BÀN VỀ VẤN ĐỀ LÃI SUẤT TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

DƯƠNG THU HƯƠNG – Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Một vài năm gần đây, vấn đề lãi suất trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 1, điều 476) thu hút sự quan tâm của nhiều người. Và khi QH xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) và dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) thì vấn đề lãi suất lại nóng lên.

Trước khi đi vào các vấn đề cụ thể, cần phải làm rõ và thống nhất một vấn đề chung nhất: mục tiêu của “vấn đề lãi suất” trong từng luật là gì?

Mục tiêu của Bộ Luật Dân sự: quy định lãi suất là để “chống cho vay nặng lãi”, tuy nhiên phạm vi điều chỉnh của luật này lại quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân… Vì vậy cả cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng đều được coi như nhau và áp dụng cơ chế như nhau.

Mục tiêu của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng là: hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo nguyên tắc thị trường, mọi “giá cả” của hàng hoá tiền tệ được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Vì vậy hai luật này bắt buộc phải tuân theo tính thị trường của hoạt động ngân hàng, thể hiện trong việc hình thành lãi suất, tỷ giá… trên thị trường tiền tệ như Luật Chứng khoán đã thể hiện sự tôn trọng giá cả của các loại chứng khoán được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn, kể cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Vì thế, Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước cần có những mục tiêu riêng biệt cho phù hợp với từng đối tượng. Sự ép buộc phải thực hiện theo một mục tiêu duy nhất của Bộ luật Dân sự khiến cho hoạt động của thị trường tiền tệ, hoạt động của ngân hàng không thuận lợi.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 44/TCT-TNCN NGÀY 7 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỊ HỦY BỎ

Kính gửi:

Cục Thuế thành phố Hà Nội

Trả lời công văn số 18704/CT-THNVDT ngày 28/10/2009 của Cục thuế Hà Nội nêu vướng mắc về việc hoàn trả thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị huỷ bỏ. Vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Điều 692 Bộ Luật dân sự quy định hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất như sau: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Tại khoản 3 Điều 32 Luật thuế TNCN quy định: “Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập quy định tại Điều 28 và Điều 29 của Luật này là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực”.

Căn cứ vào các quy định trên và theo quy định của Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất, được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho hộ gia đình, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau thông qua Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được cơ quan Công chứng chứng thực; trên cơ sở Hợp đồng đã được công chứng chứng thực, hồ sơ chuyển nhượng sẽ được chuyển đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác định nghĩa vụ tài chính của các bên liên quan (thuế TNCN đối với người chuyển nhượng và lệ phí trước bạ đối với người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) làm cơ sở cho cơ quan nhà nước về quản lý đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng. Trường hợp trong thời gian theo quy định về trình tự thủ tục tiếp nhận hồ sơ, luân chuyển hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Thông tư Liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của Liên Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Mội trường mà các cơ quan Nhà nước chưa làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng có thoả thuận với nhau huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng và phải được cơ quan nhà nước về quản lý đất đai chấp nhận huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tiền thuế TNCN và lệ phí trước bạ đã nộp sẽ được hoàn trả cho người nộp theo đơn đề nghị và giấy tờ có xác nhận huỷ bỏ hợp đồng của cơ quan quản lý đất đai.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 90/TCT-TNCN NGÀY 8 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ QUYẾT TOÁN THUE THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 VÀ ĐĂNG KÝ NGƯỜI PHỤ THUỘC NĂM 2010

Kính gửi:

Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tổng cục Thuế nhận được ý kiến phản ánh của các Cục thuế, đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế hỏi về vấn đề hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2009 và việc thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh từ năm 2010.Về vấn đề này, sau khi báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Về quyết toán thuế TNCN năm 2009:

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, cải tiến các thủ tục hành chính về thuế, Tổng cục Thuế đang nghiên cứu để sửa đổi các thủ tục hành chính về thuế TNCN theo hướng đơn giản, dễ thực hiện để trình Bộ Tài chính ban hành. Dự kiến các thủ tục hành chính về thuế TNCN mới sẽ được ban hành trong nửa đầu tháng 01/2010 để áp dụng ngay cho kỳ kê khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 và kê khai thuế TNCN phát sinh từ tháng 01/2010 trở đi.

Vì vậy, đề nghị các Cục thuế thông báo cho các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập biết chủ trương này để tạm dừng việc nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 trong tháng 01/2010 và thực hiện kê khai quyết toán theo mẫu kê khai mới để nộp cho cơ quan thuế từ ngày 01/02/2009.

2. Về đăng ký giảm trừ gia cảnh và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc, vừa qua Tổng cục Thuế nhận được ý kiến của các Cục thuế và tổ chức chi trả thu nhập hỏi: khi thực hiện Luật thuế TNCN, năm 2009 cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công đã thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh với cơ quan chi trả thu nhập, sang đầu năm 2010 có phải thực hiện đăng ký lại hay không:

Continue reading

TẠI SAO GỌI LÀ FED MÀ KHÔNG GỌI CENTRAL BANK

TS. TÔN THANH TÂM

Đa phần, Chính phủ các nước trên thế giới sử dụng cụm từ “Central Bank” (Ngân hàng Trung ương), còn lại sử dụng cụm từ “Federal Reserve” (Dự trữ Liên bang) như Cục Dự trữ liên bang Mỹ – FED, hay “Reserve Bank” (Ngân hàng dự trữ) chẳng hạn như: Úc (Reserve Bank of Australia), New Zealand (Reserve Bank of New Zealand), Ấn Độ (Reserve Bank of India)…; mặc dù, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của Central Bank giống như FED hay Reserve Bank, nhưng giữa Central Bank và FED vẫn có những điểm khác nhau khá lớn, tùy thuộc vào tính chất “sở hữu về vốn” và sự lựa chọn “mô hình” mà các quốc gia áp dụng.

Bài viết này không đi sâu so sánh bất cứ vấn đề gì giữa Central Bank và FED hay Reserve Bank, mà chỉ tóm lược một vài sự kiện quan trọng, tạo nên cái gọi là FED Hoa Kỳ, và các cuộc khủng hoảng tài chính do các thế lực tài phiệt quốc tế gây ra, để làm căn cứ cho bạn đọc tự so sánh, tìm hiểu.

1. Hội nghị Trà Boston – Giọt nước tràn ly

Như chúng ta đã biết, Hoa Kỳ vốn là thuộc địa của Anh cho đến năm 1774, để phản đối chính sách thuế của Anh đánh vào Trà (tea tax), một hội nghị trà được được tổ chức tại Boston (Boston Tea Party). Nhân dịp này, nhiều người Mỹ đóng giả người da đỏ nhảy lên tàu chở trà của Anh khiêu chiến và ném các thùng trà xuống biển. Hành động đó đã bị chính quyền cai trị Anh đàn áp. Để chống trả, phía Mỹ đã thành lập các đội quân chiến đấu chống lại quân đội Anh. Nhân sự kiện này, vào năm 1774, ông Benjamin Franklin đã đứng ra triệu tập một Hội nghị ở Philadelphia để đưa ra chính sách về quyền của người Mỹ được đóng thuế. Trong đó ông Benjamin nhấn mạnh: “Nếu như ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa (tức nước Mỹ) thì người dân của xứ này sẽ vui vẻ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác… và nó trở thành nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập của Mỹ”. Sau đó, với sự chiến thắng vang dội của đoàn quân Massachusetts, Hội nghị đã cho ra Bản tuyên ngôn độc lập ngày 4/7/1776 và dưới sự lãnh đạo tài tình của Tướng George Washington, quân đội Mỹ đánh thắng quân đội Anh vào năm 1781, theo Hiệp ước Versailles, năm 1785 Anh quốc chính thức công nhận độc lập cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, vai trò và tầm ảnh hưởng của ông Benjamin Franklin được xếp sau Tướng George Washington. Ông Benjamin được coi là người cha lập quốc của nước Mỹ, ông là người duy nhất ký tên vào 4 tài liệu chính thức về việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đó là: Tuyên ngôn độc lập, Hiệp ước Paris, Hiệp ước liên minh với Pháp, Hiến pháp Mỹ.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2010/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 41/2009/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 05 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM

Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 9/12/2000;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008 (sau đây gọi tắt là “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính”);
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm;
Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm như sau:

Phần I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Thông tư này hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Nghị định 41/2009/NĐ-CP”).

Điều 2. Các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tuân thủ quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 3. Nguyên tắc xác định đối tượng bị xử phạt

1. Trường hợp Nghị định 41/2009/NĐ-CP quy định đối tượng bị xử phạt là tổ chức thì đối tượng bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt là tổ chức; quy định đối tượng bị xử phạt là cá nhân thì đối tượng bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt là cá nhân;

2. Trường hợp Nghị định 41/2009/NĐ-CP quy định đối tượng bị xử phạt là tổ chức hoặc cá nhân thì đối tượng chính bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt trước tiên là tổ chức. Các cá nhân có liên quan chỉ bị xem xét, áp dụng các hình thức xử phạt khi:

Continue reading

SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN – Một trong những nội dung quản lý của Nhà nước đối với thị trường bất động sản

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009

Thuộc nhóm chuyên nghành khoa học: XH2b

Họ và tên sinh viên: Văn Thị Anh

Giới tính: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp: Dân sự K32B

Năm thứ:  2/ Số năm đào tạo: 4 năm

Khoa: Pháp luật Dân sự

Người hướng dẫn: Ts. Trần Quang Huy

 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bất động sản là một loại tài sản có vai trò vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia. Nó là thành phần sống của xã hội loài người. Sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường cũng đã kéo theo nền sản xuất hàng hoá bất động sản phát triển. Loại hàng hoá này được đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường, từ đó hình thành nên thị trường bất động sản. Sự ra đời và phát triển của thị trường bất động sản đã có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên do BĐS là loại hàng hoá có giá trị lớn và đặc tính TTBĐS là không hoàn hảo nên đã dẫn đến hiện trạng là: các giao dịch trên thị trường phần lớn là các giao dịch phi chính thức, hiện tượng đầu cơ trốn lậu thuế tạo ra những cơn sốt ảo gây tác hại to lớn cho nền kinh tế và sự quản lí yếu kém của các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước chưa có những biện pháp quản lí TTBĐS hiệu quả nên không thể kiểm soát và điều tiết được thị trường…Bởi vậy mà thị trường BĐS của Việt Nam được các chuyên gia quốc tế đánh giá là thị trường không minh bạch.

Hiện nay cả thế giới khủng hoảng suy thoái kinh tế, một trong những yếu tố góp phần làm nên cuộc khủng khoảng là thị trường BĐS. Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc khủng hoảng này. TTBĐS Việt Nam bắt đầu khủng hoảng vào khoảng đầu năm 2008 và bây giờ bây giờ nó vẫn đang loay hoay tìm lối thoát.

Nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường và giúp nhà nước quản lí, điều tiết thị trường này để nó phát triển lành mạnh, ổn định hơn thì SGD BĐS ra đời là một điều tất yếu. Sự ra đời và phát triển của các SGD BĐS đã có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường BĐS. Bên cạnh những tính năng ưu việt mà nó mang lại thì nó cũng có những tồn tại rất đáng lo ngại. Bởi, sự quản lí của nhà nước đối với các SGD BĐS này còn chưa chặt chẽ dẫn đến những việc làm sai phạm, phản tác dụng của các SGD BĐS. Vì vậy vấn đề quản lí của nhà nước đối với các SGD BĐS là vấn đề rất quan quan trọng và cấp thiết. Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này nên tôi đã chọn đề tài: ”Sàn giao dịch bất động sản – một trong những nội dung quản lí của nhà nước đối với thị trường bất động sản”.

Continue reading

SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN – MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009
 

Thuộc nhóm chuyên nghành khoa học: XH2b

Họ và tên sinh viên: Văn Thị Anh

Giới tính: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp: Dân sự K32B

Năm thứ:  2/ Số năm đào tạo: 4 năm

Khoa: Pháp luật Dân sự

Người hướng dẫn: Ts. Trần Quang Huy

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bất động sản là một loại tài sản có vai trò vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia. Nó là thành phần sống của xã hội loài người. Sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường cũng đã kéo theo nền sản xuất hàng hoá bất động sản phát triển. Loại hàng hoá này được đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường, từ đó hình thành nên thị trường bất động sản. Sự ra đời và phát triển của thị trường bất động sản đã có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên do BĐS là loại hàng hoá có giá trị lớn và đặc tính TTBĐS là không hoàn hảo nên đã dẫn đến hiện trạng là: các giao dịch trên thị trường phần lớn là các giao dịch phi chính thức, hiện tượng đầu cơ trốn lậu thuế tạo ra những cơn sốt ảo gây tác hại to lớn cho nền kinh tế và sự quản lí yếu kém của các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước chưa có những biện pháp quản lí TTBĐS hiệu quả nên không thể kiểm soát và điều tiết được thị trường…Bởi vậy mà thị trường BĐS của Việt Nam được các chuyên gia quốc tế đánh giá là thị trường không minh bạch.

Hiện nay cả thế giới khủng hoảng suy thoái kinh tế, một trong những yếu tố góp phần làm nên cuộc khủng khoảng là thị trường BĐS. Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc khủng hoảng này. TTBĐS Việt Nam bắt đầu khủng hoảng vào khoảng đầu năm 2008 và bây giờ bây giờ nó vẫn đang loay hoay tìm lối thoát.

Nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường và giúp nhà nước quản lí, điều tiết thị trường này để nó phát triển lành mạnh, ổn định hơn thì SGD BĐS ra đời là một điều tất yếu. Sự ra đời và phát triển của các SGD BĐS đã có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường BĐS. Bên cạnh những tính năng ưu việt mà nó mang lại thì nó cũng có những tồn tại rất đáng lo ngại. Bởi, sự quản lí của nhà nước đối với các SGD BĐS này còn chưa chặt chẽ dẫn đến những việc làm sai phạm, phản tác dụng của các SGD BĐS. Vì vậy vấn đề quản lí của nhà nước đối với các SGD BĐS là vấn đề rất quan quan trọng và cấp thiết. Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này nên tôi đã chọn đề tài: ”Sàn giao dịch bất động sản – một trong những nội dung quản lí của nhà nước đối với thị trường bất động sản”.

Continue reading

ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ VẤN ĐỀ MINH BẠCH HÓA THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN QUANG HƯƠNG TRÀ – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

1. Dẫn đề

  Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp trên thị trường bất động sản tại Hoa Kỳ làm suy thoái nền kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới đã chứng tỏ những ảnh hưởng rất lớn từ thị trường bất động sản đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Điều này cho thấy rằng, quản lý hiệu quả đối với thị trường này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm chủ thể tham gia trên thị trường trong sự hài hoà lợi ích của Nhà nước luôn là một đòi hỏi mang tính thường trực đối với các nhà hoạch định chính sách.

Để đạt được mục tiêu này, một hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô tác động và điều tiết các hoạt động trên thị trường bất động sản sẽ phải được sử dụng, trong đó công khai thông tin nhằm lành mạnh hoá các giao dịch được xem là vấn đề cốt lõi. Tuy nhiên, không phải ở đâu và vào bất kỳ thời điểm nào cũng có thể dễ dàng tìm ra những lời giải thoả đáng cho bài toán minh bạch hoá thị trường bất động sản. 

Tại Việt Nam, chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản năm 2006 đứng cuối bảng xếp hạng 56 nước trong vùng lãnh thổ Châu Á – Thái Bình Dương theo xếp hạng của Tập đoàn Jones Lang LaSalle, một tập đoàn hàng đầu thế giới về quản lý tiền tệ và dịch vụ bất động sản. Đánh giá về chỉ số này, nhiều chuyên gia bất động sản cho rằng, xếp hạng của Jones Lang LaSalle là hoàn toàn có cơ sở. Bởi lẽ, cả 5 tiêu chí đánh giá, xếp loại mức độ minh bạch của thị trường bất động sản bao gồm: các chỉ số hoạt động đầu tư, các thông tin cơ bản về thị trường bất động sản, sự công khai về thông tin tài chính và quản trị của các tổ chức, công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, các yếu tố pháp luật và quy định, tiêu chuẩn đạo đức và tính chuyên nghiệp; Việt Nam đều không đáp ứng được. Thực tế này đòi hỏi nhiều hơn sự bứt phá trong chính sách và pháp luật của Việt Nam trong việc xây dựng một thị trường bất động sản lành mạnh, có sức thúc đẩy mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 02/2010/TT-BTC NGÀY 11 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN BỔ SUNG THÔNG TƯ SỐ 84/2008/TT-BTC NGÀY 30/9/2008 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 100/2008/NĐ-CP NGÀY 8/9/208 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH 12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 và văn bản hướng dẫn thi hành;
Căn cứ Luật quản lý thuế số 78/2006/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành;
Căn cứ Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 3045/VPCP-KTTH ngày 11/6/2009 và công văn số 8308/VPCP – KTTH ngày 23/11/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân;

Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính, như sau:

Điều 1. Bổ sung điểm 2.4 vào khoản 2, mục II, phần A như sau:

“2.4. Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế:

2.4.1. Không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công một số khoản mà cán bộ công chức, cán bộ chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang được chi trả hoặc đơn vị chi trả thanh toán hộ các cá nhân trên theo chế độ quy định của nhà nước. Cụ thể như sau:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 153/CT-TNCN NGÀY 13 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA CỤC THUẾ TPHCM VỀ NƠI NỘP HỒ SƠ QUYẾT TOÁN VÀ HOÀN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CÓ THU NHẬP TỪ TIỀN LƯƠNG – TIỀN CÔNG, TỪ KINH DOANH

Kính gửi:

– Các Phòng thuộc Cục;
– Các Chi cục Thuế quận, huyện.

Thực hiện mục tiêu của ngành Thuế Thành phố trong năm 2010 “Chung tay cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý thuế”. Để tránh gây phiền hà cho người nộp thuế khi thực hiện việc quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009. Căn cứ Nghị định, các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và tình hình thực tế tại địa bàn Thành phố, Cục Thuế tạm thời hướng dẫn nơi nộp hồ sơ quyết toán và hoàn thuế thu nhập cá nhân năm 2009 đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh như sau:

I. Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2009:

1. Đối với cá nhân cư trú là người nước ngoài: Thống nhất nơi nộp hồ sơ tại Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Đối với cá nhân cư trú là người Việt Nam:

2.1 Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương- tiền công:

Đối với cá nhân làm việc tại các Lãnh sự quán, Tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện, các cơ quan hành chính sự nghiệp, các đoàn thể cấp thành phố, các doanh nghiệp do Cục Thuế quản lý chỉ có một loại thu nhập từ tiền lương, tiền công thì nơi nộp hồ sơ quyết toán là Cục Thuế thành phố.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 12/QĐ-UBND NGÀY 6 THÁNG 1 NĂM 2010 VỀ ỦY QUYỀN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 16 tháng 9 năm 2009;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày 31 tháng 12 năm 2004 của Liên Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất;
Căn cứ Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số 9294/TTr-TNMT-TTĐK ngày 22 tháng 12 năm 2009 và ý kiến của Sở Tư pháp tại Công văn số 3853/STP-VB ngày 17 tháng 12 năm 2009,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài và đóng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 148/CT-TNCN NGÀY 12 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA CỤC THUẾ TPHCM VỀ NƠI ĐĂNG KÝ PHƯƠNG PHÁP NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN THEO THUẾ SUẤT 20% ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

Kính gửi:

– Các Phòng thuộc Cục;
– Các Chi cục Thuế quận, huyện.

Hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 700.000 tài khoản cá nhân đăng ký giao dịch tại các công ty chứng khoán để mua bán các cổ phiếu niêm yết. Để tạo thuận lợi cho các cá nhân là nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán trong việc thực hiện đăng ký phương pháp nộp thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất 20%. Căn cứ Nghị định, các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNCN và tình hình thực tế, Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh hướng dẫn nơi nộp hồ sơ đăng ký phương pháp nộp thuế đối với cá nhân kinh doanh chứng khoán như sau:

1. Cá nhân là người nước ngoài: Nơi nộp hồ sơ đăng ký thuế để được cấp mã số thuế (nếu chưa có MST) và tờ khai đăng ký phương pháp nộp thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất 20% mẫu 15/ĐK-TNCN là Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh.

2. Cá nhân là người Việt Nam cư trú tại TP.Hồ Chí Minh: Nơi nộp hồ sơ đăng ký thuế (nếu chưa có MST) và tờ khai đăng ký phương pháp nộp thuế TNCN theo thuế suất 20% mẫu 15/ĐK-TNCN là Chi cục Thuế nơi cá nhân cư trú.

3. Cá nhân là người Việt Nam cư trú tại các tỉnh, thành phố khác:

Cá nhân có giao dịch chứng khoán tại các Công ty chứng khoán, các sàn giao dịch chứng khoán, các trung tâm giao dịch chứng khoán của Thành phố Hồ Chí Minh mà các đơn vị này do Chi cục Thuế quản lý thì cá nhân nộp hồ sơ đăng ký thuế (nếu chưa có MST) và tờ khai đăng ký mẫu 15/ĐK-TNCN cho Chi cục Thuế đó.

Continue reading

MỨC LÃI SUẤT PHẢI TRẢ DO NỢ QUÁ HẠN CHƯA HỢP LÝ

PHẠM THÁI

Pháp luật dân sự quy định, bên có nghĩa vụ trả tiền mà chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Biện pháp này một mặt bảo đảm giá trị cũng như khả năng sinh lợi của đồng tiền cho bên có quyền; mặt khác, cũng là một hình thức phạt để hạn chế bên có nghĩa vụ cố tình dây dưa, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn bất cập nên không phát huy tác dụng.

Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự, phải tuân thủ nguyên tắc: thiện chí, trung thực, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Do đó, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền. Để bảo đảm thực hiện trách nhiệm dân sự, tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Để cụ thể hoá quy định này, ngày 19.6.1997 Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản (Thông tư 01). Theo hướng dẫn của Thông tư 01, đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì ngoài việc bên có nghĩa vụ phải chịu tiền lãi quá hạn từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ, đến khi xét xử sơ thẩm còn phải chịu lãi cả từ thời điểm bên có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải trả. Trước đây, theo cơ chế điều hành lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), ngoài việc quy định lãi suất tái cấp vốn, mức trần lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước còn quy định cả lãi suất nợ quá hạn. Căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định, khi xét xử và thi hành án, các Toà án và Cơ quan Thi hành án Dân sự buộc bên có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn cho bên có quyền.

Continue reading

TRẢ LƯƠNG GIÁO SƯ NHƯ THẾ NÀO?

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Bây giờ mà đặt vấn đề làm thế nào để giáo sư đại học đủ sống, thì có vẻ hơi kỳ cục. Phải thừa nhận rằng dù chưa sánh được với đồng nghiệp ở các nước giàu có như Mỹ, Nhật hay châu Âu, cuộc sống hiện nay của giáo sư đại học trong trường hợp điển hình ở Việt Nam không đến nỗi nào, nếu không muốn nói là khấm khá, so với bản thân nhiều năm trước cũng như so với các tầng lớp khác trong xã hội. Lương cơ bản đúng là chưa cao, nhưng giáo sư đại học có vô vàn những thứ thu nhập ngoài lương cho phép giải quyết các vấn đề của cuộc sống vật chất, đồng thời có dư để tích luỹ.

Hẳn có nhiều ý kiến đề nghị nâng lương (cơ bản) cho giáo sư đại học, một phần lớn lý do, vì e ngại về tính hợp pháp, ổn định, bền vững, của các nguồn thu nhập ngoài lương ấy. Nói cách khác, người ta mong muốn thấy giáo sư sống được một cách đàng hoàng bằng các công việc gắn với thiên chức xã hội, nghề nghiệp của nhà giáo đồng thời là nhà khoa học, tức là những công việc phù hợp với chuyên môn và được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ giảng đường, phòng thí nghiệm,…

Thực ra, chuyện giáo sư đại học làm việc cho các nơi khác ngoài trường đại học của mình ở đâu cũng có. Ở các nước có hệ thống quản lý thu nhập cá nhân tốt, thì chỉ cần trích nộp thuế theo đúng các quy định của luật thuế, các khoản thu nhập ngoài lương của giáo sư trở nên chính đáng và người có thu nhập hoàn toàn yên tâm. Ở Việt Nam, việc kiểm soát thu nhập còn chưa chặt chẽ, nhưng đang ngày một tốt hơn. Đến một lúc nào đó, tất cả các khoản thu nhập của công dân Việt Nam, trên nguyên tắc, đều phải chịu thuế; giáo sư đại học cũng chịu sự chi phối của nguyên tắc đó.

Điểm khác biệt giữa giáo sư nước ngoài và giáo sư Việt Nam về phương diện thu nhập, suy cho cùng, liên quan đến cách thức hay phương thức tạo ra các loại thu nhập. Ở các nước phát triển, dù công việc có thu nhập được thực hiện ở trường hay ở bên ngoài, giáo sư sử dụng năng lực chuyên môn của mình là chính. Chẳng hạn, ngoài việc giảng dạy và nghiên cứu, giáo sư luật còn có thể làm luật sư; giáo sư kinh tế có thể tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô hoặc vi mô; giáo sư tin học có thể tham gia thiết kế phần mềm cho các công ty;… Giáo sư Việt Nam, trong không ít trường hợp, phải chấp nhận (hoặc tìm cách) làm những việc ngoài chuyên môn để cải thiện nguồn thu nhập. Nói khác đi, giáo sư ở các xã hội phát triển có thể kiếm tiền bằng con đường thẳng, chính thống; còn giáo sư ở Việt Nam muốn có nhiều tiền, thì phải đi theo những ngóc ngách, ngã rẽ…

Continue reading

NGƯỜI BAO NHIÊU TUỔI LÀ TRẺ EM?

NGUYỄN HUỲNH HUYỆN

Trong hệ thống pháp luật hiện hành có nhiều quy định về tuổi trẻ em. Tuy nhiên, có một số quy định không thống nhất, thậm chí cùng một tuổi nhưng ở văn bản này gọi là trẻ em, ở luật khác đã thành… người lớn, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Theo điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Các luật và văn bản hướng dẫn khác phải quy định thống nhất với Luật này để thực thi thuận lợi. Tuy nhiên, thực tế nhiều quy định về trẻ em vênh nhau, gây khó khăn trong việc vận dụng. Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17.3.2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Thông tư số 15/2008/TTLT-BTC-BYT ngày 5.2.2008 Liên bộ Tài chính- Y tế hướng dẫn thực hiện khám bệånh, chữa bệnh, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khám bệånh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập quy định: trẻ em dưới sáu tuổi khi khám bệånh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập phải xuất trình thẻ khám bệnh, chữa bệnh; trường hợp chưa được cấp thẻ thì phải xuất trình giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh hay giấy chứng nhận của UBND cấp xã nơi người giám hộ trẻ em cư trú (sau đây gọi chung là thẻ khám bệnh, chữa bệnh)… Tại điều 39, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải người  (HIV/AIDS) quy định, trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi nhiễm HIV mới được tiếp cận thuốc kháng HIV. Quy định này về trẻ em phù hợp với Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhưng so với các quy định khác thì chưa khớp. Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2005  không dùng thuật ngữ trẻ em mà dùng thuật ngữ người chưa thành niên. Theo đó, Điều 18, Bộ luật Dân sự quy định, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Đồng thời, Bộ luật còn quy định năng lực, hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi  khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo quy định của pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Như vậy, thuật ngữ người chưa thành niên và thuật ngữ trẻ em có điều chỉnh  những người chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự không?

Continue reading

GIAN LẬN BẢO HIỂM DƯỚI CÁI NHÌN CỦA NHÀ GIÁM SÁT BẢO HIỂM VÀ NGÀNH BẢO HIỂM

MINH TUẤN (Lược dịch theo World Insurance tháng 6/2007)

Năm 2006, Hiệp hội quốc tế các Nhà giám sát bảo hiểm (IAIS) đã xuất bản Tài liệu Hướng dẫn việc ngăn chặn, phát hiện và khắc phục gian lận trong bảo hiểm. Để cải thiện tài liệu dự thảo này, người ta đã soạn bản câu hỏi điều tra rồi gửi cho các thành viên của IAIS, các Quan sát viên và các thành viên của Hiệp hội quốc tế các Cơ quan chống gian lận bảo hiểm (IAIFA)*. Bản câu hỏi điều tra đã bổ sung vào tài liệu dự thảo các chỉ báo gian lận và biện pháp chống gian lận và quan trọng hơn cả là chứng thực những phát hiện ban đầu của việc nghiên cứu. Phần trích dẫn dưới đây từ báo cáo đó sẽ cho biết kết quả của cuộc điều tra.

Các nhà giám sát bảo hiểm cần có quan điểm rõ ràng về lý do tại sao ngành bảo hiểm phải quản lý rủi ro gian lận. Chỉ khi đó họ mới có thể biện minh cho sự quan tâm của mình tới vấn đề này trong các hoạt động giám sát.

Cũng thú vị để biết lý do tại sao ngành bảo hiểm muốn quản lý rủi ro này: liệu điều này chỉ vì đó là yêu cầu giám sát; liệu đó là vì chi phí do gian lận (số tiền bồi thường cho những khiếu nại gian lận) hay có thể vì rủi ro uy tín hay lý do đạo đức?

Đối với gian lận của chủ hợp đồng bảo hiểm và gian lận bồi thường, chi phí trực tiếp do gian lận là lý do quan trọng nhất để quản lý rủi ro gian lận. Đối với gian lận của người trung gian (môi giới bảo hiểm hoặc đại lý bảo hiểm ND), chi phí trực tiếp và rủi ro uy tín có tầm quan trọng như nhau.

Đối với gian lận nội bộ, rủi ro uy tín là lý do quan trọng nhất. Điều này có thể vì gian lận nội bộ (hoặc gián tiếp liên quan đến người bảo hiểm) có ảnh hưởng lớn tới uy tín hơn gian lận từ bên ngoài. Có thể chấp nhận được sự giải thích là người dân không muốn đưa tiền của họ (phí bảo hiểm) cho các tổ chức phạm tội gian lận và họ cho là kẻ gian lận đó ăn cắp tiền của họ.

Continue reading

BỐI CẢNH HỢP ĐỒNG

THS. TRẦN THANH TÙNG – THS. CAO THỊ HÀ GIANG

Nếu hợp đồng là một bức tranh thì bối cảnh chính là tờ giấy vẽ tranh. Bức tranh sẽ như thế nào nếu các bên ký kết chưa biết được tờ giấy của mình to hay nhỏ, vuông hay tròn?

Câu hỏi này có thể khiến một số người giật mình vì không nhiều người nghĩ đến bối cảnh khi soạn hợp đồng.

Hợp đồng cần bối cảnh

Hợp đồng là công cụ pháp lý không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh. Một khi được ký kết, hợp đồng chính là “luật” của các bên tham gia. Như những văn bản khác, hợp đồng thể hiện một hoàn cảnh cụ thể với những bên cụ thể, những mong muốn cụ thể.

Sẽ không có một hợp đồng mẫu phù hợp với mọi hoàn cảnh và mọi đối tượng. Bối cảnh khác nhau thì hợp đồng sẽ khác nhau, bối cảnh thay đổi thì hợp đồng cần phải thay đổi theo. Vậy bối cảnh hợp đồng là gì và ảnh hưởng như thế nào đến giá trị pháp lý của hợp đồng?

Bối cảnh hợp đồng ghi nhận những sự kiện, hoàn cảnh làm cơ sở cho các bên ký kết, như tư cách, chức năng của các bên, địa vị kinh tế, cơ sở pháp lý, kết quả mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng, sơ lược nội dung giao dịch…

Những sự kiện trong phần bối cảnh là những thông tin tiền đề cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng. Trong một hợp đồng cụ thể, bối cảnh thường được nêu ngay trong phần “căn cứ”, “dẫn nhập” hoặc “recital”, “whereas” trong các hợp đồng thương mại quốc tế.

Phải nhìn nhận rằng phần bối cảnh hợp đồng hiện còn khá xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI HÀNH LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2008

XUÂN HOA

1. Nặng lời với dân bị kỷ luật

Luật Cán bộ, công chức (CB-CC) có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Nếu chiếu theo những quy định của luật này, thì làm một người CB-CC sẽ không hề đơn giản. Bởi nếu lỡ quên mà quen thói hách dịch, cửa quyền với dân sẽ bị kỷ luật, hoặc dù hoàn thành nhiệm vụ nhưng năng lực kém thì vẫn sẽ bị bố trí công tác khác…

“Mạnh tay” với cán bộ, công chức kém đạo đức, văn hóa

Nếu như trước đây, vấn đề đạo đức và văn hóa giao tiếp của CB-CC chủ yếu được quy định dựa trên quy chế của cơ quan, đơn vị, thì với Luật CB-CC nhằm thực hiện chủ trương xây dựng và quản lý đội ngũ công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ vấn đề đạo đức và văn hóa giao tiếp đã được đưa thẳng vào luật (Điều 15, 16,17 Luật CB-CC). Ví dụ như với nhân dân, theo Luật CB-CC phải gần gũi, có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc và tuyệt đối không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ. Trong tình trạng cán bộ công chức “đánh mất nụ cười” khi tiếp dân như hiện nay thì những quy định này có thể nói là tương đối cần thiết và sát thực.

Và tất nhiên, nếu CB-CC vi phạm các quy định này thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật. Có thể nói, Luật đã khá “mạnh tay” xử lý CB-CC kém đạo đức, văn hóa thông qua việc phân định lại hình thức kỷ luật áp dụng cho từng đối tượng Bên cạnh những hình thức xử lý kỷ luật cũ như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc, thì có bổ sung thêm hình thức giáng chức. Tuy nhiên, việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Mặt khác, luật có quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm (trước đây là 03 tháng). Với việc kéo dài thời hiệu như vậy, vấn đề xử lý kỷ luật CB-CC vi phạm sẽ được tiến hành triệt để và nghiêm minh hơn.

Năng lực công chức – yếu tố được xem trọng

Việc tuyển dụng CB-CC vào của nước ta hiện nay còn khá nhiều bất cập và kẽ hở vì nhiều lý do khách quan, chủ quan nên đã tạo ra ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của đội ngũ CB-CC. Có thế nói, không có một cơ quan, tổ chức nào hiện nay có may mắn sở hữu được một đội ngũ công chức vừa hồng lại vừa chuyên, và ở đâu đó vẫn còn những “con sâu làm rầu nồi canh”. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải đánh giá công chức và quan trọng hơn là kết quả đánh giá phải được phục vụ cho chính công cuộc cải tổ đội ngũ  công chức.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NHỮNG LỖ HỔNG QUÁ LỚN

MẠNH QUÂN

Lâu nay, các nhà quản lý vẫn hay nhấn mạnh rằng, cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không phải là quá trình tư nhân hoá. Nhưng với những gì diễn ra trên thực tế trong nhiều năm qua ở các DNNN đã được CPH, có không ít tiền của, giá trị tài sản của Nhà nước, bằng nhiều cách, đã được chuyển hoá không đúng quy định, không đúng giá trị thực, thành tài sản của doanh nghiệp tư nhân, cho các cá nhân…

Khối tiền của ấy sẽ một đi không trở lại nếu như các cơ quan kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ,… không có những đợt kiểm tra, kiểm toán để thu hồi. Những con số: 3.744 tỉ đồng, gần 150.000 USD, trên 1.380.000m2 đất, hơn 13.449.000 cổ phần…, phần lớn phải thu hồi, mà Thanh tra Chính phủ mới công bố sau cuộc tổng thanh tra chuyên đề về CPH khối DNNN trong năm 2009 (chưa nói đến các cuộc kiểm toán của ngành kiểm toán, các cuộc điều tra của ngành công an) là những khoản sai phạm chứng minh không gì rõ hơn cho quá trình biến tài sản nhà nước thành tài sản riêng nói trên.

DNNN thường không được đánh giá cao về hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Nhưng đến khi từng doanh nghiệp “công” được định giá để tiến hành CPH, nhà đầu tư sẽ phải nhìn các doanh nghiệp ấy một cách thèm thuồng. Bởi, đơn giản, nhiều DNNN thường sở hữu những khối tài sản giá trị khổng lồ: khoáng sản, đất đai, địa lợi… Và thất thoát nhiều nhất trong quá trình CPH chính là ở khâu định giá tài sản khối tài sản ấy.

Theo đánh giá chung của Thanh tra Chính phủ, khi xác định giá trị tài sản là hiện vật, các công ty tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp thường không thực hiện theo đúng nguyên tắc “giá thị trường”. Nhiều nơi viện lý do: thị trường không có tài sản tương đương nhưng thường, các đơn vị đó lại không thực hiện đầy đủ quá trình định giá. Người ta thường dùng số liệu kế toán cũ, lạc hậu làm căn cứ nên giá trị tài sản của doanh nghiệp đưa vào CPH thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế. Có tình trạng chung là các hội đồng xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cố ý hiểu khác đi quy định về cách xác định chất lượng tài sản trong thông tư hướng dẫn (của bộ Tài chính) để hạ thấp chất lượng nhiều tài sản xuống 20% kể cả nhà cửa, phương tiện giao thông, v.v. đang sử dụng. Thậm chí có nơi, như ở Cần Thơ, trung tâm Dịch vụ và thẩm định giá tài sản của nhà nước còn sử dụng cả cán bộ chưa hề qua đào tạo, không có chuyên môn thẩm định tham gia vào việc xác định giá trị doanh nghiệp.

Continue reading