NHỮNG TẬP TỤC ĐẶC BIỆT TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI GIẺ TRIÊNG

DƯƠNG THỦY

Người Giẻ Triêng là một dân tộc thiểu số sống tập trung ở phía Bắc tỉnh Kon Tum. Tộc người này cư trú chủ yếu ở vùng núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế tự túc, tự cấp là chủ yếu. Vì vậy người Giẻ Triêng vẫn giữ được những nét văn hoá hết sức độc đáo trong đó có các nghi lễ trong hôn nhân.

Trong hôn nhân người Giẻ Triêng cấm kết hôn với người cùng dòng họ nhưng ý thức lấy vợ lấy chồng lại rất sớm. Trước đây, tuổi kết hôn của tộc người này từ 15 – 16 tuổi. Hôn nhân chủ yếu do bố mẹ “đặt đâu con ngồi đấy” và vẫn yêu cầu “môn đăng hậu đối”. Đôi trai gái khi yêu nhau, nếu được bố mẹ đồng ý thì hai gia đình chuẩn bị lễ cưới. Lễ cưới phải giữ bí mật với người ngoài. Theo phong tục thì lễ đính hôn được tổ chức bất ngờ bao nhiêu thì đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc bấy nhiêu. Tuy nhiên, hiện nay lớp trẻ có phần chủ động hơn trong hôn nhân của mình.

Trong hôn nhân của người Giẻ Triêng có hai tập tục hết sức độc đáo đó là: Bó củi hứa hôn và trao vòng cầu hôn.

Ngoài các tiêu chuẩn phải biết đan chiếu, dệt vải, các cô gái còn phải chuẩn bị cho mình các bó củi hứa hôn. Đây là việc làm rất quan trọng mà các bà mẹ thường dạy con gái.

Trước đây quy định là 100 bó, mỗi bó phải một người vác nặng thì cô gái mới bắt được chồng. Đây là loại củi dài khoảng 80cm, thẳng đẹp, cháy phải đượm. Khi chặt cây các cô phải dùng dao sắc để chặt . Điều này chứng tỏ cô gái có sức khoẻ và khéo léo. Để có đủ số củi quy định các cô gái phải chuẩn bị củi trong khoảng từ hai đến ba năm. Ngày nay, củi được chẻ từ các cây gỗ to và bó thành từng bó, xếp lại trông rất đẹp mắt. Trong trường hợp không chuẩn bị kịp thì có thể nhờ các bạn gái trong làng giúp đỡ.

Continue reading

TÌM KIẾM MÔ HÌNH MỚI VỀ TOÀN CẦU HÓA, PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

GS. G.F.MCLEAN – Chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu Triết học và Giá trị, Trường Đại học Công giáo Hoa Kỳ

Trong quá trình luận giải nhằm “Tìm kiếm mô hình mới về toàn cầu hoá”, tác giả đã nhận ra và khẳng định rằng, châu Á – Thái Bình Dương hiện đang đóng một vai trò cốt yếu; rằng, ở phương Đông, cảm nhận về tổng thể rất sống động, rất đặc trưng và đó là một đóng góp quan trọng của khu vực này. Từ những phân tích lý luận, cả ở phương Đông và phương Tây, tác giả bài viết đã xác định những đặc điểm cơ bản của mô hình mới trong thời đại toàn cầu hoá, bao gồm: 1/ Nó không chỉ liên quan tới tính khách quan và quan hệ đối ngoại, mà là đặc điểm bên trong về tính chủ quan của con người; 2/ Nó là một tổng thể; 3/ Nó được đánh dấu bởi cảm nhận về sự hài hoà của phương Đông và 4/ Đó là mối quan tâm vô thượng mà nhờ vậy, mỗi dân tộc và nền văn hoá đều nỗ lực hướng tới một sự thống nhất.

Trong bước đi đầu tiên của chúng ta nhằm tìm kiếm một mô hình mới, tôi muốn khám phá độ hội tụ của hai sự thay đổi: một là, bổ sung sựđánh giá tổng thể bên cạnh việc tập trung vào từng phần; hai là, làm phong phú thêm sự khách quan bên ngoài bằng tính chủ quan bên trong. Liệu những truyền thống văn hóa châu Á – Thái Bình Dương có đóng góp gì vào việc này hay không? Nếu có thì đóng góp đó liệu có quan trọng đối với sự phát triển của một mô hình mới, cần thiết cho nhân loại sống trong một thời đại toàn cầu?

VẤN ĐỀ: MỘT THẾ GIỚI RẠN NỨT

Nếu thực sự thế giới là một tổng thể duy nhất mà mỗi phần của nó đều cân bằng với phần còn lại, thì vì sao nó lại bị xem như một khối rạn nứt và chia rẽ?

Tại Aten, thời cổ đại, việc hướng dẫn hành vi con người hiển nhiên là cần thiết. Lối nói hoa mỹ của các nhà ngụy biện cùng với chính sách mị dân kèm theo rõ ràng chưa đủ cho đời sống tại chính thể cộng hòa này; thực ra, bản thân Xôcrát cũng bị xử tử hình. Trước tình hình đó, Platôn đã đưa ra thuyết về một số ý tưởng bất biến để tham khảo: sự thống nhất và lòng tốt, sự thật và công bằng. Rất tiếc là, để có được những hướng dẫn vững chắc này đối với hành vi con người, ông đã tách chúng ra khỏi quá trình sống của con người, coi chúng như những đối tượng hay đồ vật tương phản và ở trên tầm chúng ta. Thậm chí cả thần thánh hay những vĩ nhân lớn nhất cũng cho những ý tưởng này là quá tầm và tương phản. Arixtốt đã chuyển trọng tâm trước mắt tới các vật thể và đồ vật hữu hình, rõ ràng và có thể cảm nhận được bằng các giác quan(1). Kết quả là đã có một định hướng khách quan ở phương Tây ưu tiên quan hệ với các đối tượng bên ngoài, còn thế giới bên trong của tinh thần chỉ xuất hiện một cách gián tiếp và khó khăn. Tuy vậy, hệ thống thứ bậc vẫn có chỗ dành cho Đấng Tối cao cai trị thế giới và đời sống con người.

Continue reading

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

PGS.TS. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu, khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thực hiện dân chủ là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Không có nhà nước pháp quyền thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi và bền vững. Dân chủ đóng vai trò cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển của nhà nước pháp quyền. Đối với nước ta, dân chủ hoá xã hội vừa là điều kiện tiên quyết để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa là biện pháp căn bản để đẩy nhanh sự phát triển của đất nước.

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi tất yếu, khách quan và phù hợp với xu thế phát triển lịch sử chung của xã hội loài người, bởi nhà nước pháp quyền là một giá trị chung của nhân loại trên con đường phát triển tiến bộ. Ở nước ta vẫn đang tồn tại quan niệm xem nhà nước pháp quyền như là một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, do đó nó là cái đã lỗi thời, không tiến bộ, trái ngược và không thích dụng với chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như thái độ không đúng trước đây về kinh tế thị trường, quan niệm sai trái như vậy về nhà nước pháp quyền đang gây cản trở đối với tiến trình phát triển xã hội nói chung, cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân nói riêng.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”(1). Như vậy, đối với nước ta hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách. Bởi vì nhà nước luôn là "một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất"; đồng thời, là vấn đề "rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ hệ thống chính trị"(2). Thậm chí, ở một góc độ nhất định, có thể nói, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân ở nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của chế độ, của Đảng Cộng sản. Điều này thể hiện rõ trong thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng, chống lại một trong bốn nguy cơ lớn của Đảng và chế độ suốt nhiều năm qua cũng như trong việc kiện toàn, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước. Có thể nói rằng, nếu chúng ta không tạo dựng được một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân thì trong tương lai, xã hội ta, dân tộc ta có thể sẽ phải chịu những hậu quả mà hiện nay khó lường được.

Continue reading