CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI PHẦN MỀM MÁY TÍNH VIỆT NAM

BÙI MẠNH HẢI (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học và công nghệ và được chứng kiến thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ vào một nền kinh tế mang bản chất hoàn toàn mới – nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, kết cấu giá trị của sản phẩm, dịch vụ có sự thay đổi cơ bản – hàm lượng vật chất ngày càng giảm và ngược lại hàm lượng trí tuệ không ngừng tăng lên. Đối với một số sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng trí tuệ chiếm giá trị gần như tuyệt đối, trong số đó không thể không kể đến phần mềm máy tính. Có thể nói rằng không một ngành công nghiệp nào cần ít vốn đầu tư ban đầu về cơ sở vật chất nhưng mang lại giá trị tăng cao như ngành công nghiệp phần mềm.

Tuy nhiên, một trong những đặc điểm ưu việt của sản phẩm phần mềm – đặc điểm dễ sao chép, nhân bản – lại trở thành một nguyên nhân cơ bản là nạn sao chép trái phép làm cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp này nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Chính vì lẽ đó, để phát triển ngành công nghiệp này, bên cạnh những chính sách ưu đãi khác, cần phải có một cơ chế bảo hộ hữu hiệu chống lại việc sao chép trái phép phần mềm.

Sớm tiên đoán trước được vai trò của ngành công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và công nghiệp phần mềm nói riêng trong nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra chiến lược đồng bộ nhằm phát triển ngành công nghiệp này từ rất sớm và coi đó là một lĩnh vực mũi nhọn có tính chất đột phá cần được ưu tiên đầu tư, phát triển. Cùng với các chính sách, chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế quan, tài chính v.v. cho ngành công nghiệp phần mềm, việc hoàn thiện và kiện toàn hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và phần mềm máy tính nói riêng cũng được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm thoả đáng. Cụ thể là, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020 và những nhiệm vụ đến năm 2010 đã đề ra nhiệm vụ: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ …”; Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị (Khoá VIII) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã giao cho “Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc rà soát lại và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh việc ứng dụng và phát triển CNTT…”; và Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã bổ sung nhiệm vụ “Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ …”.

Continue reading

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH

LS. TS. NGUYỄN HOÀN THÀNH – Văn phòng luật sư Phạm và Liên Danh (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Hiện nay vấn đề bảo hộ bản quyền phần mềm máy tính đang được dư luận và giới chuyên môn quan tâm nhiều như là giải pháp đối với sự sống còn và phát triển công nghiệp sản xuất phần mêm máy tính của nước ta. Điều 747 khoản 1 Bộ luật dân sự CHXHCN Việt nam (BLDS) đã xác định phần mềm máy tính là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Điều 4 Nghị định số 76/CP ngày 29-12-1996 còn xác định “phần mềm máy tính gồm chương trình máy tính, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, cơ sở dữ liệu”. Tuy nhiên, khái niệm phần mềm máy tính rộng hơn, bao hàm các đối tượng, tài liệu không thuộc phần cứng liên kết với việc xây dựng và hoạt động của chương trình máy tính và có thể phân loại thành:

1. các tài liệu thiết kế bước đầu thí dụ như sơ đồ khối, biểu đồ, các đặc tả, mẫu biểu bảng …

2. các chương trình máy tính bao gồm mã nguồn và mã đối tượng

3. các phương tiện xây dựng phần mềm như các chương trình dịch, chương trình bổ trợ…

4. thông tin được lưu trữ trên máy tính thí dụ như các tác phẩm viết, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc… được lưu trữ ở dạng số

5. cơ sở dữ liệu

6. các thông tin đầu ra của máy tính như âm thanh, các file, các trang in …

7. hiển thị màn hình

8. các tài liệu hướng dẫn, tra cứu in trên giấy hay ở dạng số

9. các ngôn ngữ lập trình

Continue reading

BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM

TS.  NGUYỄN ĐÌNH HUY – Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP.HCM (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hửu trí tuệ, một loại quyền sở hửu đối với tài sản vô hình – thành quả của hoạt động sáng tạo của con người.Tài sản vô hình là tài sản không nhìn thấy được song trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những đối tượng của quyền tác giả rất dễ bị xâm phạm từ phía người sử dụng, gây ra những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến quyền lợi của người sáng tạo ra tác phẩm nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Xét từ góc độ lý luận, quan hệ quyền tác giả là một loại quan hệ pháp luật tuyệt đối, là quan hệ vật quyền mà đối tượng (khách thể) của nó là những tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật là món ăn tinh thần không thể thiếu được của cuộc sống con người, phản ánh mức độ phát triển của một đất nước.

Phần mềm máy tính (PMMT) là một trong số các loại hình tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được pháp luật bảo hộ (Điều 747 BLDS) là một đối tượng có những đặc thù riêng so với các đối tượng khác. PMMT là một hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó và các tập dữ liệu liên quan, chỉ dẫn cho máy tính hoặc hệ thống tin học biết phải làm gì để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra. PMMT có thể được cài đặt ngay trong máy tính hoặc được lưu trữ ở ngoài máy tính dưới các hình thức khác nhau như văn bản, đĩa từ, đĩa quang…. Mặc dù trong các Công ước quốc tế về quyền tác giả, PMMT không được coi là một loại hình tác phẩm được bảo hộ nhưng pháp luật tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều bảo hộ PMMT bằng chế định quyền tác giả. Riêng ở Hoa Kỳ, PMMT còn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế nếu thỏa mãn được các điều kiện như: tính mới, tính sáng tạo và tính hữu ích.

Luật pháp của các quốc gia không đồng nhất trong khái niệm về PMMT cũng như tồn
tại những quan điểm khác nhau về lĩnh vực bảo hộ đối với PMMT. Một luồng quan điểm cho rằng PMMT không có những đặc trưng của một tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật và một người bình thường nếu không biết sử dụng máy tính thì không thể khai thác được công dụng của PMMT. Đối tượng của quyền tác giả phải là những tác phẩm chứa đựng nội dung văn học, khoa học, nghệ thuật được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định mà con người có thể cảm nhận được bằng các cơ quan thính giác, thị giác, xúc giác… nghĩa là có thể nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy được….

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 63/NQ-CP NGÀY 23 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC QUỐC GIA

Vấn đề an ninh lương thực (bao gồm lương thực, thực phẩm) được Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, đã đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật là:

Sản lượng lương thực có hạt tăng bình quân 3,7%/năm trong giai đoạn 2001 – 2008, cao hơn khoảng 3 lần tốc độ gia tăng dân số trong cùng thời kỳ. Sản xuất lúa gạo đã đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu bình quân khoảng 4 – 5 triệu tấn gạo/năm. Sản lượng thực phẩm từ rau màu, quả, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản cũng gia tăng đáng kể.

Hệ thống lưu thông lương thực đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận lương thực. Thị trường nội địa chuyển dần sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Tình trạng suy dinh dưỡng của người dân được cải thiện. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đã giảm từ 25% vào năm 2005 đến năm 2008 còn 20%, đạt trước mục tiêu kế hoạch của năm 2010.

Tuy đạt được các thành tựu trên, an ninh lương thực nước ta vẫn còn hạn chế, yếu kém là: sản xuất lương thực, thực phẩm chưa thực sự bền vững; tổ chức sản xuất nông nghiệp chậm được đổi mới, cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất còn nhiều yếu kém; quản lý sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu còn bất cập; thu nhập của người sản xuất còn thấp.

An ninh lương thực là vấn đề trọng đại của đất nước trước mắt cũng như lâu dài, để khắc phục hạn chế yếu kém trên đây, Chính phủ ban hành Nghị quyết về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia với nội dung sau:

Continue reading

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ – KÊNH GIAO THƯƠNG QUỐC TẾ HIỆU QUẢ

MINH HOÀNG

Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT – TT), sự ra đời và phát triển của siêu xa lộ thông tin toàn cầu Internet, nhân loại được bổ sung thêm một nguồn tài nguyên mới – Tài nguyên thông tin. Và đã làm thay đổi mọi hoạt động của nền kinh tế thế giới. Thương mại điện tử (TMĐT) ra đời, với sự phát triển ngoạn mục xét cả về nội dung cũng như phạm vi, đối tượng và tính hiệu quả của nó, đã nhanh chóng khẳng định vị thế trong nền kinh tế quốc tế. Bên cạnh những lợi ích tiềm tàng, TMĐT đang đặt ra nhiều thách thức, nhất là các nước đang phát triển về vốn, về hạ tầng cơ sở, về pháp lý và … cả thói quen của thị trường, xã hội.

Ngày nay cuộc cách mạng CNTT và viễn thông (ICT) diễn ra một cách sôi động đang tác động trực tiếp và sâu sắc đến mọi hoạt động kinh tế xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Càng về những năm gần đây, tại các nước công nghiệp phát triển cũng như ở các nước NICs, xuất hiện ngày càng nhiều loại hình kinh doanh mới hoạt động trên các mạng truyền thông số và đặc biệt là trên mạng Internet, đó là các doanh nghiệp TMĐT. Sự xuất hiện của mô hình kinh doanh này không chỉ làm đa dạng hoá hoạt động doanh nghiệp của con người mà còn thực sự trở thành một cuộc cách mạng kinh tế – xã hội có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước đột phá mới về kinh tế của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba.

TMĐT sử dụng hệ thống mạng truyền thông số toàn cầu để tạo ra một thị trường điện tử cho tất cả các loại hình sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và hàng hoá; bao hàm tất cả các hoạt động cần thiết để hoàn tất một thương vụ, trong đó có đàm phán, trao đổi chứng từ, truy cập thông tin từ các dịch vụ trợ giúp (thuế, bảo hiểm, vận tải…) và ngân hàng, tất cả được thực hiện trong các điều kiện an toàn và bảo mật. Trong TMĐT, người ta sử dụng các phương tiện chủ yếu như máy điện thoại, fax, hệ thống thiết bị thanh toán điện tử, mạng nội bộ (Inttranet), mạng ngoại bộ (Extranet) và mạng toàn cầu (Internet).

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 10: BẦU CHỌN, NHIỆM KỲ VÀTÁI CỬ CỦA TỔNG THỐNG

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 24 và 25 tháng Bảy năm 1787

Cách thức bầu chọn và nhiệm kỳ của Tổng thống là một điểm quan trọng của bản Hiến pháp Mỹ. Mọi đại biểu đều lo lắng và mong muốn tìm ra được giải pháp tối ưu để chọn được một Tổng thống có tư cách đạo đức tốt, không phụ thuộc vào những mưu đồ của những phe phái khác, cũng như không phụ thuộc vào các thế lực nước ngoài, như sau này vẫn xảy ra ở nhiều quốc gia khác.

Cũng như hiện nay, việc bầu chọn nguyên thủ quốc gia của rất nhiều nước chịu sức ép của chính nước Mỹ, điều mà khi đó, các đại biểu đều lo ngại. Giải pháp bầu cử bởi những đại cử tri là sự thỏa hiệp và sáng kiến của Hội nghị nhằm vừa có những cử tri có chất lượng, vừa bầu chọn theo tỷ lệ của các tiểu bang, lại không làm cho Tổng thống phụ thuộc vào Quốc hội.

Đôi khi có cảm tưởng rằng các đại biểu đã quá cẩn thận khi tính đến mọi chuyện có thể xảy ra, nhưng thực tế lại cho thấy, sự lựa chọn của họ là rất sáng suốt và mọi thảo luận kỹ lưỡng này đều là nhằm giảm tối đa bất cứ nguy cơ nào có thể phát sinh.

Qui định "Tổng thống được các đại cử tri bầu chọn" được đưa ra xem xét.

Ngài HOUSTON: Đề xuất Tổng thống sẽ được "cơ quan lập pháp quốc gia" bổ nhiệm thay cho "việc các đại cử tri được các cơ quan lập pháp tiểu bang chọn lựa, để bầu Tổng thống". Ông cho rằng không thể tập hợp được những đại cử tri ở những vùng quá xa xôi của đất nước.

Ngài SPAIGHT: Ủng hộ đề xuất này.

Ngài GERRY: Phản đối đề xuất đó vì không thấy những khó khăn nào như Ngài Houston nói. Việc bầu chọn Tổng thống cần phải được coi là quan trọng đặc biệt vì chức vụ này kích động lòng khao khát mãnh liệt của nhiều người muốn đạt chức vụ này. Nếu quan điểm này được đồng ý, cần phải để Tổng thống không thể được tái cử để ông ta độc lập với cơ quan lập pháp, vì sự phụ thuộc sẽ ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến cách suy nghĩ và hành động của ông ta.

Continue reading