BÁO CÁO SỐ 133/BC-LĐTBXH NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ THỰC TRẠNG CUNG – CẦU LAO ĐỘNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, giai đoạn 2000 – 2006, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân tăng 7,8%/năm và riêng năm 2007 đạt 8,47% (cao nhất trong vòng 20 năm qua); năm 2008, do bị ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, GDP của Việt Nam tuy có giảm, nhưng vẫn đạt 6,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng (năm 2008, cơ cấu kinh tế tương ứng là: 22,10% – 39,73% – 38,17%).

Quan hệ thương mại quốc tế phát triển tốt, kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 22%, năm 2008 tăng 29,5%; mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn, chuyển dần từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xuất khẩu các mặt hàng chế tác (năm 2005: 50,4%, năm 2007: 52,4%); nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, năm 2008 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đưa vào Việt Nam đạt mức kỷ lục (64 tỉ USD), đã góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng GDP cao của Việt Nam.

Việc thực hiện hiệu quả các chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích sản xuất, kinh doanh trong nước đã thúc đẩy tăng nhanh số doanh nghiệp trong nước qua các năm (năm 2005: 112.950 doanh nghiệp, năm 2006: 131.318 doanh nghiệp, năm 2007: 155.771 doanh nghiệp, năm 2008: 201.106 doanh nghiệp). Cơ cấu doanh nghiệp thay đổi theo hướng giảm doanh nghiệp nhà nước (năm 2005: 3,62%, năm 2006: 2,82%, năm 2007: 2,2%, năm 2008: 1,7%).

Đặc biệt, sau 12 năm đàm phán, ngày 7/11/2006, tại phiên họp bất thường của Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã được kết nạp và là thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/01/2007. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, là kết quả của quá trình đổi mới, thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trở thành thành viên của WTO trong bối cảnh kinh tế toàn cầu liên tục biến động đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục quá trình đổi mới toàn diện, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trên thị trường quốc tế; đồng thời, cần tập trung giải quyết những vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài, vừa bức xúc trước mắt, nhất là vấn đề lao động – việc làm trong kinh tế thị trường, quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động.

Continue reading

GỠ VƯỚNG BỘ LUẬT DÂN SỰ: KHI NÀO HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU?

THANH LƯU – ÁI NHÂN

Nên dựa vào ý chí các bên khi lập hợp đồng thay vì quá chú trọng đến hình thức?

Ngày 18-12-2009, các chuyên gia pháp luật đã tiếp tục mổ xẻ những bất cập về chế định hợp đồng trong hội nghị tổng kết thi hành BLDS của Bộ Tư pháp.

Quá chú trọng đến hình thức

Theo PGS-TS Dương Đăng Huệ (Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự-kinh tế Bộ Tư pháp), các quy định hiện hành trong BLDS khiến cho việc tuyên hợp đồng vô hiệu trở nên rất dễ dàng. Điều này khiến quyền lợi của các bên không được đảm bảo và vô hiệu hóa nguyên tắc thỏa thuận của BLDS.

Cụ thể, Điều 401 BLDS quy định hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức nhưng lại thòng thêm một câu “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này khiến cho nhiều luật chuyên ngành mở rộng ra rất nhiều trường hợp bắt buộc hợp đồng phải làm bằng văn bản. Hướng sửa đổi dự kiến theo TS Huệ là chỉ quy định hạn chế một số loại hợp đồng dứt khoát phải làm bằng văn bản.

Cạnh đó, BLDS hiện hành cũng quy định vi phạm bất cứ điều cấm nào của pháp luật cũng bị tuyên vô hiệu, không phân biệt vi phạm đó là nghiêm trọng hay không. Theo TS Huệ, điều này hoàn toàn không cần thiết vì một số vi phạm có thể sử dụng chế tài hành chính hoặc bồi thường thiệt hại. Chỉ có những vi phạm nghiêm trọng dẫn đến phạm tội mới có thể bị vô hiệu.

Đồng tình, TS Đỗ Văn Đại (giảng viên Trường Đại học Luật TP.HCM) cho rằng những quy định của BLDS đang… ủng hộ sự bội ước. Ở nước ta, trong trường hợp những hợp đồng không công chứng theo quy định thì tòa án sẽ cho ba tháng để khắc phục. Nếu không khắc phục được thì tòa sẽ tuyên vô hiệu. Ngược lại, ở một số nước, nếu đã quy định bắt buộc mà anh (người bán) không công chứng thì tòa sẽ công nhận luôn vì anh đã thể hiện sự gian dối.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2728/BXD-TTr NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XỬ LÝ CĂN NHÀ SỐ 02 BÀ TRIỆU, PHƯỜNG 12, QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/CP NGÀY 5/7/1994 CỦA CHÍNH PHỦ

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 3148/SXD – QLN ngày 8/5/2009 và công văn số 5900/SXD – QLN ngày 6/8/2007 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh về việc đề nghị Bộ cho ý kiến về hướng xử lý đối với căn nhà số 02 Bà Triệu, phường 12, quận 5.

Căn cứ theo nội dung các công văn nói trên của Sở Xây dựng, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Ngày 24/11/2003 Sở Xây dựng đã ban hành Quyết định số 335/QĐ-XD-QLN về việc kiểm kê, quản lý căn nhà số 02 Bà Triệu và giải quyết cho hộ ông Toàn Hưng Trí (người sang nhượng nhà 02 Bà Triệu bằng giấy tay từ những người được uỷ quyền quản lý nhà và đã trực tiếp sử dụng nhà từ năm 2000) ký hợp đồng tạm thuê căn nhà này trong khi chờ Quốc hội ban hành Nghị quyết giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài xác lập trước ngày 1/7/1991.

Quyết định nói trên của Sở Xây dựng được ban hành trước ngày Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội có hiệu lực (ngày 1/7/2004) và ông Toàn Hưng Trí đã được ký hợp đồng thuê nhà 02 Bà Triệu với Nhà nước và sử dụng ổn định cho đến nay. Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 thì Nhà nước sẽ không xem xét lại việc quản lý trước đây đối với căn nhà số 02 Bà Triệu cũng như không thừa nhận việc đòi lại căn nhà này (nếu có).

Như vậy, căn nhà số 02 Bà Triệu thuộc diện nhà đất mà Nhà nước đã có văn bản quản lý và thực tế đã bố trí sử dụng, nên theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 thì Nhà nước phải hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với căn nhà này.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 110/2009/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là hành vi bạo lực gia đình và các hành vi khác do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

3. Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan; hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì bị xử phạt theo các quy định tại Nghị định này và các quy định khác có liên quan về xử phạt vi phạm hành chính.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 37/2009/TT-BTTTT NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG QUY ĐỊNH VỀ HỒ SƠ VÀ THỦ TỤC LIÊN QUAN ĐẾN CẤP PHÉP, ĐĂNG KÝ, CÔNG NHẬN CÁC TỔ CHỨC CUNG CẤP DỊCH VỤ CHỨNG THỰC CHỮ KÝ SỐ

BỘ TRƯỞNG BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;
Căn cứ Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Ứng dụng công nghệ thông tin,

QUY ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về hồ sơ, thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, bao gồm:

1. Cấp phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;

2. Tạm đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;

3. Cấp chứng thư số cho tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;

4. Đăng ký hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng;

5. Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số;

6. Công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài.

Continue reading