TRANH CHẤP SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG: CHIA TÀI SẢN THEO NGUỒN GỐC, CÔNG SỨC ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI TÀI SẢN LIÊN QUAN ĐẾN 20 TỜ VÉ SỐ ĐỘC ĐẮC!?

VĨNH SƠN – HỒNG TÚ

Theo luật sư bảo vệ cho chị A., số tiền trúng số trên có được trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nên phải xem là tài sản chung và phải được chia đều. Tòa nói công sức đóng góp kẻ nhiều người ít cũng chưa thuyết phục. Nếu nói chị A. không có hoặc có ít công sức đóng góp lại càng bất hợp lý…

Ngày 9-12-2009, TAND tỉnh An Giang hoãn phiên xử phúc thẩm vụ án không công nhận là vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị A. và anh Trần Văn T vì lấn cấn chuyện chia tài sản liên quan đến 20 tờ vé số độc đắc.

Năm 2008, anh T. và chị A. tổ chức đám cưới (chưa đăng ký kết hôn) và họ sống bằng nghề bán vé số dạo. Có tật hay ngủ quên nên anh T. thường “ôm” vé số ế. Có lần vợ anh phải cầm cả đôi bông tai ngày cưới lấy tiền trả nợ cho đại lý. Nghèo nhưng gia đình nhỏ của họ vẫn ấm cúng.

Ngày 25-3-2009, anh T. nhận của đại lý 200 tờ vé số (loại 5.000 đồng/tờ) đi bán nhưng đến chiều vẫn còn 40 tờ vé số ế. Thất thểu về nhà với 40 tờ vé số ế thì anh T. hay tin mình trúng số. Trong đó có 20 tờ trúng đặc biệt và 20 tờ trúng an ủi. Tổng giá trị giải thưởng anh T. nhận là hơn 2,5 tỉ đồng. Sau đó mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nhưng hai người vẫn sống chung. Sau khi xây mới căn nhà, còn lại 1,4 tỉ đồng anh T. mang gửi ngân hàng…

Ngày 27-8, TAND huyện Thoại Sơn không công nhận hai người là vợ chồng vì không đăng ký kết hôn. Số tiền 1,4 tỉ đồng do trúng số mà có là tài sản tồn tại trong thời gian chung sống với nhau. Tuy lý luận như vậy nhưng khi chia tài sản này thì tòa quyết: anh T. nhận 80% trên tổng giá trị giải thưởng (tương đương 1 tỉ 120 triệu đồng), còn chị A. chỉ được 280 triệu đồng. Lý do là anh T. trực tiếp đi bán vé số, bị ế nên trúng thưởng, còn chị A. ít có công sức đóng góp. Cho rằng mình bị tòa xử ép, chị A. kháng cáo.

Theo luật sư bảo vệ cho chị A., số tiền trúng số trên có được trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nên phải xem là tài sản chung và phải được chia đều. Tòa nói công sức đóng góp kẻ nhiều người ít cũng chưa thuyết phục. Nếu nói chị A. không có hoặc có ít công sức đóng góp lại càng bất hợp lý…

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 38/2009/TT-BXD NGÀY 8 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VIỆC QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ BIỆT THỰ TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ

Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Nghị định số 29/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị;
Bộ Xây dựng hướng dẫn việc quản lý sử dụng nhà biệt thự tại khu vực đô thị như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này điều chỉnh việc quản lý sử dụng đối với nhà biệt thự tại khu vực đô thị, kể cả những biệt thự đã được sửa chữa, cải tạo.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng bao gồm chủ sở hữu, người sử dụng nhà biệt thự; các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà biệt thự.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ QUA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, CÔNG ƯỚC CISG VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến là bồi thường thiệt hại (1). Luật Thương mại Việt Nam 1997 và 2005 đều dành điều khoản (Điều 229 Luật 1997 và Điều 320 Luật 2005) để quy định vấn đề này. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 cho chế tài bồi thường thiệt hại. Bộ nguyên tắc của Unidroit (2) về hợp đồng thương mại quốc tế (sau đây gọi tắt là Bộ nguyên tắc Unidroit) dành Mục 4 Chương 7 để thống nhất các vấn đề về bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, những quy định trên lại có những điểm khác biệt trong thuật ngữ, trong cách giải thích và trong thực tế áp dụng. Nằm trong nỗ lực hài hòa hóa pháp luật cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, bài viết sẽ phân tích những điểm còn khác biệt giữa những quy định trên.

1. Sự khác biệt và bổ trợ giải thích cho nhau giữa ba văn bản về chế tài bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng3. Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định về chế tài bồi thường thiệt hại tại Điều 302. Chế tài này sẽ được áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi luật điều chỉnh hợp đồng là luật Việt Nam.

“Điều 302: Bồi thường thiệt hại

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm4”.

Continue reading

TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ “XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU” suy nghĩ về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

THS. VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG – Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tiếp cận quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” từ hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa bỏ; hai là, nếu “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó là khi nào, bài viết chỉ ra rằng, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu”chỉ có thể xảy ra một cách nội tại và tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội. Cuối cùng, bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” với quan điểm của Đảng ta về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân.

1. Chúng ta đều biết rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Song, trong thực tế, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng, bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ”. Ngay nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta “cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà còn phải trải qua một quá trình xây dựng rất lâu dài”(1); do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu nói chung, sở hữu tư nhân nói riêng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng chỉ rõ, sở hữu và thành phần kinh tế là một trong những vấn đề chưa được làm rõ “ở tầm quan điểm và chủ trương lớn”, nên chúng ta “chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(2). Sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng đó còn có nguyên nhân do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành, nên mối quan hệ giữa thể chế xã hội chủ nghĩa và nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được làm rõ.

Continue reading

TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ “XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU” SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG – Viên Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Tiếp cận quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” từ hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa bỏ; hai là, nếu “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó là khi nào, bài viết chỉ ra rằng, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu”chỉ có thể xảy ra một cách nội tại và tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội. Cuối cùng, bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” với quan điểm của Đảng ta về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân.

1. Chúng ta đều biết rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Song, trong thực tế, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng, bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ”. Ngay nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta “cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà còn phải trải qua một quá trình xây dựng rất lâu dài”(1); do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu nói chung, sở hữu tư nhân nói riêng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng chỉ rõ, sở hữu và thành phần kinh tế là một trong những vấn đề chưa được làm rõ “ở tầm quan điểm và chủ trương lớn”, nên chúng ta “chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(2). Sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng đó còn có nguyên nhân do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành, nên mối quan hệ giữa thể chế xã hội chủ nghĩa và nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được làm rõ.

Continue reading

CÂU CHUYỆN SỞ HỮU NHÀ CHUNG CƯ

LS. TỐNG QUANG MINH

“Cha chung không ai khóc” là suy nghĩ tiêu cực cần khắc phục trong các nhà chung cư hiện nay. Nếu cư dân không nhận thức như vậy thì sẽ tạo điều kiện cho chủ đầu tư xây dựng công trình nhà ở cao tầng có thể lợi dụng suy nghĩ kiểu “cha chung” này để trục lợi khi công trình hoàn thành; thiệt hại gây ra từ mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng có thể gánh chịu bởi chính cư dân trong nhà cao tầng đó.

Tại sao ? Bởi vì phần sở hữu chung trong nhà chung cư có thể được khai thác như phần sở hữu riêng của chủ đầu tư, lợi ích thu vào không được hoàn trả cho cư dân; trong khi đó mắc mứu giữa chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng có thể làm kéo dài việc xúc tiến thủ tục hoàn thành công trình, dẫn đến sự chậm trễ cho cư dân nhận được giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ để làm phương tiện thực hiện các giao dịch dân sự khác cho gia đình mình.

Tại khoản 1 Điều 225 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về sở hữu chung trong nhà chung cư quy định: “Phần diện tích , trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư thuộc sở hữu chung của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không thể phân chia, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc có sự thỏa thuận của tất cả các chủ sở hữu.”

Phần sở hữu chung trong nhà chung cư đã được quy định rõ tại khoản 3 Điều 70 của Luật Nhà ở năm 2005 và khoản 6 Điều 4 của Quy chế Quản lý Sử dụng Nhà Chung cư được Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008, bao gồm: (a) Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 2 Điều này; (b) Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào; (c) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó.

Continue reading

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

NGUYỄN MINH HẢI – Ban Thực hiện chính sách BHXH Việt Nam

Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của Đảng và Nhà nước mới được ban hành, nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội ở nước ta. Mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội t́m kiếm được việc làm mới thích hợp và ổn định trong thời gian sớm nhất.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, để góp phần giải quyết t́nh trạng mất việc làm trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă có Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp. Trên cơ sở của Công ước này, nhiều nước đă ban hành chính sách về bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, nói chung ở các nước trên thế giới, trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp thường là chế độ ra đời muộn nhất bởi phạm vi thất nghiệp không thể dự báo được chính xác như các chế độ khác, hơn nữa việc quản lư bảo hiểm thất nghiệp là khó khăn do đó vấn đề xác định tài chính của bảo hiểm thất nghiệp luôn là trở ngại khi thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mặt khác, chúng ta cũng phải hiểu rằng chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ cực kỳ hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế với sự gia tăng của số người thất nghiệp nhưng lúc này đồng nghĩa với việc quỹ bảo hiểm thất nghiệp giảm đi nhanh chóng do bội chi và như vậy, tính bảo hiểm sẽ không c̣n nữa.

Một điểm cần lưu ư nữa là vấn đề quản lư. Nếu không quản lư được đối tượng đồng nghĩa với việc không thành công của chế độ bảo hiểm này bởi lẽ không biết người lao động đang hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp có việc lại lúc nào để ngừng hưởng trợ cấp. Cũng v́ vấn đề này mà năm 1990 Ấn Độ đă cho ra đời chế độ bảo hiểm thất nghiệp rồi đến năm 1992 lại phải ngừng lại v́ không quản lư được.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3621/BHXH-THU NGÀY 7 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM HƯỚNG DẪN TỈ LỆ ĐÓNG BHXH, BHYT, BHTN, MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG

Kính gửi:

Các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

– Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế;
– Căn cứ Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính Phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế;
– Căn cứ Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động và các thông tư hướng dẫn thực hiện số 35/2009/TT-BLĐTBXH, số 36/2009/TT-BLĐTBXH ngày 13/11/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
– Căn cứ Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam.
Sau khi trao đổi thống nhất với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội thành phố hướng dẫn một số quy định mới về BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc theo Luật BHXH, Luật BHYT áp dụng từ ngày 01/01/2010 như sau;

1/ Tỉ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN:

Từ ngày 01/01/2010 tỉ lệ đóng BHXH là 22%; BHYT là 4.5%; BHTN là 2%. Trong đó, người sử dụng lao động đóng 16% BHXH; 3% BHYT; 1% BHTN, người lao động đóng 6% BHXH; 1.5% BHYT; 1% BHTN.

2/ Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN:

– Người lao động thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

– Người lao động đóng BHXH, BHYT, BHTN theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động gồm mức lương chính hoặc tiền công và phụ cấp được ghi tại khoản 1 Điều 3 trong bản hợp đồng lao động.

Continue reading

KÝ KẾT HỢP ĐỒNG: LINH HOẠT ĐIỀU KHOẢN GIÁ

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng. Vì thế, các DN khi ký kết hợp đồng cần có những lưu ý thích đáng để tránh những tranh chấp phát sinh từ việc hiểu lầm hay không thống nhất về mức giá và cách thức xác định giá.

Tranh chấp giữa người mua Pháp – Cty Fauba Fidis GC Electronique và người bán Đức – Cty Fujitsu Mikroelectronik Gmbh. Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng và liên quan đến việc xác định giá của hàng hóa. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa Phúc thẩm Paris. Điều 14 của Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Người mua gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán. Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Người mua đã đồng ý về việc này. Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng. Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên. Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để xác định số lượng và giá cả”.

Continue reading

TẬP ĐOÀN: Ý NGHĨA KINH TẾ VÀ NGUY HIỂM TRƯỚC MẮT

VŨ QUANG VIỆT

bài viết này nhằm trình bày quan niệm và thực tế về công ty (trong đó có tập đoàn nếu nó là công ty có tư cách pháp nhân) và sự kiểm soát về mặt luật pháp mà các nước phát triển đang thực hiện.  Bài viết cũng bàn thêm về những điều cần tăng cường kiểm soát ở Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Tập đoàn là gì?

Trước tiên cần định nghĩa tập đoàn kinh tế là gì. Trong tiếng Anh có hai từ: conglomerate và holding company. Đồng thời phải kể thêm hai từ xuất phát từ châu Á: keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc.

Từ tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau. Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiện nay ở Việt Nam. Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại di động, và sau này vì một lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởng quyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân hàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT…

Điểm căn bản đưa đến việc thành lập tập đoàn là nó cho phép một công ty đang tạo ra nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa, hướng vào ngành sản xuất mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai.

Continue reading

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỂ LÀM GÌ?

NGUYÊN NGỌC

Vừa rồi tôi có được đọc một bài báo rất đứng đắn nói về sự lãng phí trong nghiên cứu khoa học đang phổ biến ở nước ta hiện nay. Phải nói đây không phải là bài đầu tiên nhắc đến chuyện này, và cũng như rất nhiều lần trước đây, tất cả những điều nêu ra ở bài báo này về tình trạng đáng buồn trong việc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học hiện nay ở ta đều đúng:

Nhiều đơn vị nghiên cứu khoa học chẳng hề coi việc nghiên cứu khoa học là công việc thường xuyên, khi có kinh phí thì rộ lên, khi không có hoặc ít kinh phí thì xẹp xuống; có kinh phí thì tiêu tốn một cách hình thức, hội họp tiếp khách, hội thảo liên miên, thưa gửi chào mừng đủ lệ bộ mà chẳng có mấy nội dung thiết thực; phân bổ đề tài nghiên cứu thì bình quân chủ nghĩa, anh được nhận đề tài thì tôi cũng phải được nhận đề tài, xem kinh phí nghiên cứu khoa học là để góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho cán bộ khoa học vốn đồng lương quá ít ỏi đề tài nghiên cứu thì trùng lặp, làm theo lối phong trào, ngoài xã hội đang có vấn đề thời sự gì, trên đang có chủ trương cụ thể gì thì đổ xô nhau vào đất một kiểu “cơ hội chủ nghĩa” chẳng mấy khi chịu khi đi vào những vấn đề cơ bản, có tính phát hiện và có ý nghĩa lâu dài; nghiệm thu thì hình thức, phản biện thì nể nang, để gọi là cho có, công trình nào cũng đưa đánh giá xuất sắc, nhưng rồi chẳng để làm gì cả. Đấy là chưa kể cơ quan, đoàn thể nào cũng đua nhau đã làm công trình nghiên cứu khoa học, rất nhiều khi có cần nghe qua tên đề tài đã thấy thật vớ vẩn… Rốt cuộc, lãng phí tiền của Nhà nước và nhân dân, mà khoa học chẳng được gì, xã hội cũng chẳng được gì.

Tình hình đáng buồn, phổ biến và kéo dài đó chắc ai ít nhiều có quan tâm đến lĩnh vực này đã biết, biết đã lâu rồi, đến mức… ngán ngẩm, gần như bất lực, “biết rồi, khổ lắm…”, chẳng buồn nói nữa.

Continue reading