NHỮNG BẤT CẬP VỀ KHÁI NIỆM TÀI SẢN, PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản là công cụ của đời sống con người. Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệm đời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt. Về mặt pháp lý, nhận thức đúng về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý. Nhưng ngay Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam cũng đã diễn đạt khác nhiều so với quan niệm của thế giới về khái niệm tài sản và phân loại tài sản. Hệ quả là nhiều quy chế pháp lý liên quan tới tài sản đã không thỏa đáng về mặt khoa học và thực tiễn, gây ảnh hưởng không nhỏ tới giao lưu dân sự và phát triển kinh tế, thương mại.

1. Nhìn lại quan niệm về tài sản của Bộ luật Dân sự 2005

Điều 163, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 giải nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Có lẽ, đây là một giải nghĩa tài sản đặc biệt nhất đã từng được biết đến, bởi khó có thể tìm được một giải nghĩa tài sản tương tự ở trong các quyển từ điển thuật ngữ pháp luật và ở các BLDS của các nước trên thế giới, mặc dù con người không thể sống mà không có tài sản và pháp luật nói chung thì đã chú ý tới câu chuyện này từ nhiều thiên niên kỷ. Giải nghĩa này kế thừa có phát triển giải nghĩa tài sản tại Điều 172, BLDS năm 1995. Thế nhưng, chưa từng một lần những người “có trách nhiệm” giải thích cho giới luật học hiểu tính đúng đắn của những giải nghĩa như vậy. Tất nhiên quy định thì dễ, nhưng giải thích cho tính đúng đắn của quy định thì bao giờ cũng khó.

Gắn trực tiếp với Điều 163, có một số điều luật thể hiện rõ quan niệm của nhà làm luật về tài sản, như Điều 164, Điều 173, Điều 174, Điều 181… của BLDS 2005. Qua giải nghĩa khái niệm tài sản tại Điều 163 và các điều luật này của BLDS 2005, có thể rút ra mấy nhận xét sơ bộ như sau: thứ nhất, giải nghĩa được đưa ra theo kiểu liệt kê các loại tài sản, chứ không xác định phạm vi dứt khoát của tài sản; thứ hai, các quy định tiếp đó tại “Chương XI- Phân loại tài sản” (các Điều từ 174 đến 181) diễn giải cụ thể các loại tài sản được nêu ra trong giải nghĩa này không đề cập gì tới tiền và giấy tờ có giá; thứ ba, Điều 173, Điều 181 và toàn bộ các quy định của BLDS 2005 không diễn giải một cách có thể hiểu được phạm vi của quyền tài sản; thứ tư, quyền sở hữu được quy định dường như tách biệt với tài sản tại Điều 164 và Điều 174, BLDS 2005, có nghĩa là khái niệm tài sản dường như không bao trùm quyền sở hữu, trong khi vẫn quy định các vấn đề chuyển dịch tài sản gắn với quyền sở hữu tại rất nhiều các quy định.

Continue reading

TÀI SẢN ẢO VÀ PHƯƠNG ÁN “KHÔNG HÀNH ĐỘNG”

THỤY ANH

Khái niệm: mỗi người một cách

Theo ông Trần Thanh Hải, vụ trưởng Vụ Thương Mại Điện Tử, Bộ Thương Mại, tài sản ảo (TSA) là dữ liệu do các chương trình, phần mềm tạo ra (không phải là chính các chương trình phần mềm đó). Ông Hải đặc biệt chú ý tới những sản phẩm ảo trong các trò chơi trực tuyến (game online) và cho rằng chúng có những đặc tính của tài sản như: có thể chiếm hữu; là kết quả của sự đầu tư công sức, thời gian và tiền bạc; có thể định giá bằng tiền; có thể chuyển giao được theo thoả thuận. Vì vậy, cần xem TSA là một dạng tài sản và pháp luật cần công nhận quyền sở hữu TSA.

Ngược lại, bà Nguyễn Thị Thu Vân, chuyên viên Vụ Pháp Luật Dân Sự – Kinh Tế (PLDSKT) – Bộ Tư Pháp lại cho rằng TSA không phải là tài sản. Theo Điều 163 của Bộ Luật Dân Sự (BLDS), tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản. TSA không phải là tiền, không phải là giấy tờ có giá, không phải là vật có thực, cũng không phải là tài sản vô hình. Theo bà Vân, các tài sản vô hình như sáng chế, tên thương mại, biển hiệu, tên miền, địa chỉ email, khả năng thu hút khách hàng v.v… tồn tại trong thế giới thực, không hình ảnh (ý niệm), thuộc sở hữu người bán, người đưa tài sản vào giao dịch. Trong khi đó, TSA có hình ảnh, không tồn tại trong thế giới thực, và không thuộc sở hữu của người bán (game thủ). TSA cũng không phải là quyền tài sản. Trong 3 thuộc tính của quyền tài sản là quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng, thì người chơi không có quyền chiếm hữu (TSA nằm ở máy chủ của nhà cung cấp, máy chủ có thể bị hack, bị hỏng, người chơi có thể bị khóa nick nếu vi phạm), không có quyền định đoạt TSA (có thể bị khoá nick, tuổi thọ trò chơi không phụ thuộc người chơi).

Nếu không là tài sản thì TSA là gì? Bà Vân cho rằng, trong quan hệ giữa nhà cung cấp với game thủ, thì đó là một loại dịch vụ. Còn khi game thủ bán TSA là họ bán quyền sử dụng phần tính năng cao của trò chơi, và đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản ảo giữa 2 người chơi là quyền yêu cầu thực hiện một công việc (chuyển giao quyền sử dụng dịch vụ trò chơi). Tóm lại, bà Vân nhận xét khái niệm “tài sản” trong “tài sản ảo” không cùng nội hàm với khái niệm “tài sản” trong BLDS hiện hành.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 40/2009/TT-LĐTBXH NGÀY 3 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN CÁCH TÍNH SỐ LAO ĐỘNG SỬ DỤNG THƯỜNG XUYÊN THEO QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 108/2006/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 9 NĂM 2006 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐẦU TƯ

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư,
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn cách tính số lao động sử dụng thường xuyên như sau:

Điều 1. Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng

Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng của Thông tư là những đối tượng và phạm vi áp dụng tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

Điều 2. Cách tính số lao động sử dụng thường xuyên

1. Lao động sử dụng thường xuyên của doanh nghiệp được xác định là lao động đang làm việc theo bảng chấm công của doanh nghiệp, bao gồm số lao động giao kết hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên, kể cả số lao động đang nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; cán bộ quản lý doanh nghiệp và cán bộ chuyên trách của các tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội.

2. Số lao động sử dụng thường xuyên trong doanh nghiệp được tính là số lao động sử dụng thường xuyên bình quân năm, bình quân tháng.

3. Số lao động sử dụng thường xuyên bình quân tháng được tính theo công thức sau:

Presentation1

Trong đó:

li: là số lao động sử dụng thường xuyên bình quân của tháng i trong năm.

i: là tháng trong năm;

Continue reading

LỢI ÍCH NHÓM KHIẾN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LUẨN QUẨN TẦM NHÌN?

HỒ BẤT KHUẤT

Nguyên nhân khiến giáo dục đại học Việt Nam vẫn rất yếu kém có nhiều, nhưng một nguyên nhân cơ bản là đa số những người lãnh đạo các trường ĐH thiếu tầm nhìn xa, trông rộng, tư tưởng vụ lợi cá nhân và cục bộ chi phối các hoạt động GD.

Do vậy thực tế, trong những năm  qua, dù có tăng trưởng về con số sinh viên và các trường ĐH, nhưng chất lượng đào tạo lại giảm. Nhìn tổng thể, GDĐH Việt Nam đang bị "phá", chưa được "xây".

Ba yếu tố cần để có trường đại học tốt

Ba yếu tố cơ bản để hình thành nên một trường ĐH tốt được sắp xếp thứ tự như sau: 1- Con người (yếu tố có ý nghĩa quyết định), ở đây là đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý; 2- Cơ sở vật chất – kỹ thuật: Đất đai, giảng đường, ký túc xá, phòng thí nghiệm, máy móc, thiết bị, môi trường…; 3 – Nội dung chương trình giảng dạy.

Điều này rõ ràng và đơn giản vậy thôi, ấy thế mà rất nhiều người lãnh đạo các trường ĐH lại cho rằng, yếu tố quyết định là nội dung chương trình giảng dạy. Do quan niệm như vậy nên họ chỉ chăm chú đi tìm kiếm và bê nguyên các chương trình của nước ngoài về Việt Nam mà không quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ giảng viên và xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường.

Chương trình hay nhưng con người dở thì làm sao mà "tiêu hóa" được? Rồi không có cơ sở vật chất tối thiểu thì làm sao mà truyền đạt tới sinh viên được. Ví dụ, bây giờ ĐH Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov chuyển giao toàn bộ chương trình Vật lý cho ĐHQG Hà Nội; thử hỏi giảng viên của ta có đủ trình độ để giảng dạy hay không? Làm thí nghiệm ở đâu? …

Continue reading