PHÂN HÓA THU NHẬP TỪ NHIỀU GÓC NHÌN

Civillawinfor TRẦN TRỌNG THỨC

Cũng có người giàu lên không bằng năng lực cũng chẳng nhờ vào thời cơ, mà nhờ vào các mối quan hệ. Hầu hết các nước kém phát triển, khi quyền lực liên kết với tư bản trong làm ăn thì phân hóa giàu nghèo càng khó giải quyết.

Năm hết Tết đến, một trong những mối bận tâm lớn của người làm công ăn lương là khoản tiền thưởng Tết mà họ xứng đáng có được từ công sức đóng góp của mình là bao nhiêu? Thế cho nên thông tin trên báo chí đề cập đến những khoảng cách quá lớn về tiền thưởng Tết giữa khu vực kinh tế này với khu vực kinh tế khác, ngành này với ngành khác được nhiều người quan tâm cũng là điều dễ hiểu.

Thông tin từ Vụ Lao động Tiền lương (Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội) cho thấy, cá nhân được thưởng Tết cao nhất năm nay là 389 triệu đồng thuộc về một doanh nghiệp FDI của TP HCM. Trong khi đó mức thưởng Tết cao nhất cho lao động trong khối doanh nghiệp dân doanh tại thành phố này là 185 triệu đồng. Ở khối doanh nghiệp nhà nước, mức thưởng Tết cao nhất là 99,7 triệu đồng của một doanh nghiệp ở Khánh Hòa.

Năm nay, thưởng Tết bình quân chung của cả nước khoảng 1,85 triệu đồng một người, cao hơn 300.000 đồng so với năm ngoái, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 2,2 triệu đồng, doanh nghiệp dân doanh 1,4 triệu đồng và doanh nghiệp FDI 1,9 triệu đồng một người. Bà Rịa – Vũng Tàu là địa phương giữ kỷ lục về thưởng Tết với mức bình quân cá nhân 4,3 triệu đồng, kế đó là TP HCM 3,8 triệu đồng, Khánh Hòa 3,6 triệu đồng, Đà Nẵng 2,5 triệu đồng, Hà Nội 2,3 triệu đồng, Bình Dương 2,1 triệu đồng và Đồng Nai 1,7 triệu đồng.

Continue reading

THAY THẾ MỘT SỐ QUAN NIỆM KHÔNG CHÍNH XÁC DỰA TRÊN MỆNH GIÁ CỔ PHIẾU THƯỜNG

THS. HỒ VIẾT TIẾN

Mở đầu

Hầu hết các nhà đầu tư đều biết rằng mệnh giá trái phiếu và mệnh giá cổ phiếu ưu đãi rất quan trọng, ít nhất là trong tính toán lãi định kỳ hay cổ tức ưu đãi hàng năm. Mệnh giá cổ phiếu thường không có ý nghĩa đó. Tuy nhiên ở VN, mệnh giá cổ phiếu thường đột nhiên lại được sử dụng thường xuyên, coi như là một căn cứ tham chiếu cho rất nhiều tính toán. Không ít khi chúng ta nghe thấy “cổ phiếu 4 chấm, 7 chấm” với ngầm hiểu rằng giá thị trường bằng 4 lần, 7 lần mệnh giá. Trong các bản cáo bạch hoặc trên các báo đầu tư cũng thường thấy “tỷ lệ cổ tức 12%, 20%, thậm chí 30%”, ý nói rằng đó là tỷ lệ cổ tức trên mệnh giá. Cổ phiếu 7 chấm có phải là cổ phiếu có mức sinh lợi cao và tỷ lệ cổ tức 30% có phải là mức sinh lợi cổ tức cao – đó là những vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập đền trong bài này.

1. Về quan niệm cổ phiếu “7 chấm”

Cách diễn đạt này thể hiện tỷ số “giá hiện hành cổ phiếu/mệnh giá cổ phiếu”.

Hãy bắt đầu bằng mẫu số. Mệnh giá cổ phiếu là 10.000 đồng. Giá trị này từ đâu ra? Bắt đầu từ khi cổ phần hóa. Trong cổ phần hóa người ta kiểm kê tài sản, định giá tài sản, rồi cộng với giá trị “lợi thế kinh doanh”, được bao nhiêu đem chia cho 100.000 đồng để được số lượng cổ phiếu. Mệnh giá này chia cho 10 trước khi niêm yết, do vậy có giá trị mệnh giá cổ phiếu niêm yết bằng 10.000 đồng. Mệnh giá này không phản ánh giá trị thực, và càng ngày càng xa giá trị thực của doanh nghiệp mà nó đại diện, với những lý do sau đây :

a. Lý do thứ nhất: Đại đa số các doanh nghiệp niêm yết có nguồn gốc là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Trong số đó có rất nhiều công ty được định giá trước khi cổ phần hóa bởi nhiều tầng nấc ban cổ phần hóa các cấp, từ doanh nghiệp cho đến Bộ tài chính, thêm vào đó, phương pháp định giá giản đơn, nhiều yếu tố như nhà đất, nợ còn tranh cãi xem có tính đến trong quá trình định giá hay không, và đặc biệt là vắng yếu tố đấu giá (chỉ áp dụng sau này), nên rút cục giá trị doanh nghiệp tìm ra cách khá xa giá trị thực của các công ty. Bằng chứng là nhiều công ty định giá quá rẻ, các đối tác ưu tiên mua hết cổ phần, người ngoài không thể mua nổi. Ngược lại, nhiều công ty định giá xong vài năm vẫn chưa bán hết cổ phần vì đã định giá quá cao (do tài sản nhiều mà lợi nhuận làm ra ít chẳng hạn). Như vậy ngay khi hình thành, 100.000 đồng mệnh giá cổ phần hóa đã xa thực tế rồi.

Continue reading

XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG TƯ PHÁP: LIỆU CÓ CÒN QUÁ SỚM?

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Dịch vụ công là một thuật ngữ còn khá mới trong giới hàn lâm và thực tiễn Việt Nam. Từ một nhà nước toàn trị, Việt Nam đã tiến rất nhanh tới một trật tự xã hội có đóng góp đáng kể của khu vực tư nhân vào đời sống kinh tế. Liệu ngành tư pháp, bao gồm các dịch vụ lien quan đến tòa án và bổ trợ tư pháp như công chứng, luật sư, thi hành án.. có thể từng bước xã hội hóa được phần nào chăng? Bài viết góp một cách nhìn về dịch vụ công và dự báo những khả năng có thể xã hội hóa một số dịch vụ nhất định trong lĩnh vực tư pháp ở nước ta.

Khi dịch vụ công chứng tại nhà và chạy sổ đỏ cho đăng ký nhà đất xuất hiện cách đây ít lâu, giới học thuật nước ta bắt đầu du nhập ý niềm về dịch vụ công, mở màn cho những suy tính tái định nghĩa vai trò của Chính phủ, Nghị viện và các thiết chế tư pháp trong một xã hội đang đổi thay nhanh chóng. Bài viết dưới đây góp thêm một góc nhìn về “dịch vụ công”, dự báo khả năng xã hội hóa một số dịch vụ trong ngành tư pháp, nhất là một số dịch vụ gắn với ngành tòa án và hoạt động bổ trợ tư pháp, từng bước chuyển các hoạt động này thành dịch vụ thương mại có điều kiện dành cho những người hành nghề tự do.

Dịch vụ công: Nhà nước nên làm gì?

Cuộc tranh luận về định nghĩa dịch vụ công có lẽ nên đến hồi kết thúc. Chắc rằng nhà nước chí ít có hai chức năng: (i) thực hiện hành chính công (mang tính cai trị) và (ii) chức năng cung cấp dịch vụ công thiết yếu cho xã hội, nhất là khi khu vực tư nhân không thể đảm đương, hoặc đảm đương một cách không công bằng [4, 5]. Dịch vụ công là cách mà nhà nước can thiệp nhằm đáp ứng các hàng hóa mang tính công cộng. Như vậy, dịch vụ công gắn liền với những câu hỏi như: nhà nước nên làm gì, nên tổ chức công việc đó như thế nào cho hiệu quả (chi phí thấp, kết quả cao). Ranh giới giữa cái gọi là hành chính công với những dịch vụ và tiện tích mang tính công cộng khác, dường như không thật cố định và được xác định một cách tương đối giữa các thế lực cơ bản trong một xã hội. Mọi khái niệm thật mong manh; điều nhà nước hôm nay giữ độc quyền và cho rằng chỉ riêng mình với đủ sức làm, ngày mai đã có thể trở thành một thị trường của giới doanh nhân.

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 12: KÝ KẾT BẢN HIẾN PHÁP

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 17 tháng Chín NĂM 1787

Ngày 8 tháng Chín, sau khi thống nhất tất cả các điều khoản, Hội nghị lại bầu ra Ủy ban Văn phong để viết lại bản Hiến pháp này với câu chữ rõ ràng và chặt chẽ hơn. Bản Hiến pháp chính thức do Gouverneur Morris, người được coi là có khả năng viết tốt nhất, chắp bút dựa trên bản phác thảo, nhằm có được một văn bản ngắn gọn và mạch lạc. Sau một vài ngày sửa chữa, Hội nghị đã đồng ý với văn bản này.

Trong ngày 17 tháng Chín, ngày họp cuối cùng của Hội nghị, lễ ký kết bản Hiến pháp đã diễn ra rất trang nghiêm và cảm động. Đại biểu cao tuổi nhất, Bác sĩ FRANKLIN đã viết một trong những bài diễn văn hay nhất của mình.

Nhưng tại ngày họp cuối cùng, trong số 55 đại biểu từng tham dự, chỉ còn 42 người có mặt, và trong đó chỉ có 39 đại biểu đồng ý ký vào bản Hiến pháp. Ba đại biểu Gerry, Mason và Randolph đã từ chối ký và tuyên bố những lý do họ không thể ký vào bản Hiến pháp.

Bản thảo Hiến pháp viết được đọc trước toàn thể Hội nghị.

Bác sĩ FRANKLIN đứng lên với bài phát biểu cầm trong tay, nhờ Ngài Wilson đọc giùm.

"Thưa Ngài Chủ tịch,

Tôi thừa nhận rằng lúc này, có nhiều điểm trong bản Hiến pháp này, tôi không thể chấp nhận. Nhưng tôi không chắc rằng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận nó. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu rằng chúng ta không nên dựa quá nhiều vào sự phán xét của chính bản thân mình. Tôi thường thấy mình sai lầm ngay tại những điều ưng ý nhất. Khi tôi càng nhiều tuổi, tôi càng nghi ngờ sự phán xét của chính mình và quan tâm chú ý hơn đến những nhận xét của người khác. Hầu hết loài người, cũng như những giáo phái trên thế giới, thường tự cho rằng mình mới là người hiểu biết sự thật và bất kể ai khác với quan điểm của mình đều là sai lầm.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. ĐỖ VĂN QUÂN & NGUYỄN THỊ DUNG – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia HCM

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lạm phát do các yếu tố trong nước cộng hưởng với lạm phát toàn cầu, an sinh xã hội là mục tiêu rất quan trọng. Chính vì thế, ngay cả khi chuyển hướng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội vẫn được coi là một trong bốn mục tiêu quan trọng hiện nay của đất nước (kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững). Trên tinh thần đó quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò, tầm quan trọng của an sinh xã hội là: đầu tư cho an sinh xã hội chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển, an sinh xã hội đã trở thành động lực góp phần cho kinh tế phát triển và tăng trưởng bền vững.

Tuy nhiên, trước những biến động khó khăn của tình hình kinh tế trong nước và thế giới như hiện nay, dù Nhà nước có cố gắng như thế nào thì vấn đề an sinh xã hội cũng khó mà được bảo đảm nếu như không có sự chia sẽ một cách chủ động tích cực hơn của các chủ thể khác (doanh nghiệp, cộng đồng…). Theo cách tính của Tổ chức Lao động quốc tế, khi Việt Nam sụt giảm 2% GDP trong hai năm 2008-2009 (từ 8,5% năm 2007 xuống 6,5%) thì sẽ có 0,65% lao động tương ứng 300.000 người thất nghiệp. Dự báo con số người thất nghiệp của Việt Nam trong năm 2009 có thể sẽ cao hơn mức này…Trong bối cảnh như vậy, một vấn đề đặt ra là hệ thống doanh nghiệp đã và đang có vai trò, trách nhiệm như thế nào trong việc cùng với Nhà nước và cộng đồng giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội của đất nước.

Thực hiện an sinh xã hội là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một vấn đề khá cũ đối với các nước phát triển nhưng còn khá mới mẻ và nó đang được quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Theo quan niệm của Hội đồng Thương mại thế giới, thì “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung”. Mặc dù có thể có nhiều cách diễn giải khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm 4 yếu tố cấu thành:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 09/2010/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN VỀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Căn cứ Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 06 năm 2006 của Quốc hội;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán như sau:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Đối tượng công bố thông tin

Đối tượng công bố thông tin bao gồm: Công ty đại chúng, tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và người có liên quan.

2. Yêu cầu thực hiện công bố thông tin

2.1. Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.

2.2. Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được uỷ quyền công bố thông tin công bố.

Trường hợp có bất kỳ thông tin nào làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán thì người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin phải xác nhận hoặc đính chính thông tin đó trong thời hạn hai mươi bốn (24) giờ, kể từ khi nhận được thông tin đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý.

Continue reading

ỦY THÁC TƯ PHÁP DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước, tình hình kinh tế, xã hội luôn phát triển, hợp tác kinh tế, đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều hơn, trong bối cảnh đó các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài cũng tăng lên. Để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật thì tương trợ tư pháp là một công cụ hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp đó.

Năm 2009, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 3.622 vụ án có yếu tố nước ngoài (trong đó dân sự 1.367, hôn nhân gia đình 1.106, kinh doanh thương mại 1.227 và lao động 22). Hoạt động tương trợ tư pháp trong các vụ án này chủ yếu là ủy thác tư pháp giữa Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án có thẩm quyền của các nước để nhằm giúp nhau thực hiện một số công việc như ghi lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa chỉ, trưng cầu giám định…

Việc ủy thác tư pháp trước hết dựa trên cơ sở các hiệp định song phương về tương trợ tư pháp mà Việt nam đã ký kết; đối với các nước mà Việt Nam chưa ký Hiệp định tương trợ tư pháp, việc thực hiện dựa trên nguyên tắc có đi có lại, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia và các bên cùng có lợi. Tùy theo nội dung của từng Hiệp định, có Hiệp định chỉ điều chỉnh các vấn đề tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp hai nước mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột pháp luật như Hiệp định ký với Pháp và Trung quốc.

Do đặc điểm về lịch sử, nhiều gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh tại Miền nam có nhiều người thân định cư làm ăn sinh sống ở nước ngoài như Mỹ, Úc, Canada, Anh…đây là những nước chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam nên việc thực hiện ủy thác tư pháp gặp nhiều khó khăn vì không có kết quả. Đối với những nước có Hiệp định tương trợ tư pháp thì có thể nhận được kết quả nhưng rất chậm. Mặt khác trào lưu kết hôn với người nước ngoài cũng là vấn đề để lại hậu quả khi một bên trở về nước và có yêu cầu ly hôn với người đang ở nước ngoài.

Continue reading

HỌC THEO TÍN CHỈ THẾ NÀO CHO HIỆU QUẢ?

VIỆT HÀ – Khoa Sư phạm, Địa học Quốc gia Hà Nội

Đọc sách, thảo luận, thuyết trình, trình chiếu Powerpoint, làm bài tập lớn – bài tập nhỏ… Đó là một số khâu cơ bản của một hình thức dạy học mới ở Việt Nam những năm gần đây: Mô hình dạy học theo tín chỉ. Mô hình này hiện nay đã trở nên không còn xa lạ đối với sinh viên Việt Nam.

Ở một số trường, nó đã được áp dụng nhưng chưa đồng bộ và còn rất nhiều ý kiến trái chiều. Năm 2006, các trường đại học đã tổ chức rất nhiều các cuộc hội thảo bàn về những vấn đề của dạy học theo tín chỉ, về hình thức, nội dung, nhiệm vụ và tính chất… của mô hình này. Thực tế, việc dạy và học theo tín chỉ vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề không tránh khỏi của một mô hình dạy học mới. Một câu hỏi lớn được đặt ra là: Học theo tín chỉ thế nào cho hiệu quả?

Một số sinh viên tỏ ra háo hức với mô hình dạy học mới này trong khi đó số khác lại tỏ ra tiếc nuối với mô hình cũ – dạy học theo niên chế. Không phải vì mô hình cũ có hứng thú và hiệu quả hơn với họ mà chỉ vì một lí do hết sức đơn giản: họ ngại thay đổi, họ muốn giữ thói quen học – thi – trả bài từ bao lâu nay. Bản thân nhiều giảng viên cũng chưa thích ứng ngay được với cường độ và tính chất của hình thức giảng dạy mới này. Vì vậy, trước tiên đòi hỏi cả thầy và trò phải thực sự bứt phá, có ý thức thay đổi để thoát khỏi những thói quen cũ.

Học theo chương trình tín chỉ, muốn được điểm cao và hiệu quả học tập tốt, không đơn giản chỉ là bạn phải lên thư viện đọc sách từ sáng đến tối, “cày” chăm chỉ, đến kì thi học thuộc bài mà quan trọng hơn là kĩ năng và sự sáng tạo của bạn trong những công việc quen thuộc ấy. Điểm khác biệt lớn nhất của tín chỉ so với cách học truyền thống là ở chỗ thời lượng sẽ dành nhiều hơn cho thảo luận, làm việc nhóm và tự đọc sách.

Continue reading

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM

PGS. TS. TRẦN ĐÌNH HẢO – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Sự ra đời và đi vào hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam(DIV) đã đánh dấu một bước phát triển mới của hệ thống các định chế tài chính – ngân hàng ở Việt Nam. Thực tiễn hoạt động của DIV trong thời gian qua đã khẳng định: Có thể còn có những quan niệm, nhận thức khác nhau, nhưng rõ ràng DIV là một định chế tài chính không thể thiếu trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững của hệ thống tài chính – ngân hàng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra một loạt vấn đề cần được giải quyết như: DIV cần được tiếp tục củng cố và hoàn thiện như thế nào? theo mô hình nào cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam hiện nay? Luật Bảo hiểm tiền gửi cần được xây dựng như thế nào ? v.v. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin có đôi lời tham gia luận bàn về vị trí, vai trò và về địa vị pháp lý của tổ chức BHTG.

Theo quy định tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 (Nghị định 89) của Chính phủ về BHTG thì DIV là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng. Hoạt động của DIV phải bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí.

Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ ( Nghị định 109) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89 tuy có những quy định mới và tăng quyền chủ động cho tổ chức BHTG, nhưng theo đánh giá của tôi về cơ không có gì thay đổi lớn về chức năng nhiệm vụ chính của tổ chức BHTG so với quy định tại Nghị định số 89.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN VÀ ĐẢM BẢO SỰ PHÁT TRIỂN AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

TS. PHÙNG VĂN HÙNG – Giám đốc Trung tâm Thông tin, TV và NCKH Văn phòng Quốc hội

Hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng luôn có những rủi ro, trong đó mất khả năng thanh toán là rủi ro lớn nhất. Hậu quả có thể dẫn tới là hệ thống tài chính quốc gia bị tê liệt; xã hội bị bất ổn và niềm tin của các nhà đầu tư sẽ bị giảm sút. Một trong những công cụ phòng ngừa được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay là bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi được bảo hiểm cộng với tiền lãi nhập gốc cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.

Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có vị trí hết sức quan trọng cho tăng trưởng kinh tế; và đặc biệt có một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam cuộc sống của họ chỉ biết trông chờ vào lãi suất thu được từ việc gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, thì vần đề bảo hiểm tiền gửi lại càng có ý nghĩa quan trọng. Ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi. Tiếp theo đó, ngày 9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg về việc thành lập cơ quan BHTG Việt Nam. Sau 9 năm đi vào hoạt động tổ chức BHTG tại Việt Nam đã và đang tiếp tục khẳng định tốt vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng, ổn định an ninh chính trị và đời sống xã hội. BHTG được xem như một lời đảm bảo công khai và hữu hiệu của Chính phủ để củng cố lòng tin của công chúng; hạn chế tình trạng người gửi tiền đổ xô đi rút tiền hàng loạt tại ngân hàng vì nghe tin đồn thất thiệt, không có cơ sở về tình hình hoạt động tài chính kém lành mạnh của một ngân hàng nào đó; hoặc thậm chí ngay cả trong trường hợp thực sự có sự đổ vỡ của một ngân hàng nào đó thì Nhà nước cũng sẽ có biện pháp can thiệt kịp thời nhằm tránh sự lây lan sang tổ chức tín dụng đang hoạt động lành mạnh khác.

1. Mô hình và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

BHTG được xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1932 sau những vụ vỡ nợ ngân hàng hàng loạt, đó là BHTG liên bang của Mỹ (FDIC). FDIC là cơ quan của Chính phủ có nhiệm vụ thực hiện việc bảo hiểm đối với toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng Mỹ. Sau sự ra đời của FDIC, tính đến nay trên thế giới đã có khoảng hơn 90 quốc gia có tổ chức BHTG. Ngày 6/5/2002

Continue reading

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: LUẬT MỚI, VƯỚNG MẮC CŨ

THANH LƯU – PHAN THƯƠNG

Hơn nửa năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự, nhiều vướng mắc cả cũ lẫn mới đã phát sinh. Vấn đề nhân sự thiếu, công việc quá tải, án tồn đọng đến nay vẫn đang là nỗi lo thường trực của ngành thi hành án…

Tại hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 tổ chức tại TP.HCM ngày 16-1, Bộ Tư pháp thẳng thắn nhìn nhận Luật Thi hành án dân sự đã có hiệu lực từ ngày 1-7-2009 nhưng việc chuẩn bị các văn bản hướng dẫn còn chậm so với yêu cầu. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành còn chưa đồng bộ, dẫn đến việc nhiều thông tư, thông tư liên tịch chưa được ban hành đúng tiến độ.

Chưa thích nghi với luật mới

Theo Bộ Tư pháp, Luật Thi hành án dân sự chứa đựng nhiều nội dung mới nên việc triển khai thi hành đòi hỏi phải làm rất nhiều việc như xây dựng văn bản hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, rà soát đánh giá đội ngũ cán bộ…

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Hoàng Sỹ Thành cho biết từ tháng 11-2009, hệ thống tổ chức thi hành án dân sự đã vận hành theo chức năng, nhiệm vụ và tên gọi mới. Địa vị pháp lý của cơ quan thi hành án dân sự được nâng lên, đồng nghĩa với trách nhiệm nặng nề hơn. Tuy nhiên, một số cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo của các cơ quan thi hành án vẫn chưa thích nghi ngay với yêu cầu của nhiệm vụ mới.

Ở một khía khác, theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Nguyễn Thanh Thủy, từ khi có luật mới, số lượng vụ việc xin ý kiến chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ gửi về Tổng cục tăng đáng kể. Tuy nhiên, nhiều công văn thỉnh thị của các địa phương không đảm bảo các yêu cầu về hình thức cũng như nội dung. Ông Thủy đề nghị các cơ quan thi hành án thực hiện đúng yêu cầu khi gửi hồ sơ xin ý kiến để Tổng cục dễ dàng hơn trong việc hướng dẫn nghiệp vụ.

Continue reading

CÁC BƯỚC TRONG QUY TRÌNH MUA DOANH NGHIỆP

THS. NGUYỄN TRÍ THANH – Đại Học Học Hitotsubashi – Nhật bản & THS.BÙI ANH TUẤN – Đại học tổng hợp Columbia, Hoa Kỳ

y thuộc vào quy mô của giao dịch, mục đích của thương vụ, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mua và doanh nghiệp mục tiêu, các bước trong quy trình mua có thể khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi muốn giới thiệu các bước thường được bên mua thực hiện trong quy trình mua doanh nghiệp. Các phần việc này có thể áp dụng cho hầu hết các thương vụ mua doanh nghiệp diễn ra tại Việt nam cũng như trên toàn thế giới.

• Xác định mục tiêu của giao dịch mua doanh nghiệp;

• Xây dựng kế hoạch thực hiện

• Tập hợp đội ngũ;

• Xác định tiêu chí sàng lọc và lựa chọn doanh nghiệp mục tiêu

• Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu;

• Tiếp cận doanh nghiệp mục tiêu;

• Thực hiện rà soát, thẩm định doanh nghiệp mục tiêu;

• Định giá và đàm phán

• Lựa chọn phương thức thực hiện giao dịch;

• Xác định nguồn tài chính tài trợ cho giao dịch;

• Tiến hành thương lượng cụ thể các điều khoản hợp đồng mua doanh nghiệp và kết thúc giao dịch

• Giai đoạn sau khi mua doanh nghiệp – Những điều cần lưu ý

Continue reading

MỘT SỐ BÌNH LUẬN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Sau hơn bốn năm có hiệu lực, gần đây Luật Cạnh tranh đã được áp dụng để xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh đầu tiên đã có những tác động đáng kể đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam, đến ý thức pháp luật của các doanh nghiệp và góp phần khẳng định giá trị của pháp luật cạnh tranh đối với quản lý kinh tế. Trong quá trình giải quyết vụ việc đã phát sinh nhiều vấn đề về tình hình cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, trong đó có quan niệm của doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp độc quyền) về vai trò của pháp luật cạnh tranh.

1. Nội dung và một số vấn đề đặt ra cho việc giải quyết vụ việc

Vụ việc xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không giữa doanh nghiệp độc quyền nhà nước là Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (PA) – nay là JPA. Theo Hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 ngày 31/12/2007 giữa Vinapco và PA, hai bên thỏa thuận mức phí cung ứng nhiên liệu là 593.000 đồng/tấn tại thời điểm ký kết; khi có sự thay đổi về mức phí cung ứng, Vinapco có trách nhiệm thông báo cho PA bằng văn bản qua đường fax; mọi sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đều phải được hai bên thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của người có thẩm quyền; khi có tranh chấp, các bên phải giải quyết thông qua thương lượng, trường hợp thương lượng không thành sẽ đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; lý do duy nhất để Vinapco có thể ngừng thực hiện Hợp đồng đã giao kết là khi PA chậm thanh toán quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bảng kê của Vinapco.

Đầu tháng 3/2008, do ảnh hưởng bởi biến động giá xăng dầu thế giới nên Vinapco đã có Công văn số 446/XDHK-KDXNK mời đại diện của PA đến họp để xác định lại mức phí cung ứng mới. Việc thương lượng diễn ra bằng các cuộc họp và công văn trao đổi qua lại giữa Vinapco và PA. Tuy nhiên, cả hai bên đều chưa có được sự đồng thuận về mức phí mới. Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn số 512/XDHK-VPĐN gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp. Trong các cuộc họp và các văn bản gửi Vinapco, PA bày tỏ quan điểm thừa nhận việc tăng phí cung ứng khi chi phí thị trường tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty hàng không Việt Nam (VNA), đồng thời đề nghị Vinapco và PA cùng kiến nghị Chính phủ và các bộ liên quan xem xét, quyết định.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHÌN TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

GS.TS. VŨ VĂN HIỀN 

Cơn bão dữ tài chính – kinh tế có sức tàn phá toàn cầu đã qua đỉnh điểm, sức gió hạ dần và rồi sẽ tan đi, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đã chạm đáy suy thoái và đang có dấu hiệu phục hồi với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, sự hủy hoại ghê gớm của cơn bão đó vẫn để lại những hậu quả to lớn, khôn lường. Kinh tế thế giới đang ngổn ngang bao công việc cần giải quyết và nhất là bao điều cần bàn luận một cách nghiêm túc. Trong những vấn đề hết sức cơ bản cần làm rõ, nổi lên một vấn đề hệ trọng, đó là việc cắt nghĩa vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Để nghiên cứu một cách thấu đáo vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này có thể xem xét theo những nội dung chính như sau.

1 – Những nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng

Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu nổ ra, trong rất nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc đại tranh luận, các học giả kinh tế hàng đầu thế giới đã đưa ra những nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng, đó là:

– Sự hình thành và đổ vỡ của "bong bóng" thị trường bất động sản, của các khoản cho vay khổng lồ để thế chấp nhà đất ở Mỹ.

– Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng và sai lệch lớn trong điều tiết tài chính, khi có tình thế xấu xảy ra, hệ thống ngân hàng Mỹ bị hoảng loạn, lan ra toàn thế giới, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn tới sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư.

– Các chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và nhiều nước đã có những khiếm khuyết lại được thực hiện thiếu nhất quán, đầy đủ và thiếu cải cách cơ cấu dẫn tới kinh tế vĩ mô mất cân bằng và thiếu bền vững.

– Sự suy giảm giá trị của đồng USD và khủng hoảng chế độ tiền tệ không bản vị. Chế độ bản vị vàng hối đoái là chế độ tiền tệ quốc tế lấy đồng tiền của một nước làm bản vị thay cho vàng. Từ Hội nghị Bretton Woods (tháng 7-1944), vai trò đồng tiền bản vị là đồng USD (Hàm lượng ấn định là 35 USD = 1 ounce vàng, hay 1 USD = 0,888.671 gram vàng). Từ tháng 8-1971, Mỹ tuyên bố đóng cửa thị trường vàng và đồng USD không còn dùng vàng làm thước đo giá trị nữa. Từ đó, đồng USD được phát hành vô tội vạ và giá trị của nó ngày càng giảm đi.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: VẪN NHIỀU ÁN TỒN ĐỌNG

NHẬT ANH

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2009, các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thụ lý 662.961 việc, đã thi hành xong 354.490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện thi hành. Tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là số lượng án tồn đọng. Tình trạng khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự còn nhiều, nhiều vụ việc phức tạp, khiếu nại tố cáo gay gắt, kéo dài…

Theo một thống kê tại Hội nghị chuyên đề triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 khu vực phía Bắc do Bộ Tư pháp tổ chức mới đây, hiện nay cả nước còn 270.925 án tồn đọng. Trong đó, 188.000 việc chưa có điều kiện thi hành án; hơn 89.000 việc người phải thi hành án ốm nặng, chưa xác định được nơi cư trú, người phải thi hành án không có tài sản; 98.754  án tồn đọng vì có kháng nghị; tuyên không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc có khiếu nại…

Một trong những nguyên nhân án tồn đọng ngày càng lớn dồn từ năm này qua năm khác là do cơ chế, chính sách, pháp luật còn có những bất cập, chưa phù hợp thực tế; công tác quản lý nhà nước còn có những yếu kém, sai phạm, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Trong nhiều trường hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng, đòi lại đất nhưng thiếu cơ chế, chính sách để giải quyết thỏa đáng. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương còn buông lỏng, để xảy ra sai phạm. Quá trình thực hiện thu hồi đất của dân chưa đúng trình tự, thủ tục, thiếu công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và trong một số trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ chưa đủ để người dân tạo lập chỗ ở mới tốt hơn. Có một số dự án thu hồi đất sản xuất của dân nhưng không được sử dụng hợp lý, đất đai bỏ hoang, lãng phí, trong khi nông dân thiếu đất sản xuất, dẫn đến bức xúc, phát sinh khiếu nại.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: “NGÂM ÁN”, THẨM PHÁN BỊ “TRẢM”

SONG NGUYỄN

Chuyện thẩm phán “ngâm án” dân sự vẫn đang tồn tại từ nhiều năm nay, góp phần làm tăng lượng án quá hạn. Ðể án quá hạn vì lỗi chủ quan, đã có không ít thẩm phán bị xem xét trách nhiệm…

Việc “ngâm án” thể hiện ý thức trách nhiệm của người cầm cán cân công lý với công việc. Có những vụ án không phức tạp, thẩm phán vẫn cố tình “ngâm nga”, làm đương sự bức xúc.

Kiểm điểm

Ngày 3-1-2008, TAND TP Cao Lãnh thụ lý vụ tranh chấp đường ranh đất của bà V. Được phân công giải quyết, một thẩm phán đã tổ chức hòa giải, yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ, đo đạc diện tích, xác minh xong xuôi hết rồi nhưng sau đó không chịu lên lịch xử.

Chờ hơn một năm sau, quá bức xúc trước việc “ngâm án” này, bà V. khiếu nại khắp nơi. Tháng 4-2009, Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp đã có công văn truyền đạt ý kiến của chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu TAND tỉnh này xem xét, trả lời khiếu nại của bà V. Sau đó, lãnh đạo TAND tỉnh Đồng Tháp đã yêu cầu TAND TP Cao Lãnh sớm đưa vụ án ra xét xử và nghiêm khắc kiểm điểm thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ kiện.

Chuyển đơn vị

Tháng 5-2002, bà A. kiện đòi nợ, được TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) thụ lý. Kể từ đó, thẩm phán được phân công giải quyết vụ kiện của bà A. cứ “ngâm nga” mãi. Bà A. đã nhiều lần có đơn yêu cầu xét xử, thậm chí đến gặp thẩm phán và chánh án thì chỉ nhận được câu trả lời: “Cứ về chờ”.

Continue reading

Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTG ngày 29 tháng 2 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về THU HỒI ĐẤT; GIAO ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 23 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai;
Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 4780/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định Cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La như sau:

“Điều 1. Thu hồi đất; giao đất ở, đất nông nghiệp

1. Nguyên tắc chung:

a) Nhà nước thu hồi diện tích đất thuộc khu vực lòng hồ; khu vực dự kiến bố trí các công trình xây dựng liên quan đến Dự án Thủy điện Sơn La; diện tích đất của người phải di chuyển; diện tích đất bố trí tái định cư, tái định canh để giao cho Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La phục vụ Dự án Thủy điện Sơn La;

b) Diện tích đất thuộc khu vực bố trí hộ dân tái định cư (kể cả khu vực tái định cư, tái định canh tại chỗ hoặc xen ghép), khu vực đất bố trí các công trình xây dựng liên quan đến các khu tái định cư đã thu hồi, phải giao cho Ban Quản lý Dự án di dân tái định cư cấp huyện hoặc cấp tỉnh để phục vụ tái định cư, tái định canh cho hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La;

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 45/QĐ-TTg NGÀY 11 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 1 QUYẾT ĐỊNH SỐ 246/QĐ-TTG NGÀY 29 THÁNG 02 NĂM 2008 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CƠ CHẾ ĐẶC THÙ VỀ THU HỒI ĐẤT; GIAO ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 23 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai;
Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 4780/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định Cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La như sau:

“Điều 1. Thu hồi đất; giao đất ở, đất nông nghiệp

1. Nguyên tắc chung:

a) Nhà nước thu hồi diện tích đất thuộc khu vực lòng hồ; khu vực dự kiến bố trí các công trình xây dựng liên quan đến Dự án Thủy điện Sơn La; diện tích đất của người phải di chuyển; diện tích đất bố trí tái định cư, tái định canh để giao cho Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La phục vụ Dự án Thủy điện Sơn La;

b) Diện tích đất thuộc khu vực bố trí hộ dân tái định cư (kể cả khu vực tái định cư, tái định canh tại chỗ hoặc xen ghép), khu vực đất bố trí các công trình xây dựng liên quan đến các khu tái định cư đã thu hồi, phải giao cho Ban Quản lý Dự án di dân tái định cư cấp huyện hoặc cấp tỉnh để phục vụ tái định cư, tái định canh cho hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La;

Continue reading

HỢP ĐỒNG KÌ HẠN (FORWARD)

Hợp đồng kì hạn là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một tài sản nào đó vào một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này, ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau. Khác với hợp đồng quyền chọn, trong đó người giữ hợp đồng có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình, thì ở hợp đồng kì hạn, 2 bên chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng.

Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất giá tiền tệ (hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (hợp đồng kì hạn với dầu mỏ).

Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết. Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí. Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư(forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn,  hoặc khoản khấu trừ(forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn.

Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (futures contract). Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng.

Hãy nghiên cứu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về đặc điểm của một hợp đồng kì hạn:

Giả sử Mr. X muốn mua một ngôi nhà trong vòng 1 năm tới, đồng thời Mr. Y sở hữu một căn nhà và anh ta muốn bán trong cùng thời gian đó. Y thoả thuận bán ngôi nhà của Y cho X sau 1 năm nữa với giá là $104,000, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn. Vì X là người mua nên X mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai, ngược lại, Y muốn giá giảm. Cuối năm, giả sử giá thị trường của ngôi nhà lúc đó là $110,000, trong khi Y có nghĩa vụ phải bán nhà cho X với giá $104,000 theo như cam kết trong hợp đồng nên có thể coi như Y đã lỗ $6000, còn X lãi $6000 (vì X có thể mua nhà của Y với giá $104,000 và bán ngay trên thị trường với giá $110,000).

Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ cũng lớn hơn giá giao ngay, vì nó bao gồm cả lãi suất.

Tiếp tục ví dụ trên, giả sử giá bán hiện nay của ngôi nhà là $100,000, thì Y có thể bán ngay để đem gửi ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm. Sau 1 năm Y sẽ có số tiền $104,000 mà không phải chịu chút rủi ro nào. Trong khi đó nếu X muốn mua ngay ngôi nhà anh ta sẽ đến vay ngân hàng số tiền $100,000, và cũng phải trả lãi 4%/năm. Còn ngược lại nếu kí hợp đồng mua kì hạn anh ta sẽ không phải trả lãi nên X cũng sẵn sàng bỏ ra $104,000 để mua ngôi nhà trong vòng 1 năm nữa. Đó là lý do vì sao giá kì hạn được thống nhất ở $104,000 chứ không phải là $100,000.

SOURCE: WIKIPEDIA

Trích dẫn từ: http://saga.vn/dictview.aspx?id=1657