THÔNG TƯ SỐ 03/2010/TT-BCT NGÀY 22 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG TRÌNH LƯỚI ĐIỆN CAO ÁP

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp (Nghị định số 106/2005/NĐ-CP); Nghị định số 81/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP (Nghị định số 81/2009/NĐ-CP);
Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực, Nghị định số 106/2005/NĐ-CP, Nghị định số 81/2009/NĐ-CP như sau
:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết khoản 2 Điều 51 Luật Điện lực, khoản 3 Điều 3 và khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP; khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 81/2009/NĐ-CP.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các đơn vị điện lực, các hộ dân sống trong và liền kề hành lang an toàn lưới điện và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Đặt biển cấm, biển báo

Ngoài việc thực hiện các quy định chung của pháp luật về biển cấm, biển báo, việc đặt biển cấm và biển báo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 9 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Continue reading

GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG

Trong nhiều trường hợp, khi soạn thảo hợp đồng, các bên sử dụng những thuật ngữ không chính xác hoặc tối nghĩa, dẫn đến bất đồng về cách hiểu. Vậy, cần giải thích những thuật ngữ đó theo nguyên tắc nào ?

Tranh chấp giữa một Cty của Mỹ và một Cty của Áo về thuật ngữ “consignment” – “ủy thác” trong hợp đồng kí kết giữa hai bên. Hai bên có cách hiểu khác nhau về nghĩa của thuật ngữ này. Tranh chấp đã được xét xử tại Tòa án phúc thẩm Mỹ, Bản án số 05-13995, tuyên ngày 12/09/2006.

Diễn biến tranh chấp

Hai Cty đã ký hai hợp đồng theo đó, nguyên đơn – Cty Áo đồng ý bán một lượng bột kim loại công nghiệp là Tantalum Carbide (TaC) cho bị đơn – Cty Mỹ, giao hàng tháng 10 và tháng 12/2000. Nguyên đơn đã giao hàng theo đúng hai hợp đồng. Bị đơn đã trả một phần tiền cho những phần hàng mà bị đơn đã sử dụng. Song đến ngày 23/8/2001, bị đơn từ chối thanh toán cho phần hàng mà mình không muốn dùng của nguyên đơn.

Nguyên đơn đành phải bán số TaC mà bị đơn từ chối nhận với giá rẻ hơn so với giá ghi trong hợp đồng thỏa thuận với bị đơn. Sau đó, nguyên đơn gửi đơn kiện bị đơn đòi bồi thường thiệt hại theo hai hợp đồng nói trên. Hai bên tranh luận với nhau về nghĩa của thuật ngữ “ủy thác” trong Điều khoản giao hàng tại hai hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn cho rằng, theo CISG (điều 9.2) về áp dụng các tập quán, một thuật ngữ trong hợp đồng được hiểu theo nghĩa thông thường trong ngành, trừ khi hai bên thỏa thuận với nhau cách hiểu khác. Bị đơn đã mời các chuyên gia trong ngành công nghiệp kim loại để xác nhận rằng thuật ngữ “ủy thác” theo cách dùng thông thường trong ngành có nghĩa là: Không có mối quan hệ mua bán nào xảy ra trừ khi hoặc cho đến khi bị đơn thực sự sử dụng mặt hàng TaC. Vì thế, bị đơn chỉ trả tiền cho những phần hàng đã sử dụng là hợp lý và có quyền trả lại phần hàng mình không sử dụng.

Continue reading

HỌC VẤN NGƯỜI QUÂN TỬ

ĐỖ HOÀNG LINH

Quan niệm Nho giáo xưa chia con người ta thành hai hạng chính là quân tử và tiểu nhân. Để cho mọi cá nhân hoàn mỹ, nền văn hoá cổ đưa ra hàng loạt khái niệm quan trọng: nhân, đức, lễ, hiếu, nghĩa nhằm ràng buộc, chế ngự hành vi con người, mong muốn con người nhanh chóng được hoàn thiện.

Cần phải hiểu rõ các danh từ riêng quân tử và tiểu nhân thì mới biết xã hội xưa đã đề cao nhân cách cao đẹp trong cuộc sống biểu hiện qua tư duy biểu đạt, giáo dục và hành vi của bậc chính nhân quân tử. Con người ta đi trên đường đời cũng giống như người lữ khách nhìn thấy trước mặt rất nhiều lối rẽ phải lựa chọn. Nếu đi đường thẳng quang minh thì sẽ đến đích suôn sẻ, nếu đi đường cong queo sẽ lạc bước sa chân, vì thế người quân tử bao giờ cũng xác định chọn đường thẳng, còn kẻ tiểu nhân toàn chọn những đường gấp khúc ngoắt ngoéo. Hai danh từ chủ yếu trong các sách vở, ngôn từ, sinh hoạt cổ này thoạt đầu chỉ đề cập đến địa vị trong xã hội, về sau mở rộng nghĩa ra thành người quân tử luôn đàng hoàng, phẩm cách cao thượng. hiên ngang chính đại, vì nghĩa quên thân, kẻ tiểu nhân chí khí bạc nhược, hèn hạ cúi luồn, hám lợi bỏ nghĩa. Ngay cả trong những người có văn hoá giáo dục, cũng vẫn chia làm hai loại là nho quân tử và nho tiểu nhân Nho quân tử là người học và làm theođạo thánh hiền, lo tư thân sửa mình để hoàn thiện nhân cách chứ không nghĩ học lấy bằng cấp chỉ cốt lấy nghề kiếm ăn. Người quân tử làm việc dựa vào sức mình là chính, làm sai điều gì trước hết phải tự trách mình rồi sửa mình, khi thấy việc thiện thì phải cố làm cho được thấy điều ác thì phải sợ hãi tránh xa. Muốn học làm quân tử cần phải thành thực, không bao giờ tự lừa dối mình mà làm hại sự hiểu biết của chính bản thân và biết giữ chất phác trong nội dung và văn hoá ngoài hình thức.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỞNG CỦA NHÀ NƯỚC: VẤT VẢ ĐÒI XIN LỖI, BỒI THƯỜNG

THANH TÙNG – VĂN ĐOÀN

“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”, người bị oan đã chịu bao đau khổ, thiệt thòi vì sai lầm của cơ quan bảo vệ pháp luật. Vậy mà khi họ đã được minh oan, chưa chắc cơ quan tư pháp đã thẳng thắn nhận trách nhiệm và xin lỗi, bồi thường…

Bài 1: Nhận sai nhưng… làm lơ

Nghị quyết 388 ngày 17-3-2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định các cơ quan tố tụng phải xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần khi làm oan người vô tội. Thực tế, nhiều cơ quan tư pháp vẫn cố tình làm ngơ trước yêu cầu chính đáng của người bị oan.

Vụ việc của ông Nguyễn Lâm Sáu (ngụ phường Khánh Xuân, TP Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk) là một minh chứng.

25 năm đi tìm một lời xin lỗi

Sau bảy năm công tác ở Nông trường Eakao, ngày 14-11-1985, ông Sáu bất ngờ bị Công an tỉnh Dăk Lăk bắt tại nhà riêng vì nghi ngờ buôn bán hàng trái phép. Lệnh bắt không có sự phê chuẩn của VKS, khi công an bắt người không có đại diện chính quyền địa phương chứng kiến. Trong biên bản bắt, công an thu giữ… một chai 65 ml dầu cam đã hư hỏng để làm vật chứng.

Chín ngày sau, ông Sáu được thả. “Lệnh tạm tha” của Công an tỉnh ghi rõ: “Bị can Nguyễn Lâm Sáu về địa phương và khi nào cơ quan pháp luật có giấy gọi, bị can phải đến đúng ngày, đúng giờ”… Từ đó đến nay đã 25 năm trôi qua, ông Sáu không hề thấy một tờ giấy gọi nào của cơ quan pháp luật.

Continue reading

MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ HÔN NHÂN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

LÊ ĐÌNH (sưu tầm)

Người chồng có hôn thú và hôn thú chưa bị thủ tiêu, lúc biết vợ có thai mà lại bỏ nhà ra đi trên hai tháng không có lý do hệ trọng là phạm tội.

Ngay từ xưa, pháp luật của Pháp và Việt Nam đã có nhiều biện pháp chế tài khá nghiêm khắc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Dù các quy định này khá “cổ”, nhưng có nhiều điều cũng rất đáng để chúng ta suy gẫm.

Bỏ phế gia đình

Theo Luật ngày 7-2-1924, bỏ phế gia đình là một khinh tội do đặt ra để phạt người nào bị án tòa buộc cấp dưỡng cho người hôn phối, người tôn thuộc hay ti thuộc mà không chịu thi hành (tương tự như tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng ngày nay).

Sắc luật ngày 3-12-1942 bổ sung thêm vào tội danh trên ba loại hành vi nữa là bỏ cư sở gia đình ra đi trong khi có con vị thành niên, chồng bỏ vợ đang thai nghén và cha mẹ vô hạnh. Mức phạt: từ ba tháng đến một năm tù và phạt tiền từ 5.000 – 100.000 đồng. Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì can phạm có thể được hưởng án treo.

Bỏ cư sở gia đình

Người cha hay người mẹ có con vị thành niên, không có duyên cớ hệ trọng nào mà lại bỏ cư sở gia đình ra đi hơn hai tháng (để lẩn tránh nghĩa vụ của mình về tinh thần hay vật chất đối với gia đình) là phạm tội. Các yếu tố cấu thành tội này là:

– Can phạm phải là cha hay mẹ của một hay nhiều đứa con. Ông bà hoặc người giám hộ không bị phạt về tội này. Nếu người chồng hoặc người vợ không có con (gồm con chính thức, con nuôi, chứ con tư sinh thì không được xem là có gia đình) thì có bỏ gia đình ra đi cũng không sao. Nếu người chồng biết vợ có thai mà bỏ đi thì mới có tội.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 07/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ CHUYỂN NHƯỢNG KHU CHUNG CƯ TRONG DỰ ÁN KHU DÂN CƯ BẮC KÊNH LƯƠNG BÈO

Kính gửi:

Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 67/TS-2009 ngày 01/12/2009 của công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn về việc chuyển nhượng khu chung cư trong dự án Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Căn cứ quy định tại các Điều 6,7,8,9 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản, việc công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn nhận chuyển nhượng từ công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh khu chung cư Lô A trong dự án Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo là việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư, không phải là việc chuyển nhượng toàn bộ dự án. Vì vậy, khi Công ty thực hiện việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư thì không phải áp dụng các quy định về chuyển nhượng toàn bộ dự án được quy định tại Nghị định 153/2007/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điểm a Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP thì “..Chủ đầu tư được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế đối với diện tích đất đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng theo dự án được xét duyệt hoặc theo dự án thành phần của dự án đầu tư đã được xét duyệt; tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng nội dung xây dựng và tiến độ ghi trong dự án đó”. Vì vậy, khi Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh thực hiện việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo, các chủ đầu tư phải tuân thủ đúng các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đầu tư, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng thông báo để Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

CÔNG VĂN SỐ 05/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hà Nội

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 9119/SXD-QLN ngày 11/11/2009 của Sở Xây dựng thành phố Hà Nội về việc hoạt động của các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1/ Về việc các Sàn giao dịch bất động sản có tên gọi trùng nhau

Khi doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản thì việc đặt tên của sàn giao dịch bất động sản phải tuân thủ đúng quy định về tên gọi của pháp nhân được quy định tại Khoản 1 Điều 87 Bộ Luật Dân sự, theo đó “Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt, thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động”. Như vậy, khi doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản có tên gọi của Sàn trùng với tên gọi của sàn giao dịch bất động sản đang hoạt động thì Sở Xây dựng hướng dẫn doanh nghiệp đang thành lập sàn thay đổi tên gọi của Sàn để phù hợp với quy định nêu trên.

2/ Về việc doanh nghiệp thành lập nhiều sàn giao dịch bất động sản

Pháp Luật Kinh doanh bất động sản không quy định hạn chế tổ chức, cá nhân trong việc thành lập sàn giao dịch bất động sản. Việc thành lập sàn giao dịch bất động sản của doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định tại Phần IV Thông tư 13/2008/TT-BXD ngày 21/5/2008 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 153/2007/NĐ-CP và quy định tại Chương IV Bộ Luật dân sự về Pháp nhân.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng thông báo để Sở Xây dựng thành phố Hà Nội nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THÔNG TƯ SỐ 11/2010/TT-BTC NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THUẾ ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Căn cứ các Luật, Pháp lệnh về thuế hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các Luật, Pháp lệnh về thuế;
Căn cứ Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài;
Căn cứ Nghị định số 121/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 07 năm 2007 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư Việt Nam ra nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ (dưới đây gọi chung là Nghị định số 78/2006/NĐ-CP) và Nghị định số 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 của Chính phủ (dưới đây gọi chung là Nghị định số 121/2007/NĐ-CP) như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định về nghĩa vụ thuế đối với các nhà đầu tư Việt Nam nêu tại Điều 2 Nghị định số 78/2006/NĐ-CP và tại Điều 2 Nghị định số 121/2007/NĐ-CP được phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 78/2006/NĐ-CP và Nghị định số 121/2007/NĐ-CP.

2. Trường hợp tại Điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam ký kết hoặc tham gia có liên quan về đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư Việt Nam có quy định về thuế khác với hướng dẫn tại Thông tư này thì nghĩa vụ thuế thực hiện theo các điều ước quốc tế đã ký kết.

Continue reading

CHỈ THỊ SỐ 134/CT-TTg NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT

Kết quả kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ cho thấy tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức trên phạm vi cả nước vẫn còn nhiều, phổ biến ở hầu hết các địa phương, dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất không đúng mục đích được giao, được thuê hoặc cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đất trái phép; để đất hoang hóa, quản lý lỏng lẻo để bị lấn, bị chiếm đất. Mức độ vi phạm pháp luật đất đai nhiều nhất là các tổ chức kinh tế, các nông trường, lâm trường quốc doanh và các tổ chức sự nghiệp công; nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết. Trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các địa phương đã tích cực chỉ đạo, tổ chức nhiều đợt kiểm tra và xử lý vi phạm trong sử dụng đất của các tổ chức, nhưng việc xử lý các vi phạm còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhiều vụ việc vi phạm kéo dài vẫn chưa được giải quyết.

Để kịp thời khắc phục những yếu kém, đồng thời chấn chỉnh lại việc quản lý sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện ngay một số việc sau đây:

1. Trên cơ sở kết quả kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của tổ chức theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung kiểm tra cụ thể các trường hợp vi phạm và phân loại để có giải pháp giải quyết dứt điểm tình trạng vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức sử dụng đất, trước hết là các vụ việc điển hình, gây nhiều bức xúc trong dư luận.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 420/QĐ-BTP NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP QUY ĐỊNH CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Quyết định số 405/CP ngày 10 tháng 11 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về việc thành lập Trường Đại học pháp lý Hà Nội (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội);
Căn cứ Quyết định số 1727/QĐ-TTg ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp;
Căn cứ “Điều lệ trường đại học” ban hành kèm theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ và Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Vị trí và chức năng

Trường Đại học Luật Hà Nội (sau đây gọi là Trường) là trường đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tổ chức đào tạo đại học và sau đại học luật; nghiên cứu khoa học, truyền bá pháp lý và tư vấn pháp luật.

Trường chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư pháp, sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trường là đơn vị sự nghiệp, có con dấu và tài khoản tại Kho bạc và Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

Điều 2. Nhiệm vụ, quyền hạn

Trường có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1. Xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp kế hoạch công tác dài hạn, trung hạn và hàng năm của Trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường đại học của Nhà nước; tham gia xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển Ngành Tư pháp;

Continue reading

QUI ĐỊNH BỔ SUNG HỘ TỊCH CẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG THÔNG NHẤT

NGUYỄN THANH

So với Nghị định 83 (Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về việc đăng ký hộ tịch – Civillawinfor) trước đây, các quy định về điều chỉnh, bổ sung hộ tịch ngày càng thông thoáng hơn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện thống nhất, dẫn đến khó khăn cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Sai, khi ra quyết định bổ sung hộ tịch

Nghị định 158 (Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngyaf 27/12/2005 của Chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch – Civillawinfor) quy định rõ: UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây, hay UBND cấp huyện mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi. Theo quy định, người yêu cầu bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch. Việc bổ sung hộ tịch được giải quyết ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ. Nội dung bổ sung được ghi trực tiếp vào những cột, mục tương ứng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần ghi bổ sung. Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh phải ghi rõ nội dung bổ sung; căn cứ ghi bổ sung; họ, tên, chữ ký của người ghi bổ sung; ngày, tháng, năm bổ sung. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần đã ghi bổ sung. Trường hợp nội dung Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh trước đây không có cột mục cần ghi bổ sung, thì nội dung bổ sung được ghi vào mặt sau của bản chính Giấy khai sinh và cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh. Trong trường hợp, việc đăng ký hộ tịch trước đây do UBND cấp xã thực hiện, nhưng sổ hộ tịch chỉ còn lưu tại UBND cấp huyện, thì UBND cấp huyện thực hiện việc bổ sung.  Sau khi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, nội dung bổ sung hộ tịch đã được ghi vào Sổ đăng ký khai sinh, thì bản sao Giấy khai sinh từ Sổ đăng ký khai sinh sẽ ghi theo nội dung đã thay đổi, cải chính hoặc bổ sung. Như vậy, trong quy trình bổ sung hộ tịch theo Nghị định 158, cơ quan giải quyết việc bổ sung hộ tịch không phải ra bất cứ quyết định bổ sung hộ tịch nào, mà chỉ căn cứ vào các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 123/QĐ-TTg NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ PHỤC VỤ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” với các nội dung cơ bản như sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh, thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Xây dựng và phát triển đủ số lượng luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư để đáp ứng nhu cầu tư vấn và tham gia tranh tụng các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có cơ quan Chính phủ, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 05/2010/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VIỆC ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn Luật Phá sản ngày 24 tháng 6 năm 2004;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với tổ chức tín dụng về điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của tổ chức tín dụng bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

2. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.

Điều 2. Thủ tục phá sản

1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thủ tục phá sản được áp dụng đối với tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:

a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;

b) Phục hồi hoạt động kinh doanh;

c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;

d) Tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 183/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRẢ TIỀN TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

Trả lời công văn số 1488/LĐTBXH ngày 23/11/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội về việc trả tiền trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Trường hợp ông Phạm Văn T có thời gian công tác tại Lâm trường A từ 1976 đến 1989, sau đó đi hợp tác lao động nước ngoài từ 1989 đến 1993 và khi về nước không được bố trí công việc để tiếp tục làm việc trong khu vực nhà nước thì được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Thông tư số 12-TT/LB ngày 3/8/1992 của liên bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Tài chính hướng dẫn thực hiện một số chính sách, chế độ đối với người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài về nước. Trường hợp ông T chưa nhận trợ cấp thôi việc thì đề nghị làm việc với cơ quan bảo hiểm xã hội để xem xét xác nhận thời gian được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội (nếu đủ điều kiện).

Đến tháng 3 năm 1998 ông T xin vào làm việc tại công ty kinh doanh lâm nghiệp tỉnh (nay chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Nam Hòa 100% vốn Nhà nước) xin thôi việc theo đúng quy định của pháp luật thì được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 44/2003/NĐ-CP. Thời gian tính trợ cấp thôi việc của ông T được tính từ tháng 3/1998 đến khi thôi việc và công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Nam Hòa có trách nhiệm chi trả.

2. Đối với trường hợp ông Phan Văn H có thời gian công tác tại cơ quan hành chính sự nghiệp đến năm 1990, sau đó được bổ nhiệm làm Giám đốc công ty nhà nước đến năm 2005 thực hiện cổ phần hóa nay ông H xin thôi việc, trường hợp này không thuộc đối tượng ký hợp đồng lao động theo quy định tại Bộ luật Lao động, do vậy đề nghị Quý Sở gửi công văn tới Bộ Nội vụ để được hướng dẫn, thực hiện.

Continue reading

ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP VÀ SO SÁNH VỚI VIỆC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM Ở VIỆT NAM

THS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP – Khoa Kinh tế – Luật, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh

Việc đăng ký giao dịch bất động sản trong luật dân sự Pháp là một cơ chế hữu hiệu cho việc bảo vệ quyền lợi của bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ có liên quan đến bất động sản. Trong khi đó, luật Việt Nam chỉ quan tâm đến việc đăng ký giao dịch bảo đảm, mà cụ thể là hợp đồng thế chấp theo quy định của Nghị định 163/CP năm 2006. Và hiện nay vẫn tồn tại song song bên cạnh Nghị định này một Nghị định khác cùng điều chỉnh vấn đề về đăng ký giao dịch bảo đảm, đó là Nghị định 08/CP năm 2000. Tuy nhiên, cả hai Nghị định này hiện vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế. Để bảo vệ quyền lợi của các bên có quyền một cách thật sự có hiệu quả, các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này cần thiết phải được hoàn thiện nhanh chóng.

Chế định đăng ký giao dịch bất động sản trong luật dân sự của Pháp xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử. Bắt đầu với Đạo luật số 9 tháng Gặt hái năm 17951 về thế chấp tài sản, vấn đề đăng ký đặt ra một cách có hệ thống đối với tất cả các giao dịch thế chấp tài sản với mục đích nhằm khuếch trương các giao dịch thế chấp tài sản, đưa các giao dịch này vào sự quản lý một cách có tổ chức của pháp luật. Tuy nhiên, đạo luật này nhanh chóng bị hủy bỏ bởi đạo luật được ban hành sau đó vào năm 1798. Đó là đạo luật số 11 tháng Sương mù (ngày 01/11/1798) và vấn đề đăng ký giao dịch thế chấp lại được đặt ra với mục đích mới quan trọng và rõ ràng hơn trước, nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ nhận thế chấp. Đạo luật này thiết lập một hệ thống các cơ quan đăng ký giao dịch thế chấp trong tất cả các đơn vị hành chính cấp quận, cơ quan này chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký với hai nhóm giao dịch khác nhau, vào sổ đăng ký giao dịch thế chấp và ghi nhận quyền ưu tiên2 đối với một số chủ nợ và đăng ký việc sao lại3 các giao dịch được thiết lập trên bất động sản. Với loại đăng ký thứ hai này, cơ quan đăng ký sẽ “sao chép” một phần hay toàn văn giao dịch có liên quan đến bất động sản, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến việc định đoạt, chuyển nhượng bất động sản, các sao chép này được lưu giữ tại cơ quan đăng ký như một biện pháp đăng ký đích thực.

Việc không đăng ký các giao dịch phải đăng ký theo luật này sẽ dẫn đến kết quả là hợp đồng thế chấp hay các giao dịch chuyển nhượng bất động sản nói chung sẽ không phát sinh giá trị đối kháng với người thứ ba. Hay nói cách khác là các giao dịch này chỉ có giá trị pháp lý trong quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch mà không phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba, tức là các bên không thể viện dẫn việc xác lập giao dịch để bảo vệ quyền của mình đối với một người thứ ba có liên quan. Có thể nói, các quy định ban đầu này về đăng ký giao dịch bất động sản ở Pháp nhìn chung đã rất tiến bộ so với các quy định cùng thời kỳ trong các lĩnh vực pháp lý khác.

Continue reading

GIẢM TÍNH HÌNH THỨC TRONG VIỆC THAM GIA XÉT XỬ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN

PHẠM THÁI

Trong thời gian qua, Báo ĐBND đăng một số bài trao đổi về việc quản lý và nâng cao chất lượng xét xử của Hội thẩm nhân dân (HTND). Xét thấy, cần phải có sự đánh giá toàn diện, nhiều chiều về thực tiễn tham gia hoạt động xét xử của HTND, nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như việc thực thi vai trò, trọng trách của HTND, tôi thấy cần trao đổi để cung cấp thêm thông tin và quan điểm của mình về vấn đề này.

Việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ XHCN. Ghi nhận vai trò của HTND trong công tác xét xử của Ngành Tòa án trong những năm qua. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số nơi, việc tham gia xét xử của HTND vẫn mang nặng tính hình thức. Thực tế nhiều HTND chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm mà pháp luật quy định, cũng như sự kỳ vọng của nhân dân.

Mục đích của chế định xét xử có HTND tham gia không đơn thuần là cùng Thẩm phán xét xử cho xong vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Quan trọng hơn, pháp luật giao trọng trách cho HTND thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế XHCN. Thực tế thời gian qua cho thấy, chất lượng xét xử các loại án chưa cao, tình trạng tiêu cực của một số cán bộ Tòa án đã bị phát hiện ảnh hưởng uy tín của Ngành Tòa án. Để xảy ra tình trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính nội tại của Ngành Tòa án, có một phần trách nhiệm của các HTND. Do kiến thức pháp luật và bản lĩnh còn hạn chế nên hầu hết các HTND chưa thực hiện tốt nguyên tắc “Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” và nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việc HTND chưa phát huy hết được vai trò, trách nhiệm có lẽ xuất phát từ cả quy định của pháp luật và việc thực thi.

Continue reading

VỀ VẤN ĐỀ QUI ĐỊNH LÃI SUẤT CƠ BẢN: MỘT TIỀN LỆ ĐẸP CỦA PHƯƠNG PHÁP LẬP PHÁP

BẠCH LONG

Dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) đã được trình QH cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Sáu và hiện đang trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý trình UBTVQH xem xét. Tuy nhiên, tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật này do Ủy ban Kinh tế vừa tổ chức thì các nhà lập pháp và các nhà kinh tế học vẫn tranh luận quyết liệt về những vấn đề lớn của dự án Luật. Đây cũng là một trong những trường hợp khá hãn hữu đối với các dự án Luật đã được chuyển sang giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý.

Vấn đề nóng nhất và cũng là tiêu điểm tranh luận quyết  liệt giữa các nhà lập pháp và các nhà kinh tế tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) chính là việc dự thảo Luật đề nghị bãi bỏ quy định về lãi suất cơ bản.

Ủng hộ quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, một số chuyên gia kinh tế cho rằng: lãi suất cơ bản thiếu cả cơ sở lý thuyết chặt chẽ và cơ sở thực tiễn. Mặc dù đã được luật hóa từ năm 1997 nhưng cho đến giữa năm 2008 lãi suất cơ bản trên thực tế không được sử dụng như một cơ sở để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất như mong muốn. Bằng chứng là trong khoảng thời gian này, lãi suất trên thị trường hầu như không có bất cứ mối tương quan nào với lãi suất cơ bản. Phó giám đốc nghiên cứu, giảng dạy Chương trình Fulbright Vũ Thành Tự Anh nêu dẫn chứng: trong suốt hai năm 2006-2007, mặc dù lãi suất qua đêm liên ngân hàng có lúc lên tới gần 9%, có lúc xuống tới 3% nhưng lãi suất cơ bản hoàn toàn đứng yên. Lãi suất cơ bản chỉ được thực sự sử dụng như một công cụ của chính sách tiền tệ kể từ giữa năm 2008 khi chỉ số lạm phát so với cùng kỳ năm trước đã vượt quá 20%. Và, khi các ngân hàng thương mại tranh nhau đẩy lãi suất lên tới 15-16% (tức là gần gấp đôi lãi suất cơ bản ở thời điểm đó). Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp này, lãi suất cơ bản được sử dụng không phải như một cơ sở có tính định hướng thị trường mà thuần túy là một công cụ hành chính nhằm áp đặt trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng.

Continue reading

5 YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TÍNH KHẢ THI TRONG GIAI ĐOẠN SOẠN THẢO DỰ ÁN LUẬT

HÀ LINH

Trong quá trình chuẩn bị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh yếu tố đầu tiên để đưa dự luật vào chương trình là sự cần thiết ban hành. Yếu tố này được lý giải như một tất yếu quyết định và lấn át yếu tố khả thi. Khi thẩm định chương trình, tính khả thi còn bị xem nhẹ. Điều này dẫn đến chương trình dễ bị “đổ vỡ” phải điều chỉnh nhiều lần, thậm chí có dự án không kịp chuẩn bị phải rút ra khỏi chương trình rồi lại vì tính cấp thiết để đề nghị bổ sung…

Vấn đề tính khả thi của luật phải được đặt ra và xem xét kỹ lưỡng khi quyết định đưa dự án luật vào chương trình hàng năm. Và trách nhiệm “gác cửa” vấn đề này cho QH trước hết thuộc về cơ quan chủ trì thẩm tra luật. Vì vậy cần xây dựng các tiêu chí về tính khả thi để thẩm định dự án luật có đủ điều kiện đưa vào chương trình hay không.
Từ thực tiễn ban hành luật có thể nêu một số yếu tố quyết định tính khả thi của luật ngay trong giai đoạn soạn thảo.

1. Xác định rõ phạm vi điều chỉnh ngay từ đầu

Khi đạo luật đưa vào chương trình xây dựng pháp luật thì trước hết phải xác định rõ ràng, dứt khoát phạm vi điều chỉnh của dự án. Không thể vừa làm vừa bổ sung hay cắt xen phạm vi điều chỉnh. Vì phạm vi điều chỉnh liên quan đến toàn bộ nội dung của dự án. Thay đổi, bổ sung phạm vi điều chỉnh sẽ dẫn đến thay đổi nội dung dự luật.

Việc xác định phạm vi điều chỉnh đối với các dự án luật khác nhau và có tác động trực tiếp đến tính khả thi. Có luật lớn phạm vi điều chỉnh rng. Có luật điều chỉnh mối quan hệ xã mới hình thành, chưa thực sự ổn định. Có luật sửa đổi bổ sung một số điều nhằm tới các mối quan hệ xã hội cụ thể. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh ngay từ khâu soạn thảo. Trong nhiều trường hợp khi trình ra QH hay UBTVQH cho ý kiến mà phạm vi điều chỉnh chưa xác định rõ hoặc lại tiếp tục có sự điều chỉnh như Dự án luật Người khuyết tật; Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11 về công trình, dự án quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư… Sự thay đổi phạm vi điều chỉnh như vậy có thể sẽ đưa dự án trở về vị trí ban đầu, rất mất thời gian và không thể chuẩn bị kỹ lưỡng.

Continue reading

NÊN CÓ TÒA ÁN CHUYÊN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LÊ TRỌNG DŨNG – Công ty TNHH Luật Gia Phạm

Xu thế “san phẳng thế giới” trên các lĩnh vực pháp luật đã khiến thói quen bảo vệ tài sản tư, tạo lợi thế cạnh tranh từ tài sản trí tuệ trong xã hội phương Tây từng bước xuất hiện trong các văn bản pháp luật nước ta. Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và nhiều văn bản pháp luật kế tiếp đều mang “hơi thở” của xu hướng đó.

Pháp luật sở hữu trí tuệ với chức năng là nền tảng pháp lý bảo vệ các tài sản trí tuệ đang được hoàn thiện và giữ vai trò quan trọng đảm bảo lợi ích của các tri thức có tài sản tư. Những quy định xác lập quyền, cơ chế bảo vệ và thực thi trong pháp luật sở hữu trí tuệ dần khắc phục tình trạng nhiều tài sản bị “lấy đi” dễ dàng. Tuy nhiên, trước tình cảnh các ca sĩ và nhà đầu tư tranh giành quyền lợi, các công ty ra sức bảo vệ nhãn hiệu, kiểu dáng, sáng chế, người ta vẫn thấy rằng ước mơ công lý của người có tài sản trí tuệ vẫn còn xa lạ.

Khi nhận thấy sự sáng tạo bị xâm phạm, người có tài sản trí tuệ thường lên tiếng phản đối để đòi lại công bằng. Họ thường phối hợp với cơ quan hành chính hoặc tìm đến tòa án dân sự. Nhưng với đặc thù phức tạp, mang tính chuyên môn cao nên nhiều khi các cơ quan hành chính và tòa án dân sự, vốn còn nhiều mặt hạn chế, vẫn không thể giải quyết thỏa đáng.

Khi gặp trường hợp khó, các cơ quan này thay vì phải giải quyết rốt ráo thì lại thường “đá” cho nhau. Khi đó người có tài sản trí tuệ cứ loay hoay không biết quyền lợi hợp pháp của mình có được bảo vệ hay không. Bởi thế, khi kinh tế phát triển, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ gia tăng, người dân mong có tòa án đủ năng lực để xét xử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

Continue reading