GIẢI PHÁP NÀO CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

PGS. TS. NGUYỄN THỊ MÙI – Trường Đào tạo & PTNNL VietinBank

1. Vài nét về thị trường chứng khoán Việt Nam

Năm 2009 sắp kết thúc, kinh tế các nước và Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, chưa ai có thể đưa ra chính xác rằng: lúc nào thì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ kết thúc và kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng trở lại như trước khi xảy ra khủng hoảng. Mặc dù nhiều Quốc gia vẫn chưa ra khủng hoảng, nhưng ở Việt Nam đà suy giảm đã được ngăn chặn và bắt đầu có sự phát triển. 18/25 chỉ tiêu đặt ra cho năm 2009 đạt và vượt; GDP của 11 tháng trên 5%(1); tăng trưởng tín dụng 36%, lạm phát vẫn trong giới hạn kiểm soát, bội chi ngân sách khoảng 6,9%, an sinh xã hội được đảm bảo.Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) mặc dù trồi sụt thất thường, nhưng vẫn có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng. Có thể điểm qua diễn biến của TTCK 11 tháng của năm(2).

 

Các chỉ tiêu thị trường

31/12/2008

30/11/2009

1.

Giá trị vốn hóa thị trường (tỷ đồng)

225.934 669.000
2.

Mức độ vốn hóa/GDP năm 2008(%)

18% 55%
3.

Số lượng cổ phiếu niêm yết

338 385
4.

Số lượng công ty chứng khoán

102 105
5.

Số lượng công ty quản lý quỹ

43 47
6.

Số lượng công ty đại chúng đã đăng ký

1.090 1.016
7

Số tài khoản mở tại CTCK

550.000 730.000
8.

Hệ số P/E

9-10 15.8

Continue reading

TRÌNH TỰ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH CỦA HỆ THỐNG TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở PHÁP

MẦU VIỆT THẮNG (Sưu tầm)

Cơ quan tài phán hành chính của Pháp – Hội đồng Nhà nước (HĐNN) ra đời với cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 (tiền thân là Hội đồng nhà Vua). Ngay sau khi cơ quan này được thành lập, một đạo luật mới được ban hành trong đó quy định toà án tư pháp của nước này không còn thẩm quyền xét xử bộ máy hành chính.

Vì dưới chế độ cũ vua Lu-i XVI muốn cải tổ thông qua các đạo luật tiến bộ, các toà án lúc đó từ chối áp dụng các đạo luật này và vì vậy toà án bị coi là phản động, nó không có quyền thay thế hoặc kiểm soát bộ máy hành chính. Năm 1800, Na-pô-le-ông đã lập ra Hội đồng Nhà nước và các cơ quan ở tỉnh (sau này trở thành các toà án hành chính). Nhưng mãi đến năm 1986 Hội đồng Nhà nước mới được thừa nhận về mặt Hiến pháp như một cơ quan tài phán hành chính. Vì Hiến pháp năm 1958 chỉ quy định HĐNN cho ý kiến đối với các dự luật chứ chưa quy định chức năng tài phán, trái lại Hiến pháp năm 1986 quy định việc tồn tại hệ thống tài phán hành chính là một nguyên tắc của Hiến pháp.

Trình tự tố tụng hành chính là toàn bộ các nguyên tắc pháp lý chi phối việc xem xét đơn khiếu kiện của một công dân trước cơ quan tài phán hành chính. Nguyên tắc này phải rất cụ thể và mang tính bắt buộc đối với thẩm phán hành chính. Nếu toà án hành chính không tôn trọng các nguyên tắc tố tụng, thì có thể phạm những sai lầm nghiêm trọng và quyết định bị kháng án lên toà án cấp trên và toà án cấp trên có quyền huỷ bản án, việc khiếu nại của công dân được xem xét lại từ đầu để tôn trọng các nguyên tắc tố tụng.

Quá trình giải quyết một vụ việc khiếu kiện tại HĐNN có 2 giai đoạn là giai đoạn thẩm cứu và giai đoạn xét xử:

1. Giai đoạn thẩm cứu: Giai đoạn này có chức năng chuẩn bị cho giai đoạn thứ hai (giai đoạn xét xử). Giai đoạn thẩm cứu là việc nghiên cứu hồ sơ khởi kiện. Sau khi các thành viên của HĐNN đã xem xét kỹ đơn kiện, Hội đồng đưa ra các phán quyết của mình.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

LS. NGUYỄN THÀNH VĨNH

Trong một chế độ dân chủ, đã nói đến Toà án là phải nói đến luật sư, nói đến công tác xét xử thì không thể nói đến vai trò của luật sư. Vì nội dung cơ bản của dân chủ là quyền của công dân, quyền của con người. Và một trong những người bảo vệ quyền con người là luật sư.

Chức năng, nhiệm vụ của luật sư đã được quy định tại Luật Luật sư. “Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật, thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa”.

Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/2/1989 (Hết hiệu lực) của Hội đồng Bộ trưởng từng nói “Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cua công dân, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hộichủ nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị định đặt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công dân lên hàng đầu. Chiến lược cơ bản của chế độ ta là chiến lược con người, là “tất cả vì dân”, “tất cả vì hạnh phúc của con người”.

Để đạt được mục đích cao cả đó, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo công lý. Luật sư, qua việc làm sáng tỏ sự thật về vụ án và vận dụng đúng đắn pháp luật cóliên quan, góp phần tích cực cùng với Toà án, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp chế. Do đó, sự đảm nhận một vai trò rất quan trọng trong bộ máy xét xử, và là một bánh xe cần thiết, không thể thiếu được trong bộ máy xét xử.

Vai trò của luật sư càng cần thiết và quan trọng trong việc giải quyết các vụ kiện hành chính. Vì từ trước tới nay, công dân chỉ có quyền khiếu tố đến cơ quan hành chính, quyền này được các Hiến pháp của Nhà nước ta và Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 và 1991 quy định. Nhưng quyền đó nhiều khi không thực hiện được trong thực tế. Vì người bị kiện chính là “quan toà”. Đôi khi đơn khiếu tố được giải quyết bằng một chỉ thị hành chính. Nhưng chỉ thị đó không có hiệu lực thi hành và thường không được thi hành.

Continue reading

CHẤT LƯỢNG, QUI CÁCH CỦA HÀNG HÓA VÀ VẤN ĐỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Trong mua bán hàng hóa quốc tế, mỗi một loại sản phẩm đều có tên gọi riêng, có chất lượng xác định với một số lượng nhất định. Mua bán hàng hóa quốc tế khác với việc mua bán ở siêu thị hay cửa hàng.

Hàng hóa trong mua bán quốc tế thường với số lượng lớn và phải thông qua một quá trình vận chuyển. Do vậy, hàng hóa cần phải được đóng gói theo đúng quy cách để bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển. Thế nên trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng những vấn đề liên quan đến tên gọi, chất lượng, quy cách đóng gói và vấn đề kiểm định chất lượng hàng hóa không thể bỏ qua và phải được các bên qui định chi tiết và cụ thể.

1. Tên của hàng hóa

Khi xây dựng điều khoản tên hàng, tùy từng trường hợp các bên có thể liệt kê ra tên hàng hoặc đưa ra tên hàng kèm theo các đặc điểm về mẫu mã, đẳng cấp, loại, thương hiệu… Dù đặt tên hàng như thế nào, các bên cần lưu ý các qui tắc sau:

Tên hàng phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể.

– Miêu tả về hàng hóa phải có khả năng thực hiện được trên thực tế, tránh sử dụng những câu từ xáo rỗng, không thể thực hiện được.

– Tên hàng cần phù hợp với tên gọi quốc tế, tránh sử dụng tên địa phương của hàng hóa.

– Cần lưu ý đến việc đặt tên hàng làm sao có lợi cho mình trong việc tính thuế nhập khẩu hoặc xuất khẩu và cước phí vận chuyển. Bởi vì thực tế, cùng một loại hàng hóa nhưng có tên gọi khác nhau với mã số HS khác nhau sẽ có mức thuế suất xuất khẩu hoặc nhập khẩu khác nhau và có thể sẽ được áp dụng mức cước phí vận chuyển khác nhau.

Continue reading

LÃI SUẤT CƠ BẢN: “BỎ THÌ THƯƠNG, VƯƠNG THÌ TỘI”

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Để chống suy giảm kinh tế, Việt Nam đã sử dụng nhiều biện pháp kích thích kinh tế, trong đó trọng tâm vẫn là gói hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ. Mặc dù chưa có đánh giá chính thức từ phía các cơ quan chức năng về hiệu quả của gói kích thích này nhưng kỳ vọng và thực tế cho thấy bước đầu đà suy giảm kinh tế đã được chặn đứng một cách cơ bản.

Tuy nhiên, vấn đề trục trặc nằm ở cơ chế lãi suất hiện vẫn chưa được giải quyết. Chính sách lãi suất mang nặng tính chắp vá, chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa mục tiêu và công cụ thực hành chính sách.

Vậy có nên “bỏ” lãi suất cơ bản như trong đề xuất trong dự thảo sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không?

Lãi suất cơ bản: từ người có công thành kẻ có tội

Tháng 6-2000, theo tinh thần Luật NHNN 1997, lãi suất cơ bản (cộng biên độ) ra đời thay thế cơ chế lãi suất trần cho vay trước đó. Việc áp dụng lãi suất cơ bản lúc đó được đánh giá là một tiến bộ lớn và là một bước đệm cho tiến trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.

Từ tháng 6-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng nhưng NHNN vẫn định kỳ công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh phù hợp với khoản 12 điều 9 và điều 18 Luật NHNN 1997.

Câu chuyện sẽ vẫn êm đẹp nếu như lạm phát năm 2007 không lên mức phi mã và năm 2008 khủng hoảng kinh tế không nổ ra. Chính sách thắt chặt tiền tệ đột ngột tạo ra cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay lên đến đỉnh điểm.

Trong điều kiện đó, cùng với điều 476 Bộ luật Dân sự 2005, lãi suất cơ bản nay trở thành một vật cản cho các chính sách tiền tệ và hoạt động của các tổ chức tín dụng. Từ năm 2006 đến nay đã có ít nhất bốn lần NHNN đề nghị Quốc hội cho sửa điều 476 hoặc tránh không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng. Qua nhiều lần bị bác bỏ, lần này NHNN đã không nhắc đến lãi suất cơ bản trong dự thảo sửa đổi Luật NHNN.

Continue reading