SUY NGHĨ VỀ LƯƠNG HƯU

BÙI BÌNH THI

Hưu, có gốc Hán Việt nghĩa là nghỉ ngơi, nghĩa là thôi. Ngày xưa khi mà một đôi vợ chồng nọ chê nhau rồi đâm đơn ra toà xin ly hôn. Khi toà xử cho ly hôn, nhân viên toà án gọi cả vợ lẫn chồng đến và nói: “Mời ông và bà đến nhận mỗi người một tờ hưu thư. Người công quyền, người ta tránh nói là tờ chứng ly hôn. Vì muốn sao nghe nó vẫn làm đau lòng người. Còn bây giờ thì tha hồ thoải mái muốn gọi thế nào cũng được.

Bấy lâu nay trong bàn dân thiên hạ, người ta vẫn chia ra làm hai loại người: Người còn đương làm tại tất thảy các công sở từ phường, quận, tỉnh (Thành phố) và các công sở cấp nhà nước, thì gọi là những người đương nhiệm, hoặc đang tại chức, và lĩnh lương nơi công sở để nuôi sống bản thân và có chăng thì một ít đồng cho con cái, chi dùng vào nhu cầu hàng ngày của đời sống bản thân người đó thì gọi là lương. Còn loại người từ sáu mươi tuổi trở lên cho nam và năm mươi lăm tuổi cho nữ thì được về hưu. Nghĩa là thôi mọi công việc ở cơ quan mà bản thân người đó vẫn làm trong suốt ba mươi năm, bốn mươi năm, cả năm mươi năm đi. Về nhà nghỉ ngơi, ấy tiếng là nghỉ ngơi, nhưng chỉ là nghỉ là thôi mà lại không thể là ngơi được. Vì cái từ ngơi nó hàm ý như thảnh thơi, thong dong, nhàn nhã v.v.

Vâng? Sao mà lại như thế? Các cụ nói ngụ ý: “Có thực mới vực được đạo”. Đạo ở đây là cái đạo ngơi với các nghĩa như trên. Những như tôi, tôi cũng đang hưu rồi, nghỉ và thôi làm việc nhà nước rồi nhưng cũng chẳng thấy ngơi một tẹo nào, vì như hết thảy mọi viên chức quèn của nhà nước, đồng lương khi đi làm đã thiếu rồi, khi về còn eo hẹp hơn, sống một cuộc sống so súi, nói cho tợn, những năm tháng dằng dặc trong cơ chế thì đồng lương mà ai ai cũng thu nhận được chỉ có tính chất như trợ cấp, chứ chưa bao giờ là lương với đúng nghĩa của nó.

Continue reading

ĐỂ SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ TIẾP CẬN CHO NGƯỜI DÂN DỄ HƠN

NGUYỄN TIẾN HÙNG – Trưởng Bộ môn Bảo Hiểm – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. “Tính khó hiểu” hay “khó tiếp cận” của hợp đồng bảo hiểm nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng đối với người dân

1.1. Trên phương diện lý luận

1.1.1. Tính “Khó hiểu” – Hệ qủa của các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm nói chung

– Thứ nhất, tính may rủi (aléatoire/ aleatory) gắn liền với biến cố không chắc chắn. Chính vì vậy mà nhà bảo hiểm khi chấp bút phải đưa ra nhiều tình huống giả định (nếu thế này thì.., nếu thế kia thì…, ngoại trừ…. v..v…). Điều này làm cho câu văn sử dụng để diễn đạt luôn là câu phức, hơn nữa, nhà bảo hiểm miêu tả các trường hợp giả định ở mức độ khái quát cao làm người đọc phải cố gắng hình dung ra các trường hợp đó. Tất nhiên, vì trình độ rất khác nhau và lĩnh vực hoạt động rất khác nhau nên không phải ai nếu không nói là ít người có thể có trình độ, hiểu biết chuyên môn đầy đủ để hiểu tường tận một cách thống nhất với nhà bảo hiểm. Sự khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm, vì vậy, e rằng khó tránh khỏi;

– Thứ hai, tính gia nhập cho thấy hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu, mở sẵn và do nhà bảo hiểm chấp bút (và được Bộ Tài chính chấp nhận) chứ không phải hình thành từ việc đàm phán trực tiếp của hai bên như các hợp đồng mua bán khác. Điều này đòi hỏi người mua bảo hiểm phải đọc thật kỹ để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trước khi ký kết và trong khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Nhưng, ngay cả khi đọc kỹ, nếu không có sự giúp đỡ, tư vấn của người hoạt động chuyên ngành, chưa chắc người mua bảo hiểm có thể hiểu đúng và thống nhất với người chấp bút các điều khoản.

Continue reading

GIỚI THIỆU VỀ TÁI BẢO HIỂM

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA ĐƯỢC CẬP NHẬT

CHƯƠNG I

BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TÁI BẢO HIỂM

I. BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÁI BẢO HIỂM

1. Bản chất của tái bảo hiểm

Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế. Nó bao gồm các quá trình phân phối lại nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo của xã hội. Đặc trưng của nó là việc thành lập mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai phát sinh ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra.
Phân tích sâu hơn ta thấy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bản sau:

– Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viên tham gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm). Phí này được tính dựa trên quy luật thống kê (bao gồm thống kê tổn thất và mức độ trung bình của các tổn thất, thống kê các đơn vị rủi ro) và nguyên tắc cân đối (có nghĩa là tổng số phí thu phải bằng tổng số tiền chi trả bồi thường).

– Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phối quỹ cho những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và hay xảy ra.
Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiến hành việc lập, quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm. Do có đặc thù trên nên bảo hiểm có sự đóng góp nhất định vào việc đảm bảo tính liên tục, sự ổn định và hiệu quả của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội. Dựa theo các rủi ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quá trình tiến hành bảo hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thành một hệ thống độc lập của nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi là ngành kinh tế bảo hiểm). Một trong những loại hình đó là tái bảo hiểm.

Continue reading

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA

THS. HUỲNH THANH SINH – Trường Cán bộ TPHCM

Gia đình là một khái niệm mà các nhà xã hội học rất khó định nghĩa, tuy bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính toàn diện cho gia đình là rất khó. Tuy nhiên ta có thể định nghĩa nó trong một hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn ở những nước Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội, thì ngược lại ở các nước Châu Âu gia đình chỉ được xem như là một nhóm xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội thuộc một trong năm thiết chế cơ bản là: Nhà nước, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình.

Trong lịch sử, gia đình với quan hệ hôn nhân hình thành sau khi chế độ thị tộc tan rã do sự tác động của lực lượng sản xuất và các yếu tố xã hội khác. Từ đó đến nay, lịch sử xã hội loài người cả phương Đông lẫn phương Tây đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm, sự chuyển đổi của một vương triều, sự chuyển đổi hoặc giao thoa giữa các nền văn minh. Nhưng gia đình vẫn tồn tại và liên tục phát triển, nó khẳng định được giá trị bất biến như là một nền tảng xã hội, cơ sở tiệm tiến của xã hội qua mọi thời đại. Điều này, giúp chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn bản chất, chức năng của gia đình, nhằm phát huy giá trị của nó trong điều kiện hiện nay.

Khác với phương Tây, kết cấu gia đình Việt Nam là một thành phần rộng lớn bao gồm những người cùng huyết thống như cha mẹ, ông bà, thuộc hàng trên; con cái, cháu chắt thuộc hàng dưới; gia đình theo chế độ phụ hệ, người đàn ông đóng vai trò chủ đạo, có trách nhiệm chính trong việc gìn giữ trật tự, nề nếp gia phong. Có một khoảng thời gian dài, nó được coi là môi trường thu nhỏ nhằm vào mục đích giáo dục con cái từ lúc lọt lòng đến khi trưởng thành.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: TÍNH LÃI SUẤT “TRÊN TRỜI”

HOÀNG YẾN

Tòa phát hiện ngân hàng tính lãi “trên trời” làm khách hàng mắc nợ gần gấp đôi so với hợp đồng.

TAND quận Gò Vấp (TP.HCM) vừa xử sơ thẩm một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần T. với khách hàng L.Đ.H. Vụ án này đáng chú ý ở chỗ là nhờ tòa mà con nợ của ngân hàng đã được minh oan cho khoản nợ bị ngân hàng tính lên gần gấp đôi so với thực tế.

Rút tiền nhưng không thanh toán

Theo hồ sơ, tháng 2-2008, ông H. ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng T. Sau khi được cấp thẻ tín dụng (hạn mức 15 triệu đồng), ông H. đã rút gần 14,5 triệu đồng để tiêu xài.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng, hằng tháng ông H. có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ tối thiểu cho ngân hàng trước ngày đến hạn. Tháng 4-2008, ông H. thanh toán được khoảng 1,5 triệu đồng cho ngân hàng. Sau đó, ông không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, buộc ngân hàng phải nhiều lần gửi công văn, gọi điện thoại nhắc nhở.

Theo Ngân hàng T., việc ông H. không thực hiện việc thanh toán là đã vi phạm hợp đồng nên ngân hàng tạm thời chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông H. và tiến hành thu nợ. Tháng 7-2009, ngân hàng khởi kiện, yêu cầu tòa buộc ông H. phải trả ngay hơn 37 triệu đồng cả nợ lẫn lãi còn thiếu.

Về phần mình, ông H. thừa nhận đã sử dụng số tiền gần 14,5 triệu đồng và từ cuối tháng 3-2008 đến nay ông chưa thanh toán cho ngân hàng. Ông trình bày rằng do hoàn cảnh khó khăn, ông không có khả năng trả ngay một lần hơn 37 triệu đồng mà ngân hàng đòi nên đề nghị được trả góp mỗi tháng 2 triệu đồng cho đến khi hết nợ.

Continue reading

SINH VIÊN ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN – PHÙ HỢP HAY KHÔNG?

TRẦN NAM HÀ

Dùng khái niệm "đánh giá" là một yêu cầu quá cao đối với sinh viên. Vì muốn đánh giá một sự vật, hiện tượng gì đó thì cần phải có tiêu chí, nội dung, phương pháp đánh giá. Hiện nay tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy ở các cấp học còn mỗi nơi một khác.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đề ra 10 giải pháp đổi mới quản lý giáo dục đại học, trong đó giải pháp thứ 7 có ghi rõ "Xây dựng quy định về hoàn thiện việc đánh giá quản lý giáo dục đại học: Sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên. Giảng viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường. Các đại học, cao đẳng tham gia đánh giá chỉ đạo quản lý của Bộ GD và ĐT, Bộ chủ quản và UBND tỉnh, TP nơi trường đóng". Việc đánh giá sẽ được triển khai từ tháng 5/2010.

Đây là một chủ trương mới, thể hiện đời sống sinh hoạt dân chủ trong các trường ĐH, CĐ được quan tâm hơn trước, hướng tới mục đích góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, riêng phần sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên, người viết bài này xin tham góp như sau.

1. Không nên dùng khái niệm "đánh giá" như trò đánh giá thầy, sinh viên đánh giá giảng dạy của giảng viên vì có người còn cho rằng trò "đánh giá" thầy thế nào được, nhất là các thầy giáo già, các giáo sư, tiến sĩ đã có tiếng, có tên tuổi trong nước và trên thế giới.

Tôi cho rằng dùng khái niệm "đánh giá" là một yêu cầu quá cao đối với sinh viên. Vì muốn đánh giá một sự vật, hiện tượng gì đó thì cần phải có tiêu chí, nội dung, phương pháp đánh giá. Hiện nay tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy ở các cấp học còn mỗi nơi một khác. Thực tiễn cho thấy, đánh giá giờ dạy ở bậc học phổ thông của các thầy, cô ở tổ chuyên môn sau khi dự một tiết dạy, cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau với nhiều lí do chủ quan và khách quan. Điều đó, đã biến không ít giờ dạy chưa đạt yêu cầu thành giờ dạy khá, tốt và ngược lại.

Continue reading