SỬA NHỮNG BẤT CẬP TRONG XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG

LS. HÀ XUÂN BỘ

Những quy định về hình thức kỷ luật lao động và người bào chữa trong Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã tạo hành lang pháp lý, góp phần tích cực vào việc đảm bảo trật tự sản xuất kinh doanh, kỷ luật lao động trong DN và quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động (NLĐ).

Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn phát sinh một số bất cập, vướng mắc chưa được xem xét, sửa đổi tại dự thảo BLLĐ (sửa đổi) lần này.

Bất cập trong áp dụng hình thức kỷ luật sa thải

Trong các hình thức kỷ luật lao động được quy định trong BLLĐ, đáng chú ý là sa thải, bởi đây là hình thức kỷ luật nặng nhất. Nếu bị xử lý theo hình thức này, NLĐ sẽ mất việc làm, mất thu nhập, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bản thân và gia đình. Vì vậy, cần có quy định thật cụ thể, chi tiết và chặt chẽ.

Tại Điều 85 BLLĐ đã quy định một số trường hợp cụ thể được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải, gồm: NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh; NLĐ bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm; NLĐ tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm..

Chính quy định cụ thể này đã tạo thuận lợi cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong việc áp dụng và NLĐ khi bị kỷ luật sa thải cũng thấy thoả mãn, tránh được những tranh chấp dẫn đến khiếu nại, khởi kiện không đáng có.

Tuy nhiên, Điều 85 BLLĐ cũng quy định "có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của DN". Vậy hành vi khác theo quy định này là hành vi nào? Mức thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng? Đây là vấn đề còn có những ý kiến, những quan điểm khác nhau.

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP: KHÔNG CẦN LUẬT RIÊNG?

NGUYỄN QUANG

Mới đây, một nhóm nghiên cứu gồm các luật sư đến từ 3 văn phòng luật sư uy tín trong và ngoài nước đã trình bày bản báo cáo, theo đó cho rằng, không cần thiết phải xây dựng một văn bản pháp lý riêng cho hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Nhiều quy định, ít tác dụng

Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh… đã có một số quy định liên quan đến hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức, chứ chưa “chạm” tới nội dung của hoạt động M&A.

Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Phạm Mạnh Dũng cho biết, hiện nay, tại Việt Nam khái niệm M&A vẫn chưa được dịch và hiểu cho thống nhất. Ông Dũng nêu: Luật Đầu tư chỉ đưa ra các khái niệm “sáp nhập” và “mua lại công ty” mà không đưa ra nội hàm của các khái niệm này (Điều 25); còn Luật Doanh nghiệp sử dụng khái niệm “sáp nhập” (Điều 153), mà không sử dụng thuật ngữ “mua lại công ty”, tuy nhiên lại có thêm thuật ngữ “hợp nhất doanh nghiệp” (Điều 152).

Phía doanh nghiệp kêu bị thiệt do khung pháp lý cho M&A rời rạc, chưa có luật cụ thể. Một lãnh đạo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt cho rằng, hiện tại cơ quan quản lý Việt Nam mới chỉ “chấp nhận” khái niệm thâu tóm. Trong khi theo thông lệ quốc tế, có hai hình thức: sáp nhập (hai công ty gộp chung tài sản, quyền nghĩa vụ, chấm dứt sự tồn tại của mình và trở thành một công ty mới) và thâu tóm (một công ty mua lại toàn bộ hoặc phần lớn công ty kia, các công ty bị thâu tóm sẽ chấm dứt sự tồn tại). Ông Đặng Thế Đức, Luật sư điều hành Công ty Luật Indochina Cousel cho biết, khi muốn xúc tiến một thương vụ M&A, các doanh nghiệp luôn lúng túng với những vấn đề như các hình thức giao dịch, thẩm định và điều tra, đàm phán và soạn thảo hợp đồng…

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: LY HÔN VÌ CHỒNG KHÔNG ĐI MỸ

SONG NGUYỄN

Cấp giám đốc thẩm chỉ hủy phần phân chia tài sản chung nhưng tòa sơ thẩm lần hai giải quyết lại cả yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, được không?

Ngày 7-1- 2010 vừa qua đã là lần thứ 12 TAND TP.HCM quyết định hoãn xử vụ ly hôn giữa bà T. (Việt kiều Mỹ) với ông B. Vụ án ban đầu đã được tòa giải quyết khá nhanh vì hai bên đương sự thỏa thuận được với nhau nhưng rồi một bên đổi ý khiến quá trình tòa xử lại phát sinh nhiều rắc rối.

Thỏa thuận ban đầu

Theo hồ sơ, năm 1989, sau khi lấy ông B., bà T. sang Mỹ sống, mỗi năm chỉ về nước với chồng vài tháng. Năm 2000, bà sinh được một bé gái, có ý đưa chồng sang Mỹ định cư luôn nhưng ông B. không chịu, nói “phải 60 tuổi mới đi”. Thấy tình cảm sứt mẻ vì mỗi người một phương, tháng 11-2005, bà T. đâm đơn xin ly hôn, chia tài sản chung…

Theo bà T., vợ chồng bà có một căn nhà, một căn hộ chung cư, một xe hơi, một xe máy, ba chiếc tivi, tổng giá trị hơn 5,4 tỉ đồng. Bà yêu cầu được chia đôi mỗi người khoảng 2,2 tỉ đồng. Ngược lại, ông B. nói căn nhà là ông tự bỏ tiền ra mua và đứng tên, còn xe hơi đã bán nên yêu cầu tòa cho vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Tháng 3-2006, TAND TP.HCM đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên. Theo đó, bà T. được nuôi con, ông B. có trách nhiệm cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng đến khi con trưởng thành. Về tài sản chung, ông B. được quản lý, sử dụng hết nhưng phải trả cho bà T. 1,6 tỉ đồng…

Hủy phần chia tài sản chung

Sau đó, bà T. đã khiếu nại xin xem xét giám đốc thẩm vì cho rằng giá trị tài sản mà tòa sơ thẩm công nhận là quá thấp so với thực tế. Bà nói mình không sống tại Việt Nam nhiều nên không biết rõ giá trị thật của hai căn nhà. Cạnh đó, do ông B. dây dưa việc trả tiền và cấp dưỡng nuôi con nên bà yêu cầu tòa tăng mức cấp dưỡng nuôi con là 2.000 USD/tháng tính đến năm cháu bé 18 tuổi và trả một lần.

Continue reading

NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Giao dịch dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả giao dịch kinh doanh, thương mại,… là những hoạt động tất yếu và phổ biến trong đời sống kinh tế, xã hội. Đồng hành với nó là sự rủi ro, vi phạm, bội ước và tranh chấp. Giao dịch bảo đảm nhằm mục đích phòng ngừa và khắc phục những hạn chế đó. Tuy nhiên, pháp luật về giao dịch bảo đảm theo quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản liên quan đã không phát huy được vai trò cần thiết vì những điều rắc rối và bất cập.

Biện pháp bảo đảm không thể là hợp đồng bảo đảm

Có 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Trừ biện pháp bảo lãnh và tín chấp sẽ nói ở dưới đây, các biện pháp bảo đảm còn lại đều phải trên cơ sở có tài sản xác định. Nhưng không hiểu tại sao lại chỉ có cầm cố và thế chấp được gán thêm đuôi “tài sản” (cầm cố tài sản, thế chấp tài sản), còn đặt cọc, ký cược và ký quỹ thì lại không đi liền với chữ “tài sản”.

Bảo đảm nghĩa vụ dân sự chỉ là một biện pháp gắn liền với một hợp đồng, là một bộ phận, một điều kiện, điều khoản của hợp đồng chính. Tuy nhiên, các biện pháp bảo đảm được định nghĩa là giao dịch bảo đảm và đã “đàng hoàng” trở thành các “hợp đồng bảo đảm” trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Trước đó, đầu tiên là thuật ngữ “hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” xuất hiện trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Tiếp đó là một loạt thuật ngữ “hợp đồng cầm cố tài sản”, “hợp đồng thế chấp tài sản” và “hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản” xuất hiện trong Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Tại thời điểm này, ngoài thuật ngữ “hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, thì Bộ luật Dân sự năm 1995 vẫn chưa sử dụng các thuật ngữ “hợp đồng cầm cố”, “hợp đồng thế chấp” và “hợp đồng bảo lãnh”, mà chỉ quy định việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh “phải được lập thành văn bản, có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”. Sau đó toàn bộ những thuật ngữ “hợp đồng” này đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005.

Continue reading

XÁC MINH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

P.T

Xác minh trong hoạt động công chứng là một trong những vấn đề hết sức quan trọng đối với việc chứng nhận một văn bản công chứng đúng pháp luật. Văn bản công chứng có hiệu lực cao cần phải chấp hành đúng các quy định của pháp luật chung và đặc biệt là pháp luật chuyên ngành về công chứng.

Đó là các quy định về thủ tục, cách thức tiến hành việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứng viên theo đúng trình tự nhất định thông qua các bước thực hiện công chứng. Trong bài viết này xin trao đổi với bạn đọc về vấn đề xác minh trong hoạt động công chứng  để tham khảo.

Luật công chứng năm 2006 của Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 có qui định về vấn đề xác minh trong hoạt động công chứng tại một số Điều Luật như sau:

Tại khoản 4 Điều 35 Luật công chứng qui định về công chứng hợp đồng, giao dịch : "Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng giao dịch có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng".

Tại khoản 2 Điều 48 Luật công chứng qui định về công chứng di chúc: "Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép thì công chứng viên từ chối công chứng di chúc đó hoặc theo đề nghị của người lập di chúc tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định".

Continue reading

QUYỀN LỢI NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

XƯA VÀ NAY – Năm 1483, vua Lê Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, soạn định lại, xây dựng lại thành một bộ luật hoàn chỉnh. Đó là bộ "Quốc triều hình luật" hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức. Luật Hồng Đức nói riêng và pháp luật thời Lê nói chung mang đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc tình trạng xã hội nước ta thế kỷ XV và sau này.

Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong hai chương "Hộ hôn" và "Điền  sản". Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ – điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm. Có 53/722 điều luật (7%) bànvề hôn nhân – gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình. Người vợ, trên lý thuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng. Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ – chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ. Cũng giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc. Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà"(1). Điều 23 trong "Quốc triều hình luât" quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng. Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội. Trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện).

Điều 322 – "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị". Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1 năm – nếu vợ đã có con).

Continue reading

KHẮC PHỤC NHỮNG XUNG ĐỘT VÀ LỖ HỔNG TRONG PHÁP LUẬT

NGUYỄN MINH ĐỨC – Trung tâm Nghiên cứu Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm – Học viện Cảnh sát nhân dân

Gần đây, hệ thống pháp luật của nước ta đã và đang ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chế độ chính trị, chế độ kinh tế, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta những năm qua cho thấy còn tồn tại hiện tượng nhiều quy phạm pháp luật (QPPL) trong một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí phủ định lẫn nhau hoặc trái với Hiến pháp (khoa học pháp lý gọi là xung đột trong pháp luật).

Ngoài ra còn có những quan hệ xã hội đang tồn tại và phát triển mà không có QPPL điều chỉnh (gọi là lỗ hổng trong pháp luật). Để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chúng tôi đề cập một số vấn đề về phương diện lý luận và thực tiễn, cũng như kinh nghiệm của nước ngoài trong việc giải quyết các xung đột, lỗ hổng trong pháp luật ở nước ta hiện nay.

1. Vấn đề xung đột trong pháp luật

Có thể nói, trong lý luận và thực tiễn pháp luật chúng ta thường dùng các thuật ngữ và khái niệm như: mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu sót mà không gọi là xung đột và lỗ hổng trong pháp luật. Trên thực tế, khoa học pháp lý nước ta chưa có những nghiên cứu đầy đủ và chính xác về hai vấn đề này. Trong khi đó, vấn đề xung đột và lỗ hổng trong pháp luật đã được ghi nhận và nghiên cứu tương đối sâu trong khoa học pháp lý hiện đại của các nước trên thế giới.

Xung đột trong pháp luật là “sự bất đồng hoặc mâu thuẫn giữa các quy phạm, các VBQPPL riêng lẻ cùng điều chỉnh một hoặc nhiều quan hệ xã hội, mà sự mâu thuẫn đó được xuất hiện trong quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền”1.

Continue reading

NHỮNG CHIÊU NÉ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHI CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

TẠP CHÍ THUẾ – Trên thực tế, không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng của luật để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho ngân sách. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.

Là sắc thuế có tầm ảnh hưởng rộng, tác động đến hầu hết mọi tầng lớp dân cư, mọi sinh hoạt của đời sống, xã hội nên việc triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không tránh khỏi vướng mắc phát sinh trong năm đầu triển khai.

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có sự nắm bắt để sửa đổi, bổ sung chính sách kịp thời, nhưng riêng vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Tự khai là tài sản duy nhất

Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng;  công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở.

Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách.

Continue reading

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG – NHỮNG BẤT CẬP CẦN SỬA

LS. NGUYỄN BÌNH AN – Văn phòng Luật sư Ngọn Lửa Việt – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

Từ khi ban hành cho đến nay, Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã tạo một hành lang pháp lý quan trọng điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ hài hoà, ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội. Khi nền kinh tế và xã hội phát triển nhanh với điểm nhấn VN gia nhập WTO, BLLĐ đã lộ ra những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào quan hệ lao động.

Bất cập giữa luật và văn bản hướng dẫn

Theo tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề 2006, trường hợp người học nghề, tập nghề được DN tổ chức dạy nghề không thu phí học nghề, nếu đã ký HĐLĐ và cam kết làm việc cho DN theo một thời hạn nhất định mà không làm việc hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cam kết làm việc cho DN thì phải bồi thường chi phí dạy nghề (theo Điều 24, BLLĐ, Điều 37 Luật Dạy nghề 2006).
Tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề là vậy, nhưng Nghị định số 44/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành đã loại trừ một số trường hợp, đó là khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ đúng và đủ theo các quy định tại Điều 37 BLLĐ thì không phải bồi hoàn chi phí đào tạo.
Trong thực tế, để chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc của NLĐ VN, các DN có vốn đầu tư nước ngoài, bằng chi phí của mình, đã đưa NLĐ của mình sang các nước phát triển để đào tạo từ vài tháng đến vài năm với cam kết NLĐ phải làm việc cho DN trong khoảng thời gian nhất định. Nhiều NLĐ đã về nước, đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của DN nói riêng và kinh tế VN nói chung.

Tuy nhiên, một số NLĐ, căn cứ vào lỗ hổng của pháp luật lao động hiện hành, đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn của mình theo đúng quy định của pháp luật, không thực hiện cam kết làm việc cho DN trong một thời hạn nhất định như đã thỏa thuận.

Continue reading

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG PHILIPPINES VỚI THẨM QUYỀN VỀ CẤP PHÉP ĐĂNG KÝ KINH DOANH

NGUYỄN ĐỨC LAM

Chính quyền địa phương Philippines hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1987 và Bộ luật chính quyền địa phương 1991.Trong đó, chính quyền địa phương được thu thuế như thuế tài sản, thuế kinh doanh, phí, cấp phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp chưa hoạt động và cấp lại một số giấy tờ đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ở địa phương đó. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng có quyền chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, thương mại và đất ở, thực thi các quy định về môi trường, thực thi Bộ luật Xây dựng, xây dựng và thông qua các kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý việc sử dụng xe ba bánh; quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, nông nghiệp, dịch vụ công….

1. Cơ chế chung về cấp phép kinh doanh

Chính quyền địa phương Philippines hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1987 và Bộ luật chính quyền địa phương 1991. Theo Điều X của Hiến pháp, các địa phương được quyền tự chủ trong phạm vi của mình; Quốc hội phải ban hành một Bộ luật về chính quyền địa phương với nguyên tắc phân cấp; mỗi đơn vị địa phương có quyền tạo các nguồn thu, đánh thuế, phí theo hướng dẫn và giới hạn do Quốc hội đặt ra.

Dựa trên nguyên tắc phân quyền, Bộ luật chính quyền địa phương đã quy định một số thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương có quyền chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, thương mại và đất ở, thực thi các quy định về môi trường, thực thi Bộ luật Xây dựng, xây dựng và thông qua các kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý việc sử dụng xe ba bánh; quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, nông nghiệp, dịch vụ công.

Trong lĩnh vực kinh tế, chính quyền địa phương được thu thuế như thuế tài sản, thuế kinh doanh, phí, cấp phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp chưa hoạt động và cấp lại một số giấy tờ đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ở địa phương đó. Thuế kinh doanh thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương, một dạng công cụ quản lý và là nguồn thu lớn của chính quyền địa phương ở Philippines.

Continue reading

VÌ SAO TÒA ÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÒN ÁN QUÁ HẠN?

THANH TÙNG – HỒNG TÚ

“Xếp xó” hồ sơ khi gặp án khó, trả hồ sơ tới lui vì “nhát tay”… Không chỉ làm cơ quan tố tụng đau đầu, án quá hạn còn làm người dân mệt mỏi, khổ sở vì phải chờ đợi và không biết đến bao giờ quyền lợi của mình mới được giải quyết dứt điểm. Vì sao lại có thực trạng này?

I. Vẫn trình độ non và nhát tay

“Quyết” kéo rê chứ không xử

Cuối năm 2007, bà H. kiện ra TAND quận 12 (TP.HCM) đòi khoản nợ 1,2 tỉ đồng mà bên mua nhà còn thiếu. Được phân công giải quyết, thẩm phán nhiều lần hòa giải nhưng bị đơn chỉ một lần đến dự, lại không chịu ký vào biên bản.

Năm 2008, tòa mở phiên xử nhưng phải hoãn vì bị đơn vắng mặt. Sau đó, thẩm phán lại… tổ chức hòa giải. Dù bị đơn luôn vắng mặt nhưng thẩm phán vẫn “kiên trì” hòa giải trong khi theo luật, tòa hoàn toàn có quyền xử vắng mặt bị đơn nếu sau hai lần triệu tập hợp lệ mà bị đơn không đến.

Chịu hết siết, bà H. đã yêu cầu chánh án TAND quận 12 thay đổi thẩm phán vì cho rằng vị này không khách quan, cố tình kéo rê án có lợi cho phía bị đơn. Tháng 5-2009, chánh án TAND quận 12 đã ra quyết định không cho thẩm phán trên tiếp tục giải quyết vụ kiện. Đến nay, vụ kiện của bà H. cũng chưa được vị thẩm phán mới giải quyết xong.

Bắt dân chờ đến bao giờ?

Trường hợp của ông C. còn khổ sở hơn nhiều. Cuối năm 2002, ông khởi kiện người hàng xóm bít lối đi vào đất của mình và được TAND quận 12 thụ lý. Một tháng sau, tòa triệu tập các bên đương sự đến làm việc. Rồi bẵng đi hai năm, đến cuối năm 2004, tòa mới gọi ông C. đến bảo cung cấp chứng cứ. Xong, tòa lại nói ông về, chờ cơ quan chức năng đo vẽ, định giá đất.

Continue reading

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO

HOÀNG THẾ THỎA

Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái tiền tệ và trở thành vật ngang giá – thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế. Mặt khác, nhờ đặc tính lý hoá của nó, vàng được sử dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng. Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần, nhưng giá vàng tăng chậm và có thể coi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều NHTW và nhà đầu tư, nên giá vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh.

Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT của NHNN. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới biến động theo xu hướng ngày càng tăng và vàng trở thành hàng hóa đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng và hấp thụ một lượng tiền khổng lồ, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành CSTT. Ngoài hoạt động kinh doanh truyền thống, giá vàng tăng mạnh đã thúc đẩy sự hình thành các loại hình kinh doanh vàng với qui mô ngày càng lớn, điển hình là các sàn giao dịch vàng.

Về hoạt động của các sàn vàng, sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam là sàn giao dịch vàng của Ngân hàng Á Châu, được hình thành vào ngày 25/5/2007 với tên gọi ban đầu là Trung tâm giao dịch vàng Sài gòn và gồm 9 thành viên, là các NHTM và doanh nghiệp kinh doanh vàng quy mô lớn. Từ tháng 12/2007, sàn giao dịch này mở rộng sang các khách hàng cá nhân. Từ đó, khối lượng giao dịch trên sàn đã gia tăng đột biến.

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM – NHỮNG ĐIỂM NHẤN NĂM 2009 VÀ BÀI TOÁN NĂM 2010

TS. NGUYỄN THỊ KIM NHà – TS. NGUYỄN MINH PHONG

Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam từng bước được ổn định và tiếp tục phát triển với những điểm nhấn đáng chú ý sau:

I. BỐN ĐIỂM NHẤN TRONG NĂM 2009…

1.Ổn định kinh tế – xã hội chung được giữ vững, thị trường trong nước từng bước được mở rộng

Về tổng thể, năm 2009, Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu tổng quát đề ra là ngăn chặn suy giảm kinh tế, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối thu chi ngân sách nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… cơ bản được bảo đảm, vốn đầu tư toàn xã hội đạt cao, tới 42,6% GDP, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước bằng 100,2% dự toán; Việt Nam đã vượt qua thời kỳ lạm phát cao khá tốt, hiện VND đang có độ ổn định và tin cậy khá cao, lượng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán tăng trong phạm vi cho phép, nợ xấu và tiền mặt trong thực tế ngày càng giảm, dự trữ ngoại tệ đủ theo tiêu chuẩn quốc tế, mặt bằng giá cả bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội về cơ bản là không cao, thậm chí nhiều mặt hàng đang có sự giảm giá đáng kể; lạm phát được kiềm chế với tỷ lệ lạm phát khoảng 7%, tương đương với mức trung bình của nhiều năm trước đây; công tác an sinh xã hội được chú trọng đúng mức. Dư luận thế giới cũng đánh giá cao những nỗ lực vượt qua khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu mà chúng ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục thu được. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước ước đạt 5,2%, tuy thấp nhất trong vòng nhiều năm gần đây, Việt Nam là nước đứng đầu Asean về tốc độ tăng trưởng, đồng thời nằm trong nhóm trên 10 nước có tăng trưởng dương năm 2009… Đây là những nỗ lực tổng hợp rất đáng ghi nhận, đặc biệt trong bối cảnh tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đang đối diện với những thảm cảnh suy thoái và thất nghiệp tràn lan do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Continue reading

CÔNG CỤ ĐỊNH GIÁ VỐN ĐIỀU CHUYỂN TRONG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÓ/TÀI SẢN NỢ NGÂN HÀNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

NGUYỄN ANH TUẤN

1. Tổng quan về Định giá vốn điều chuyển và ứng dụng trong quản lý Tài sản có/Tài sản nợ trong ngân hàng thương mại

Giới thiệu về công cụ định giá vốn điều chuyển

Định giá vốn điều chuyển (FTP) được định nghĩa là một hệ thống các cơ chế kế toán – quản lý nhằm đo lường giá trị của chi phí cơ hội của các khoản vốn huy động được và sử dụng đầu tư. Nếu như trong một doanh nghiệp sản xuất, chi phí nguyên vật liệu là một phần của báo cáo lỗ, lãi kinh doanh thì trong ngân hàng, chi phí vốn tương tự như “chi phí của hàng đã bán – giá thành” (ít nhất thì cũng đúng với các sản phẩm tài sản có). Việc định giá vốn điều chuyển chính xác rất quan trọng trong việc xác định đúng khả năng sinh lợi của từng đơn vị kinh doanh, từng sản phẩm, theo từng khách hàng…Ngoài ra, kết quả phân tích FTP có thể giúp xác định bộ phận nào tạo ra nhiều lợi nhuận nhất trong báo cáo lỗ, lãi.

FTP có mối liên hệ mật thiết với phương pháp và thực tiễn quản lý Tài sản có/Tài sản nợ (TSC/TSN) của một ngân hàng thương mại. Việc hiểu rõ các bộ phận khác nhau trong bảng cân đối kế toán liên hệ qua lại như thế nào là rất cần thiết đối với quản trị ngân hàng thương mại. Một hệ thống FTP được xây dựng tốt sẽ giúp ngân hàng xác định được, định giá được và quản lý rủi ro lãi suất, đưa ra những động lực phù hợp cho các đơn vị kinh doanh, đồng thời nhận diện được tác động của chuyển giao rủi ro lãi suất trong bộ phận cân đối nguồn vốn.

Bằng việc chuyển giao rủi ro lãi suất sang bộ phận cấp vốn trong ngân hàng, hệ thống FTP giúp trưởng các bộ phận kinh doanh tập trung vào các quyết định kinh doanh cơ bản (bao gồm cả các quyết định về rủi ro tín dụng), chuyển giao việc quản lý đầu cơ lãi suất cho các nhà quản lý rủi ro lãi suất chuyên nghiệp. Tách bạch rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng là một trong những mục tiêu chủ yếu của quy trình FTP.

Continue reading

HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

CAO XUÂN THU VÂN

Đọc bài “Ai quản lý, điều hành Hội thẩm nhân dân?” của tác giả Phạm Dân, đăng trên báo ĐBND ngày 6.12.2009 và một số bài viết trước đó về chủ đề Hội thẩm nhân dân (HTND), tôi rất đồng cảm với những băn khoăn của các tác giả. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của pháp luật và thực tế hoạt động ở địa phương, tôi thấy cần trao đổi thêm một số vấn đề sau.

Theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND năm 2002 thì Chánh án Tòa án nơi HTND được bầu là người quản lý và điều hành HTND: HTND làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án và Chánh án có trách nhiệm quản lý HTND theo quy chế về tổ chức và hoạt động của HTND. Rõ ràng HTND do HĐND bầu chọn trên cơ sở giới thiệu của UBMTTQ cùng cấp, nhưng việc quản lý, điều hành HTND là thuộc trách nhiệm của Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm được bầu. Vì vậy, bảo đảm chất lượng cũng như thành phần của HTND là trách nhiệm của nhiều cơ quan, người có thẩm quyền và cá nhân từng vị Hội thẩm. Thực tiễn hoạt động ở địa phương cho thấy, ngay từ khâu chọn lựa, giới thiệu nhân sự, UBMTTQ tỉnh và huyện, thị xã đã kết hợåp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp và Thủ trưởng đơn vị (nơi có ứng củ viên được chọn giới thiệu) để lựa chọn, giới thiệu bầu HTND đúng tiêu chuẩn, thành phần, có thể tham gia tốt hoạt động xét xử của Tòa án. Và, việc bầu HTND phải có số dư để đại biểu HĐND chọn lựa.

Như vậy, ngay từ khi lựa chọn ứng cử viên, vai trò của Chánh án và Thủ trưởng đơn vị- nơi có ứng cử viên tham gia HTND đã thể hiện rất rõ, tránh được tình trạng UBMTTQ giới thiệu người tham gia HTND không đủ khả năng hoặc không có thời gian thực hiện nhiệm vụ của của HTND theo quy định. Phương châm của địa phương là không nhất thiết giới thiệu người có chức vụ của các cơ quan, ngành, lĩnh vực tham gia, mà quan trọng là lựa chọn người có khả năng và kiến thức pháp luật (Cử nhân hoặc Trung cấp, nhất là chuyên ngành Luật), có quỹ thời gian dành cho hoạt động Hội thẩm. Khi được HĐND bầu chọn thì nhiệm vụ của Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm được bầu phải chủ động thực hiện đầy đủ các chính sách đối với HTND (trang bị trang phục, công khai các quyền, nghĩa vụ, chế độ…) Chánh án không chỉ giao nhiệm vụ cho HTND trong hoạt động xét xử mà còn có trách nhiệm tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp lý, kỹ năng xét xử; xét thi đua đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc chính mình khen thưởng đối với HTND trong thực hiện nhiệm vụ xét xử; đề nghị HĐND miễm nhiệm, bãi nhiệm HTND theo quy định của pháp luật. Như vậy, trách nhiệm quản lý, điều hành HTND đã rõ. Tác giả  bài báo đề xuất lịch xét xử của Tòa án gửi cho Thường trực HĐND và Thường trực HĐND phân công HTND tham gia xét xử, theo dõi đánh giá hoạt động của HĐND… là thiếu cơ sở pháp lý và chưa phù hợp với thực tế hoạt động của HTND. Bởi, Thường trực HĐND không có quyền hạn và trách nhiệm này; hoạt động của HTND gắn liền với hoạt động xét xử và người có trách nhiệm đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội thẩm là Chánh án- thông qua việc xem xét tiêu chí, xem xét chất lượng của các bản án, quyết định mà Hội thẩm tham gia xét xử, giải quyết”.

Continue reading

TỪ MỘT QUI ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI CỦA TÒA ÁN

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế thì các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra ngày càng tăng, kéo theo đó là các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Khi một tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài được khởi kiện tại Tòa án của một quốc gia, vấn đề đầu tiên là Tòa án phải xác định xem mình có thẩm quyền thụ lý giải quyết hay không?

Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án trước hết được xác định theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trong trường hợp không có điều ước quốc tế điều chỉnh thì xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự; Chương XXXI, XXXV của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS). Đặc biệt, Khoản 2, Điều 410 của BLTTDS đã có những quy định chung về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

1. Quy định của pháp luật

Khoản 2, Điều 410 của BLTTDS đã liệt kê những trường hợp mà Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm các trường hợp:

– a) Bị đơn là cơ quan, tổ chức nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc bị đơn có cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Ở đây, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết quan hệ dân sự có cơ quan, tổ chức nước ngoài tham gia khi cơ quan, tổ chức nước ngoài là bị đơn và phải có trụ sở chính hoặc cơ quan quản lý tại Việt Nam. Quy định này là cần thiết trong điều kiện hiện nay khi có nhiều cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và phát sinh tranh chấp trong quá trình tham gia các quan hệ pháp luật tại Việt Nam. Theo Khoản 20, Điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp có quốc tịch Việt Nam khi thành lập, đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ở nước ngoài (có quốc tịch nước ngoài) nhưng có trụ sở chính hoặc cơ quan quản lý ở Việt Nam thì, các đối tác của doanh nghiệp vẫn có quyền khởi kiện doanh nghiệp tại Tòa án Việt Nam.

Continue reading

CHUYỂN GIAO CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH: CẦN QUAN TÂM CÁI KHÓ CỦA NGƯỜI DÂN

XUÂN PHÚC

Mới đây, Bộ Tư pháp có văn bản chỉ đạo các địa phương thực hiện chuyển giao công chứng hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng. Đây là bước đi phù hợp với lộ trình xã hội hóa hoạt động công chứng, theo quy định của Luật Công chứng, nhưng người dân sẽ khó khăn hơn và tình trạng quá tải ở các phòng công chứng trước đây có nguy cơ tái diễn.

Luật công chứng và Nghị định số 79 ngày 15.7.2007 đã phân biệt rõ hai loại hoạt động công chứng và chứng thực. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; Phòng Tư pháp cấp huyện, UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Áp lực chuyển giao

Theo quy định trên thì các loại việc sau: Chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; chứng nhận di chúc, văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản; hợp đồng vay tiền; hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản; hợp đồng mua bán nhà… (gọi chung là hợp đồng, giao dịch) đều phải thực hiện công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Luật Nhà ở, Luật Đất đai và Nghị định 181 (đang có hiệu lực), thì các loại hợp đồng, giao dịch trên người dân có thể chọn lựa việc công chứng tại các phòng công chứng hoặc chứng nhận tại UBND cấp xã. Và, trên thực tế đến nay ở nhiều địa phương, UBND cấp xã vẫn còn chứng nhận hợp đồng, giao dịch chưa chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Continue reading

ĐÔI ĐIỀU VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT THEO NGHĨA RỘNG

PHẠM THỊ DUYÊN THẢO – Khoa Luật, Đai học Quốc gia Hà Nội

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Ở một góc độ khác, hoạt động giải thích pháp luật có thể đưa ra cho văn bản một nghĩa xa hơn ý nghĩa ngôn ngữ của nó, một nghĩa mở rộng hoặc hạn chế hơn nghĩa mà ngôn ngữ của văn bản có thể mang.

1. Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là gì?

Giải thích pháp luật là cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý. Giải thích pháp luật là một cấu thành tất yếu của pháp luật, một bảo đảm đối với pháp luật. Việc tạo lập một cơ chế thích đáng cho giải thích pháp luật là mục tiêu và yêu cầu của mỗi hệ thống pháp luật, mỗi quốc gia.

Giải thích pháp luật trong thực tế được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Ở góc độ phổ biến, thông thường, góc độ hẹp hiện nay, giải thích pháp luật được xem là: “một hoạt động có lý trí đưa ra nghĩa của một văn bản pháp luật”1; là “hoạt động liên quan với việc xác định thông điệp có tính quy phạm mà nó xuất hiện từ văn bản”2; là “hoạt động để tìm ra nghĩa và hiểu rõ mục đích của tác giả văn bản pháp luật”3…(Từ đây, xin gọi giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp, nghĩa thông thường là giải thích pháp luật, để định rõ và phân biệt với giải thích pháp luật theo nghĩa rộng sẽ bàn đến sau).

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Đây là điều kiện cần và đủ đối với một hệ thống giải thích pháp luật hiện tại. Bản thân hoạt động giải thích được giới hạn bằng giới hạn của văn bản, và giới hạn của văn bản phải đặt trong giới hạn của ngôn ngữ. Một hoạt động là giải thích nếu nó đưa ra nghĩa trên văn bản phù hợp với một nghĩa (rõ ràng hoặc ẩn) trong ngôn ngữ (cộng đồng hoặc cá nhân) của văn bản. Giải thích pháp luật có tác dụng trong các giới hạn của ngôn ngữ. Nó truyền đạt cho văn bản một nghĩa mà ngôn ngữ có thể mang. Hoạt động giải thích sẽ kết thúc tại “điểm cuối” của ngôn ngữ4.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 01/2010/NĐ-CP NGÀY 4 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RIÊNG LẺ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần thành lập và hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức chào bán).

Công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài không được chào bán cổ phần trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Công ty cổ phần

2. Các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần, ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần.

Điều 3. Áp dụng pháp luật

Continue reading