NGUYÊN TẮC TỶ LỆ TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ LUẬT CẠNH TRANH – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG VÀO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Cách đây hơn 2000 năm, nhà Triết học Hy Lạp nổi tiếng thế giới Aristote đã có một câu bất hủ "Con người – nếu tách khỏi pháp luật sẽ trở thành loài động vật dã man nhất; nếu gắn với pháp luật sẽ trở thành loại động vật văn minh nhất". Tác giả xin phép bổ sung: mục đích của pháp luật – xét cho cùng, không phải là làm cho con người trở thành dã man mà chính là làm cho con người trở thành văn minh.

Nguyên tắc tỷ lệ được hiểu là việc "đi tìm sự kết hợp giữa phương tiện và mục đích đạt được"[1]. Theo quan điểm đã được thừa nhận rộng rãi tại Hoa Kỳ và các nước EU, trong nhà nước pháp quyền, cơ quan nhà nước chỉ áp dụng các biện pháp thật sự cần thiết để duy trì và tái lập trật tự công cộng. Nhà nước không nên và không cần làm quá những gì cần thiết để đạt được mục đích của mình, đặc biệt là trong quá trình ra quyết định. Ví dụ thực tiễn ở EU: trong chừng mực có thể, về mặt hình thức, Uỷ ban Châu Âu luôn ưu tiên chọn các phương pháp hành động ít mang tính ràng buộc nhất đối với các nước thành viên, ví dụ như ban hành các Chỉ thị (directive) nhiều hơn là Nghị định (règlement), vì Chỉ thị ít mang tính ràng buộc hơn Nghị định (vốn được áp dụng trực tiếp, không cần nội luật hóa). Về mặt nội dung, EU xác định tránh ban hành những quy phạm quá chi tiết, nên dành một khoảng không gian để cho các cơ quan thực thi pháp luật vận dụng sáng tạo pháp luật phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn cụ thể.

Có 3 nguyên tắc chi phối nguyên tắc tỷ lệ.

Một là quy phạm khả năng (rules of capability): hiểu một cách đơn giản thì quy phạm khả năng dùng để chỉ một biện pháp bất kỳ do nhà nước tiến hành phải có khả năng thực tế đạt được mục đích mong muốn. Muốn vậy, trước khi ra quyết định, nhà nước cần có đánh giá mang tính dự báo về những hệ quả có thể phát sinh theo hướng tích cực hay tiêu cực. Ngoài những hệ quả có thể dự báo được, cũng cần phải đánh giá cả những hệ quả khách quan khác không nhìn thấy trước được (đánh giá rủi ro), để từ đó có cơ sở cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định.

Continue reading

XỬ LÝ CÔNG NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

LS. ĐOÀN THỊ LAN – Đoàn Luật sư TPHCM

Vị trí của ngành ngân hàng được ví như bộ xương sống trong nền kinh tế, hoạt động ngân hàng với nhiều loại hình phục vụ, nhiều chức năng nhưng chủ chốt của hoạt động ngân hàng chỉ là một định chế tài chính trung gian, hiểu nôm na là huy động vốn từ nơi này và cho nơi khác vay dưới nhiều hình thức, chính vì vậy hoạt động vào dịp cuối năm của các ngân hàng, ngoài các nghiệp vụ khác, việc thu hồi nợ và xử lý các khoản vay quá hạn cũng là trọng tâm của các ngân hàng, bài viết này chỉ khoanh vùng trong phạm vi xử lý nợ quá hạn tại các ngân hàng với vài kinh nghiệm trong các vụ kiện đòi nợ tại ngân hàng nên xin chia sẻ chút ý kiến của cá nhân mình trong lãnh vực hoạt động này.

Muốn xử lý tốt công nợ tại ngân hàng cần phải để tâm các vấn đề sau:

Trước hết phải xem xét toàn bộ hồ sơ , phân loại hồ sơ theo các tiêu chí:

– Hồ sơ pháp lý có đầy đủ, đúng qui trình?

– Tài sản thế chấp cầm cố có công chứng?

Một bộ hồ sơ cho vay tại ngân hàng theo đúng qui trình thì rất nhiều giấy tờ, nhưng khi xảy ra vấn đề trong hoạt động của bên vay và chuyển qua bộ phận xử lý thì hồ sơ đó phải được xem xét thật chi tiết về tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay đó:

– Việc  thế chấp, cầm cố tài sản có hợp lệ không?

Chú ý đến loại tài sản thế chấp dưới hình thức bảo lãnh,

– Tình hình tài sản thế chấp , cầm cố đó hiện tại như thế nào?

Nếu thấy không ổn thì cần phải bổ sung hoặc thay thế tài sản khác.

Đặc biệt đối với những hồ sơ cầm cố hàng hóa phải xem lại hàng nhất là giá trị thực của loại hàng đó trên thị trường.., phải kiểm tra lại kho chứa hàng và tình hình bảo hiểm hàng nếu để tại kho của bên thứ 3.

Continue reading

HỆ THỐNG KIỂM TOÁN VIỆT NAM THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GS.TS. VƯƠNG ĐÌNH HUỆ – Tổng Kiểm toán Nhà nước

Hệ thống kiểm toán ở VN – một trong những công cụ quản lý kinh tế – tài chính hữu hiệu, sản phẩm của nền kinh tế thị trường, của hội nhập kinh tế quốc tế đã được hình thành và có những bước phát triển đáng ghi nhận. Hệ thống kiểm toán gồm 3 phân hệ cấu thành là Kiểm toán Nhà nước (KTNN), kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.

Các phân hệ có vị trí, vai trò và phạm vi hoạt động khác nhau, nhưng cùng thực hiện chức năng kiểm tra, kiểmsoát đối với các hoạt động kinh tế – tài chính, có sự tương đồng nhất định vềphương pháp chuyên môn nghiệp vụ. Hoạt động kiểm toán độc lập được hình thành từ năm 1991, KTNN từ năm 1994, kiểm toán nội bộ  từ năm 1997. Từ đó đến nay, các phân hệ kiểm toán đã dần khẳng định được vị trí, vai trò và có những đóng góp tích cực đối với quá trình quản lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực tài chính và tài sản trong xã hội; góp phần làm lành mạnh các quan hệ tài chính – tiền tệ; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường ở VN.

1. Những thành tựu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN

Có thể khẳng định những thành tựu chủ yếu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN như sau:

Một là, pháp luật về kiểm toán sớm hình thành (văn bản quy phạm pháp luật về KTNN và về kiểm toán độc lập được ban hành vào năm 1994, về kiểm toán nội bộ năm 1997), đã tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán. Đến nay, Nhà nước đã ban hành Luật KTNN, Nghị định về kiểm toán độc lập, quy định của Bộ Tài chính về quy chế kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho sự phát triển hệ thống kiểm toán ở VN. Bên cạnh đó, KTNN đã ban hành được hệ thống chuẩn mực KTNN và nhiều quy trình kiểm toán chuyên ngành áp dụng cho đối tượng kiểm toán cụ thể, Bộ Tài chính cũng đã ban hành 38 chuẩn mực kiểm toán để áp dụng trong hoạt động kiểm toán độc lập và kiểm soát chất lượng kiểm toán;

Continue reading