THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN VÀ NHỮNG BẤT CẬP CẦN HOÀN THIỆN

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được áp dụng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, nhất là chuyển nhượng hợp đồng góp vốn nhận quyền mua nền nhà, căn hộ và hợp đồng mua nhà hình thành trong tương lai tại các dự án nhà ở, đang gây nhiều tranh luận, thắc mắc, cả về tính pháp lý lẫn những vướng mắc trong áp dụng. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, tôi cho rằng có hai vấn đề lớn cần tiếp tục tranh luận và hoàn thiện đó là:

1. Người nộp thuế có quyền lựa chọn hay cơ quan thuế có quyền áp đặt phương pháp tính thuế ?

Theo điều 14, điều 23 Luật thuế thu nhập cá nhân và điều 22 Nghị định: 100/2008/NĐ-CP thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được tính theo một trong hai phương pháp sau:

a) Áp dụng thuế suất 25% trên thu nhập tính thuế (giá bán – [giá mua + chi phí] = thu nhập tính thuế);

b) Áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng trong trường hợp không xác định được giá mua chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng (Chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật).

Thực tế khi áp dụng luật thuế TNCN cho thấy vướng mắc bởi rất nhiều trường hợp chỉ xác định được giá mua theo hợp đồng chứ không xác định được chi phí hoặc không xác định được đầy đủ chi phí. Đặc biệt một số trường hợp cơ quan thuế cho rằng đã xác định được giá mua và chi phí nên áp thuế suất 25% trên thu nhập tính thuế (lãi), nhưng người nộp thuế không đồng ý. Trường hợp này giải quyết ra sao?

Continue reading

NHẦM LẪN TRONG CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ (Phần 1)

TS. ĐỖ NGỌC ĐẠI – Đại học Luật TPHCM

Dẫn nhập

Hợp đồng là kết quả của sự ưng thuận giữa các bên. Trong thực tế, không hiếm trường hợp sự ưng thuận này có «khiếm khuyết» và nhìn chung, pháp luật hợp đồng các nước đều dự liệu ba trường hợp «khiếm khuyết» cho phép tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa trong quá trình giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam, vấn đề xử lý lừa dối hay đe dọa trong giao kết hợp đồng đã tồn tại khá sớm. Một số quy định trong Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ 15) đã tiềm ẩn những quy định về hai «khiếm khuyết» này. Chẳng hạn, về lừa dối, theo Điều 187, Bộ luật Hồng Đức, “trong các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người mua bán không theo đúng cân, thước, thăng, đấu của Nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc đồ”. Tương tự, theo điều 190 «người dùng thăng, đấu, cân, thước để mua bán lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm». Cũng tương tự, Điều 191 phạt “những người làm đồ khí dụng giả dối và vải lụa ngắn hẹp để đem bán” 50 roi, giáng hạ một bậc, và bắt sung công hàng hóa. Vềđe dọa, theo Điều 198, Bộ luật Hồng Đức, “những người từ chối không tiêu tiền đồng bị sứt mẻ hoặc đòi giá hàng quá cao mới bán, hay là đóng cửa hàng không bán để bán giấu ở trong nhà, thì đều phải tội hạ bậc và bắt diễu đi trước công chúng 3 ngày. Những hàng hóa nói trên đều bị tịch thu sung công. Những người cậy quyền mua hàng ức hiếp, thì cũng bị tội như thế”. Tương tự, theo Điều 355, Bộ luật Hồng Đức, “người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người khác thì phải biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua”. Tuy nhiên, trong cổ luật Việt Nam, việc xử lý khiếm khuyết trên mang nhiều màu sắc hình sự hơn dân sự so với pháp luật đương đại.

Continue reading

DÂN CHỦ HÓA, PHÂN QUYỀN HÓA CƠ CẤU HỆ THỐNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THEO TƯ DUY PHÁP QUYỀN BIỆN CHỨNG

TS. HỒ BÁ THÂM – Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh

Trước yêu cầu “Nhà nước nhỏ, xã hội lớn”, Nhà nước chuyên nghiệp, Nhà nước nhân văn và xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân, “Nhà nước kiến tạo sự phát triển”(1), tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hoạt động của Nhà nước trước thời kỳ mới, hiện đại hóa và hội nhập ở tầng cao mới, đòi hỏi phải xem xét và đổi mới nhận thức về vấn đề quyền lực nhà nước.

    Thực trạng quyền lực và cơ cấu, quan hệ quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay không chỉ cồng kềnh, nhiều tầng nấc, chậm chạp, nặng nề mà còn thiếu cơ chế thực thi quyền lực, đảm bảo giám sát, kiềm chế quyền lực, chống lạm quyền, chống tùy tiện. Từ đó, chế độ dân chủ pháp quyền trong hệ thống nhà nước và trong xã hội còn nhiều hạn chế, khuyết tật. Nhiều chỗ hổng trong quyền lực nhà nước và cơ chế quản lý, quản trị quốc gia lỗi thời đã làm phát sinh trì trệ, giảm hiệu lực của quyền lực và còn làm tha hóa quyền lực, phát sinh tiêu cực tràn lan. Những khuyết tật hệ thống như vậy đã được nêu lên trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các công trình nghiên cứu khoa học. Đây là một trong những khiếm khuyết lớn của hệ thống chính trị và Nhà nước ở nước ta đang được nghiên cứu, khắc phục.

     Vấn đề là cần phải nhận diện cho đúng và thiết kế lại theo nguyên tắc, cơ chế nào? Nhưng, về nhận thức thì ngay việc hiểu như thế nào là nguyên tắc thống nhất quyền lực và phân quyền vẫn chưa rõ và chưa có nhất trí2. Trong nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân tư duy, định kiến cũ còn gây cản trở lớn cho việc đổi mới hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước về chức năng, nhiệm vụ và bộ máy, cơ chế. Tâm thức tập quyền còn ảnh hưởng nặng trong suy nghĩ của nhiều người.

Continue reading

CÔNG CHỨNG TƯ: ĐÃ “THÔNG” NHƯNG CHƯA “THOÁNG”

ĐÔNG PHƯƠNG

Thời gian qua, sự hiện diện của các văn phòng công chứng tư đã góp phần giảm tải cho công chứng Nhà nước. Tuy nhiên, tốc độ phát triển quá nhanh trong khi thiếu sự điều chỉnh kịp thời từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước khiến hoạt động của những văn phòng công chứng này bộc lộ khá nhiều bất cập.

Người dân còn e dè

Chỉ tính riêng địa bàn Thành phố Hà Nội đã có 39 văn phòng công chứng tư, phần lớn tập trung tại các quận nội thành. Thực tế là các công chứng viên tại các phòng công chứng tư đều đủ tiêu chuẩn, tuy nhiên không phải ai cũng đủ kinh nghiệm và nắm bắt hết các quy định của pháp luật. Thế nên thời gian qua xuất hiện tình trạng một số văn bản, giấy tờ khi đem đến phòng công chứng nhà nước bị từ chối do chưa đủ căn cứ pháp lý, nhưng đem đến công chứng tư lại được giải quyết ngay, tất nhiên là với lệ phí cao hơn. Một cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố e ngại là nhiều giấy tờ (liên quan chủ yếu đến nhà đất) làm giả mạo tinh vi nhưng cũng đã được chứng thực, dẫn đến các khổ chủ càng dễ bị mắc lừa hơn. Việc này có thể diễn ra trong ngày một ngày hai, nhưng cũng có thể 5- 10 năm sau (khi thực hiện giao dịch) mới bị phát hiện, lúc đó trách nhiệm của phòng công chứng sẽ như thế nào?

Mặc dù đã có nhiều cải trong cách tiếp đón, thái độ phục vụ nhưng vẫn còn nhiều người e dè với công chứng tư, bởi tâm lý "của nhà nước bao giờ cũng tốt hơn, đảm bảo hơn". Phần lớn người dân nghi ngại về việc giấy tờ do phòng công chứng tư chứng thực có đảm bảo giá trị pháp lý hay không. Chị Thắm (Tân Mai, HN) chuyên kinh doanh bất động sản cho biết: hầu hết các hợp đồng mua, bán, giao dịch chị đều chứng thực tại phòng công chứng nhà nước vì sợ rằng khi nộp hợp đồng lên văn phòng nhà đất (thuộc Sở Tài nguyên – môi trường Hà Nội) người ta có chấp nhận không. Đào Anh Dũng – Trưởng Văn phòng công chứng Ba Đình, số 3C, đường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội cho biết: "Có không ít trường hợp thắc mắc như vậy. Họ lo ngại về việc giấy tờ do chúng tôi chứng thực có đảm bảo giá trị pháp lý hay không. Chúng tôi phải thuyết phục cặn kẽ họ mới làm các thủ tục tại phòng công chứng. ông Dũng cho hay ngoài việc giải thích cho người dân hiểu thì chưa có cách nào khác để giải quyết vấn đề lo ngại của người dân khi đến với loại hình dịch vụ tại các văn phòng công chứng tư. ông Trần Công Trục – Trưởng Văn phòng công chứng Thăng Long (54 Trần Nhân Tông, Hà Nội) – bật mí: "Có trường hợp đi công chứng nơi khác không được, quay về Văn phòng chúng tôi đề nghị công chứng, nhưng bị từ chối. Họ tưởng mình mới mở nên không nắm được thông tin. Rất may chúng tôi lại biết về giao dịch đó”.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TS. LÊ ĐĂNG DOANH

Trong bài viết này, sau khi nói về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả tập trung luận giải vấn đề xây dựng xã hội dân sự và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường. Theo tác giả, trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực hiện và đó chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với quá trình phát triển đất nước, trách nhiệm đó sẽ được đề cao cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị trường và các thể chế của xã hội dân sự.

1. Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Hội thảo của chúng ta diễn ra trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn. Nhân loại đang đứng trước những nguy cơ lớn về khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, trái đất ấm lên do hiệu ứng khí thải. Tất cả các hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về trách nhiệm xã hội của chính phủ, của doanh nghiệp, của người dân và xã hội dân sự. Cuộc khủng hoảng toàn cầu – khởi đầu từ nước Mỹ và nhanh chóng lan rộng ra các nước khác trên thế giới, từ khủng hoảng tài chính – tiền tệ lan sang khủng hoảng “nền kinh tế thực” (real economy), dẫn đến khủng hoảng việc làm và khủng hoảng xã hội. Ở một số nước đã và sẽ diễn ra khủng hoảng chính trị như ở Băng Đảo (Iceland). Câu hỏi được đặt ra là, hệ thống kinh tế thị trường hiện nay với các biến thể của nó từ kinh tế thị trường tân tự do (Neoliberalism) ở Hoa Kỳ đến nền kinh tế thị trường xã hội (Social market economy) như ở Đức, nền kinh tế phúc lợi xã hội (Wealthfare economy) như ở Bắc Âu, trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của thị trường và doanh nhân, trách nhiệm và quyền giám sát của người dân có những thiếu sót gì để dẫn đến một thảm hoạ như vậy. Mới đây, vụ sữa nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc (San Lu) ở Trung Quốc đã gây ra biết bao đau khổ cho các gia đình, trẻ nhỏ thì trách nhiệm của nhà nước, của doanh nghiệp như thế nào.

Continue reading