nổi tiếng thế giới như Paris, Marbella và Dubai. Tổ chức GW thậm chí có những bản sao của một loạt hoá đơn người thanh niên này thanh toán cho những chiếc túi Vuitton, những đôi giày thể thao trị giá tới 2.500 euro, cũng như nhiều mặt hàng xa xỉ khác. Điều đáng nói là, Congo vừa cam kết sẽ trả hết nợ nước ngoài bằng cách nghiêm cấm mọi hình thức “xung đột lợi ích trong lĩnh vực dầu khí”, như hành vi lãng phí nói trên. Và con trai Tổng thống Congo hiện lại là lãnh đạo của Cotrade, một chi nhánh của tập đoàn dầu khí nước này.

Theo nhà kinh tế học Grerald Epstein, từ năm 1995 đến nay, tổng số tiền chảy ra khỏi châu Phi một cách phi pháp đã đạt 274 tỷ USD, bằng 145% tổng số nợ của cả châu lục này. Nhưng vấn đề không phải chỉ liên quan tới châu Phi. Theo thượng nghị sỹ dân chủ Mỹ Carl Levin, kho bạc quốc gia Hoa Kỳ mỗi năm mất đi 100 tỷ USD lợi nhuận vì các tập đoàn lớn đều biết cách tìm tới những miền đất được coi là “thiên đường thuế” để trốn những khoản thuế đắt đỏ ở quê hương mình. Và sự hiện diện của họ tại các miền đất ấy, đáng kể nhất là các quốc gia châu Phi, đã gây ra những nghịch lý nêu trên.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: CHÁY NHÀ MÁY, KIỆN BẢO HIỂM

HOÀNG YẾN

Công an kết luận vụ cháy do rủi ro nhưng công ty bảo hiểm vẫn cho rằng người chủ đã tự đốt nhà máy xay lúa để từ chối bồi thường.

Cuối năm 2007, Công ty Tân Việt (Sóc Trăng) ký hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt khoảng 2,5 tỉ đồng với Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Sóc Trăng. Khuya 22-11-2007, nhà máy xay xát Đại Thành của Tân Việt bất ngờ bị cháy rụi, thiệt hại trên 1,8 tỉ đồng.

Từ chối bảo hiểm

Tân Việt liền báo ngay cho phía bảo hiểm, các cơ quan chức năng khác đến giám định thiệt hại cùng nguyên nhân cháy.

Sau khi công an kết luận nhà máy cháy là rủi ro, do chất xăng dầu gây ra, không có dấu hiệu tội phạm, Tân Việt đã yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại như trên.

Tuy nhiên, công ty bảo hiểm đã từ chối giải quyết, lập luận theo nguyên tắc, bên được bảo hiểm sẽ mất quyền được bồi thường nếu sử dụng các thủ đoạn và biện pháp man trá nằm trục lợi bảo hiểm, hoặc thiệt hại gây ra do hành động có chủ tâm, có sự đồng lõa của người được bảo hiểm. Trong vụ này, công ty bảo hiểm cho rằng chính giám đốc Tân Việt… đốt nhà máy nên không thể bắt bảo hiểm bồi thường.

Đòi bồi thường mãi không được, cuối năm 2008, Tân Việt đã khởi kiện ra tòa.

Không có dấu hiệu man trá

Xử sơ thẩm hồi tháng 8-2009, TAND tỉnh Vĩnh Long nhận định cơ quan điều tra đã xác định Tân Việt không hề có lỗi, không trục lợi trong việc hỏa hoạn này. Nguyên nhân vụ cháy cũng không nằm trong trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm như động đất, núi lửa phun, hay thiên nhiên biến động…

Continue reading

VẤN ĐỀ BẢO LƯU TRẬT TỰ CÔNG trong tư pháp

THS. BÙI THỊ THU – Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà nội

Tổng quan

Trước yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia luôn có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa cũng như pháp luật các nước nhằm hòa nhập vào môi trường pháp lý quốc tế để tìm kiếm và cân bằng các lợi ích và các giá trị xã hội. Với ý nghĩa đó, tư­ pháp quốc tế cũng là một ngành luật quốc gia[1], có mục đích liên thông kết nối các quan hệ pháp lý tư trên phạm vi quốc tế.

Tuy nhiên, với mục đích điều chỉnh các quan hệ luật tư có tính chất quốc tế (quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), việc áp dụng các quy phạm của tư pháp quốc tế đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là việc phải áp dụng các quy phạm xung đột (QPXĐ) theo yêu cầu thực tiễn. Do tính chất phức tạp của các quy phạm này, đặc biệt là trong trường hợp phải áp dụng pháp luật nư­ớc ngoài theo sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột làm sao khi áp dụng phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các lợi ích quốc tế. Đặc biệt trong trường hợp pháp luật nước ngoài có nội dung trái víi các qui của pháp luật, xâm phạm những lợi ích, đường lối mà nước có tòa án giải quyết đang bảo vệ, nói cách khác pháp luật nước ngoài trái trật tự công của quốc gia có tòa án giải quyết vụ việc.

Vấn đề này trong lĩnh vực t­ư pháp quốc tế được gọi là “bảo l­ưu trật tự công” – một trường hợp ngoại lệ khi tòa án áp dụng các quy phạm xung đột trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Vậy thế nào là “Trật tự công”và “ Bảo l­ưu trật tự công trong tư­ pháp quốc tế”? Sự cần thiết cũng nh­ư nguyên nhân của việc bảo l­ưu trật tự công trong hệ thống pháp luật quốc gia là gì? Việc giải thích và áp dụng vấn đề bảo l­ưu trật tự công trong t­ư pháp quốc tế đư­ợc thực hiện nh­ư thế nào? Bài viết sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề pháp lý căn bản về khái niệm, ý nghĩa, sự cần thiết phải bảo l­uu trật tự công (I) phạm vi, thực tiễn áp dụng, hệ quả của việc bảo l­ưu trật tự công trong tr­ường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài (II), và trong trường hợp công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án n­ước ngoài, cũng như của trọng tài nước ngoài của tòa án việt Nam, đồng thời trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn các n­ước, bài viết sẽ đưa ra một số đóng góp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này (III).

Continue reading

VẤN ĐỀ BẢO LƯU TRẬT TỰ CÔNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

THS. BÙI THỊ THU – Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà nội

Tổng quan

Trước yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia luôn có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa cũng như pháp luật các nước nhằm hòa nhập vào môi trường pháp lý quốc tế để tìm kiếm và cân bằng các lợi ích và các giá trị xã hội. Với ý nghĩa đó, tư­ pháp quốc tế cũng là một ngành luật quốc gia[1], có mục đích liên thông kết nối các quan hệ pháp lý tư trên phạm vi quốc tế.

Tuy nhiên, với mục đích điều chỉnh các quan hệ luật tư có tính chất quốc tế (quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), việc áp dụng các quy phạm của tư pháp quốc tế đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là việc phải áp dụng các quy phạm xung đột (QPXĐ) theo yêu cầu thực tiễn. Do tính chất phức tạp của các quy phạm này, đặc biệt là trong trường hợp phải áp dụng pháp luật nư­ớc ngoài theo sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột làm sao khi áp dụng phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các lợi ích quốc tế. Đặc biệt trong trường hợp pháp luật nước ngoài có nội dung trái víi các qui của pháp luật, xâm phạm những lợi ích, đường lối mà nước có tòa án giải quyết đang bảo vệ, nói cách khác pháp luật nước ngoài trái trật tự công của quốc gia có tòa án giải quyết vụ việc.

Vấn đề này trong lĩnh vực t­ư pháp quốc tế được gọi là “bảo l­ưu trật tự công” – một trường hợp ngoại lệ khi tòa án áp dụng các quy phạm xung đột trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Vậy thế nào là “Trật tự công”và “ Bảo l­ưu trật tự công trong tư­ pháp quốc tế”? Sự cần thiết cũng nh­ư nguyên nhân của việc bảo l­ưu trật tự công trong hệ thống pháp luật quốc gia là gì? Việc giải thích và áp dụng vấn đề bảo l­ưu trật tự công trong t­ư pháp quốc tế đư­ợc thực hiện nh­ư thế nào? Bài viết sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề pháp lý căn bản về khái niệm, ý nghĩa, sự cần thiết phải bảo l­uu trật tự công (I) phạm vi, thực tiễn áp dụng, hệ quả của việc bảo l­ưu trật tự công trong tr­ường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài (II), và trong trường hợp công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án n­ước ngoài, cũng như của trọng tài nước ngoài của tòa án việt Nam, đồng thời trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn các n­ước, bài viết sẽ đưa ra một số đóng góp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này (III).

Continue reading

BỎ HAY KHÔNG BỎ LÃI SUẤT CƠ BẢN?

DƯƠNG THU HƯƠNG – Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Trong quá trình thảo luận dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi), có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản. Vấn đề được nhiều người quan tâm nhất hiện nay là bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng nhà nước? Theo dõi các phiên thảo luận của QH, tôi rất chú ý đến ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu “… lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa Ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”.

Ngẫm nghĩ ý kiến này, tôi thấy rất tâm đắc và vì vậy, với tư cách là người đã “ở trong cuộc” được tham gia từ đầu việc xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước từ năm 1995, được QH thông qua năm 1997, tôi xin nêu một vài suy nghĩ của mình về vấn đề lãi suất cơ bản và “bỏ hay không bỏ lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2009.

Lãi suất cơ bản là gì?

Nhiều người đặt câu hỏi: Lãi suất cơ bản là gì? Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 cho ra một định nghĩa “… là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Với định nghĩa này, có hai vấn đề còn mập mờ và phiến diện.
Mập mờ vì “là lãi suất do Ngân hàng nhà nước công bố”. Vậy Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Vì lãi suất cơ bản không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ; không phản ánh được vai trò phát đi tín hiệu của chính sách tiền tệ, chưa kể đến việc hình thành nên nó còn thiếu cơ sở kinh tế. Tại sao là 6%? Tại sao là 8%? Có lúc Ngân hàng Nhà nước đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản là 7% thì có nhiều chuyên gia đề nghị xuống 5%… Con số này được dựa trên cơ sở nào?

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN HIỆN NAY

TS. CHU TIẾN QUANG – Trưởng Ban Chính sách và Phát triển nông thôn Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển đổi mới mạnh mẽ lên sản xuất hàng hóa, hướng tới xuất khẩu và đã thu được những thành công lớn, thể hiện ở sự tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và sự đa dạng hóa kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề của sản xuất nông nghiệp(1), nông dân(2) và nông thôn cần phải tiếp tục giải quyết.

1 – Về sản xuất nông, lâm, thủy sản

Thứ nhất, vẫn chưa thống nhất trong việc xác định vị trí, vai trò của ngành nông, lâm thủy sản trong tổng thể nền kinh tế hiện nay. Do đó dẫn đến nhiều bất cập trong hoạch định và thực thi các chính sách phát triển nông, lâm, thủy sản thời gian vừa qua.

Thứ hai, quy hoạch phân bổ tài nguyên (đất đai, nguồn nước…) phục vụ phát triển nông nghiệp chưa hợp lý, chưa hướng tới việc cải thiện năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Điều này thể hiện ở sự mâu thuẫn, bất cập về quản lý nhà nước trong phân bổ, quản lý việc sử dụng đất vào phát triển các ngành sản phẩm nông, lâm, thủy sản theo điều kiện tự nhiên, sinh thái và nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng quy hoạch sản xuất nông, lâm, thủy sản bị phá vỡ triền miên nhưng không được xử lý kịp thời và triệt để, tạo ra sự hỗn loạn trong sản xuất, hao phí vốn đầu tư của người nông dân, gây ra khó khăn cho đời sống của họ.

Thứ ba, đầu tư xã hội và đầu tư của Nhà nước vào nông, lâm, thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hiện đại. Cụ thể, tỷ trọng vốn đầu tư xã hội vào nông, lâm, thủy sản mấy năm gần đây đã giảm nhanh về tỷ trọng so với tổng đầu tư. Đây chính là nguyên nhân rất cơ bản làm cho tình trạng kết cấu hạ tầng của sản xuất nông, lâm, thủy sản rất lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm, thủy sản hiện nay.

Continue reading

SỐNG ĐỂ ĐƯỢC . . . GHÉT?

LS. ADRIAN TAN – Singapore (TRẦN LÊ ANH MINH dịch và giới thiệu)

Đừng đặt cuộc sống trong giới hạn của những người trung bình

Thật là một vinh dự lớn lao khi được dành mười phút phát biểu tại đây mà chẳng lo bị phản bác, mỉa mai hay trả thù. Tôi nói điều này với tư cách một người Singapore và hơn hết là với tư cách một người chồng.

Vợ tôi là một người tuyệt vời, hoàn hảo ở mọi khía cạnh duy chỉ ngoại lệ một điều. Cô ấy là biên tập viên của một tờ tạp chí. Cô ấy kiếm sống nhờ "sửa lưng" người khác. Cô ấy đã mài dũa kỹ năng chuyên môn của mình hơn một phần tư thế kỷ, chủ yếu nhờ luyện tập tại nhà qua những cuộc trao đổi giữa hai vợ chồng.

Nói dễ hiểu hơn, tôi là một luật sư tranh tụng. Tôi dành thời gian mỗi ngày để chỉ ra sai lầm của người khác. Tôi kiếm sống bằng việc phản bác.

Dẫu vậy đời sống hôn nhân của chúng tôi vẫn cực kỳ hạnh phúc. Đơn giản vì mỗi khi có cuộc tranh cãi giữa một biên tập viên và một luật sư, kẻ chiến thắng không ai khác ngoài vợ.

Và chính thế nên tôi muốn bắt đầu bài này bằng một lời khuyên nhỏ cho cánh mày râu: một khi đã chinh phục được trái tim nàng, bạn chẳng nhất thiết phải chinh phục nốt mấy cuộc tranh luận.

Hôn nhân được coi là một dấu mốc của cuộc đời. Một số trong các bạn đã kết hôn. Một số chưa từng kết hôn. Một số sẽ kết hôn. Một số rất thích tận hưởng trải nghiệm này và sẽ kết hôn nhiều, nhiều lần nữa. Cũng tốt thôi.

Dấu mốc lớn tiếp theo trong cuộc đời các bạn là ngày hôm nay: lễ tốt nghiệp. Kết thúc quá trình giáo dục. Hoàn tất việc học.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2010/TT-BCT NGÀY 22 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG TRÌNH LƯỚI ĐIỆN CAO ÁP

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp (Nghị định số 106/2005/NĐ-CP); Nghị định số 81/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP (Nghị định số 81/2009/NĐ-CP);
Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực, Nghị định số 106/2005/NĐ-CP, Nghị định số 81/2009/NĐ-CP như sau
:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết khoản 2 Điều 51 Luật Điện lực, khoản 3 Điều 3 và khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP; khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 81/2009/NĐ-CP.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các đơn vị điện lực, các hộ dân sống trong và liền kề hành lang an toàn lưới điện và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Đặt biển cấm, biển báo

Ngoài việc thực hiện các quy định chung của pháp luật về biển cấm, biển báo, việc đặt biển cấm và biển báo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Continue reading