TỔ CHỨC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH SẴN VÀ THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

GS.TS. LÊ THẠC CÁN

Học chế theo tín chỉ giảng dạy trình bày các mục tiêu đào tạo có thể có trong một phạm vi chuyên môn nhất định về khoa học và công nghệ, chỉ dẫn các con đường đi khác nhau để đạt tới các mục tiêu này, bao gồm nội dung học tập, phương thức học tập, kế hoạch học tập. Sinh viên được tự chọn nội dung, phương pháp, kế hoạch học để đạt tới mục tiêu đã chọn. Trong quá trình học có thể tuỳ yêu cầu của xã hội, sở thích và khả năng của mình để thay đổi mục tiêu, và liên quan tới đó nội dung, phương pháp học tập. Nhà trường giữ vai trò hướng dẫn, sinh viên giữ quyền tự quyết.

1. Thí dụ về tổ chức giảng dạy – học tập theo chương trình định sẵn

Từ những năm 1990 về trước ở nước ta cũng như tất cả các nước xã hội chủ nghĩa khác tổ chức giảng dạy và học tập tại các trường đại học ở các bậc đại học, sau đại học đều được thực hiện theo các chương trình đào tạo định sẵn. Ở nhiều nước châu Âu vào thời kỳ đó chương trình đào tạo định sẵn cũng được sử dụng phổ biến như là công cụ để quản lý đào tạo. Ở Hoa Kỳ, Anh quốc và một số các nước khác việc tổ chức đào tạo ở đại học được thực hiện theo học chế tín chỉ. Gần đây hơn nhiều nước châu Âu đã hình thành hệ chuyển đổi tín chỉ học tập (ECTS – Europeen Credit Transfer System) để tổ chức quá trình đào tạo đại học trong từng nước và hợp tác đào tạo giữa các nước. Tuy nhiên một số đại học có chất lượng đào tạo cao trên thế giới vẫn sử dụng các chương trình đào tạo định sẵn làm công cụ chính để quản lý quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo bậc đại học, theo chuyên ngành Khoa học Máy tính và Tin học của Đại học Năng lượng Mascơva sau đây, công bố năm 2005, là một thí dụ cụ thể.

Moscow Power Engineering Institute (MPEI – TU)

Syllabus Bachelor of Engineering and Technology Computer Science and Informatics

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG MINH TÀI SẢN KHI CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC DI CHÚC

LS. NGUYỄN HỒNG LÂM – CÔNG CHỨNG VIÊN. PHAN VĂN CHEO

1.  Lập di chúc khi chưa có tài sản thật?

Theo quy định của pháp luật dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tài sản của người lập di chúc để lại được gọi là di sản. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt đối với di sản của mình (để lại cho ai, tỉ lệ thừa hưởng…).

Hiện nay, khi có yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc, người lập di chúc phải chứng minh tài sản của mình là hợp pháp và có thật (nếu là nhà, xe, cổ phần, cổ phiếu… thì phải có chứng từ sở hữu; nếu là tiền thì được thể hiện qua tài khoản ngân hàng). Nói cách khác, đó phải là tài sản cụ thể. Nếu không chứng minh đuợc tài sản ấy có thật thì cơ quan thẩm quyền sẽ từ chối công chứng, chứng thực di chúc. Đáng nói là có nhiều người lập di chúc có yêu cầu để lại những tài sản của mình có được tại thời điểm qua đời, tức bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai. Mà những tài sản này thì không thể chứng minh tính có thật. Từ đó làm phát sinh tình huống mỗi lần được sở hữu một tài sản mới thì chủ sở hữu phải lập di chúc mới, có liệt kê thêm tài sản mới thì mới đảm bảo quyền định đoạt của mình đối với di sản.

Được biết, nhiều công chứng viên đang hành nghề tại các phòng công chứng và văn phòng công chứng đều không đồng ý công chứng vào di chúc có đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai. Việc từ chối được căn cứ vào các quy định của Luật Công chứng. Cụ thể, người đi công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định.

Continue reading

KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI: LUẬT LÀM KHÓ DÂN!

NGUYÊN TẤN

Nhiều quy định pháp luật mâu thuẫn và bất hợp lý đang gây trở ngại cho người dân khi họ muốn khiếu nại hoặc khởi kiện các quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai.

“Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện có còn nữa không?”, đó là vấn đề quan tâm “cốt tử” đầu tiên gần như không thể thiếu của các luật sư khi tư vấn cho khách hàng về các vụ khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai. “Cốt tử” vì nếu quá thời hạn luật định thì đương sự sẽ bị mất quyền khiếu nại hay khởi kiện cho dù nội dung khiếu kiện có bức xúc đến mấy và thậm chí thấy rõ là quyết định hành chính đó sai.

Hệ trọng với người dân như thế nhưng các quy định của pháp luật về vấn đề này lại mâu thuẫn một cách kỳ lạ. Điều 31, Luật Khiếu nại Tố cáo (1998) cho phép thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính. Trong khi đó, khoản 1, điều 64, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2008 của Chính phủ lại quy định đối với quyết định hành chính trong quản lý đất đai của ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thì thời hiệu khiếu nại là 30 ngày, kể từ ngày cơ quan này có quyết định đó.

Nghị định trên của Chính phủ chẳng những làm cho thời hiệu khiếu nại bị rút xuống còn một phần ba mà còn gây vô vàn khó khăn cho người khiếu nại khi quy định thời hiệu khiếu nại được tính kể từ ngày UBND tỉnh ban hành quyết định hành chính, thay vì kể từ ngày đương sự nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính theo như Luật Khiếu nại Tố cáo. Nếu chính quyền tìm cách “ém” quyết định hành chính đã ban hành, cho đến khi đương sự vỡ lẽ, thì thời hiệu khiếu nại đã hết, hay nói cách khác, quyền khiếu nại của họ đã bị vô hiệu. Nhiều luật sư cho biết đây là thủ thuật được không ít chính quyền địa phương áp dụng nhằm tránh bị người dân khiếu kiện.

Ngoài cơ chế khiếu nại, điều 39, Luật Khiếu nại Tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung tại điều 12, Luật Khiếu nại Tố cáo năm 2005) còn cho phép người dân được khởi kiện vụ án hành chính ra tòa trong hai trường hợp: a) hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà không được giải quyết; b) hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu). Tuy nhiên, ông Lê Văn Khiêm, chuyên viên pháp lý của Văn phòng Luật sư người nghèo, cho biết rất nhiều trường hợp đã bị tòa trả lại đơn khởi kiện do không có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại không đúng hình thức.

Continue reading

QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA LUẬT SƯ VỚI CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM

Nghề Luật sư được xã hội trọng vọng, tôn kính. Ngay từ thời La Mã Cổ đại, người Luật sư được xem như một hiệp sĩ, nghề luật sư được coi như một thiên chức (chức vụ thiêng liêng). Ở miền Nam Việt Nam trước ngày giải phóng 30/4/1975, ban nhạc hài hước nổi tiếng AVT đã từng cất lời ca trên đài phát thanh Sài Gòn: Luật sư đắc vợ, nhiều tiền, từ hai tay trắng làm nên nhà lầu!

Được biết, người Sài Gòn đã có thói quen tìm đến luật sư khi hữu sự, chẳng may phải “đáo tụng đình”. Vì vậy mà tổ chức luật sư ra đời tại “thánh địa” nầy ngay từ năm 1867 tính tới nay là 142 năm (chỉ gián đoạn 14 năm: từ năm 1975 đến năm 1989).

Để tạo được truyền thống danh giá tốt đẹp, giữ được sự tin cậy và trọng nể của người đời thì luật sư và tổ chức hành nghề luật sư suy nghĩ và hành động mẫu mực, thao thức với lời căn dặn được lưu truyền từ ngàn xưa: mua danh ba vạn, bán danh ba đồng; hoặc mất tiền bạc có thể làm ra tiền bạc, mất uy tín là mất tất cả.

Là luật sư, hơn các giới khác trong xã hội, chúng ta cần tuân thủ triệt để quy định pháp luật và ứng xử nhân văn trong làm việc và lối sống. Ở chừng mực nào đó, dân thường vi phạm pháp luật có thể được tha thứ hoặc châm chế do lạc hậu về kiến thức và nhận thức. Nhưng những “thầy luật” mà vi phạm pháp luật thì thật đáng chê trách. Trong số những điều tối kỵ của nghề luật sư là hành vi “chạy án”. Tại hội nghị tổng kết hàng năm của Đoàn Luật sư Tp.Hồ Chí Minh, chúng ta luôn mạnh mẽ lên tiếng: cương quyết nói “không” với chạy án.

Khái niệm “chạy án” được hiểu theo nghĩa rộng, nhưng nói theo dân gian là việc làm “đổi trắng, thay đen” trong hoạt động tố tụng làm sai lệch sự thật khách quan được thể hiện trong bản án để hưởng lợi bất chính. Là người “phụ tá công lý”, chúng ta xem công lý là kim chỉ nam, là vị thần bất khả xâm phạm. Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi đất lành chim đậu, với hào khí Nam bộ không cho phép chúng ta làm ngơ trước bất công, mà phải tỏ rõ thái độ “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” (thấy việc nghĩa không làm thì không phải là người có dũng khí).

Continue reading

ĐƯỜNG CHỮ U (ĐỨT KHÚC) CỦA TRUNG QUỐC (VIỆT NAM GỌI LÀ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ) TRÊN BIỂN NAM TRUNG HOA: CÁC ĐIỂM, ĐƯỜNG VÀ KHU VỰC

PETER KIEN – HONG YU (Người dịch: Hoàng Khánh Hòa và tòa soạn Thời Đại Mới)

Lời tòa soạn Thời Đại Mới:

Bài viết này quan trọng ở chỗ nó phản ánh các quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan là quyết không từ bỏ chủ quyền trong đường chữ U, tức là đường lưỡi bò theo cách gọi của Việt Nam, và bản thân tác giả lập luận ủng hộ các quan điểm đó. Tác giả là Giáo Sư Đại học Ming Chuan, Trường Sau Đại học về Ngoại Giao ở Đài Loan.  

Các chú thích của người dịch được để trong […] với chữ nghiêng. Các chú thích của tác giả cũng có thể có, để trong  […] nhưng với chữ thẳng đứng

Xisha, đọc là Tây Sa, Việt Nam gọi là Hoàng Sa, tức nhóm đảo Paracels. Zhongsha, đọc là Trung Sa, Việt Nam cũng gọi là Trung Sa, là nhóm bãi cát ngập nước Macclesfield Bank nằm ở phía đông của nhóm đảo Hoàng Sa.

Nansha, đọc là Nam Sa, Việt Nam gọi là Trường Sa, tức nhóm đảo Spratleys. Luật Biển hay Công ước Biển 1982 được dùng trong bài là nói về cùng một bộ luật của Liên Hợp Quốc về biển.

Bài báo này phân tích các tác động tích cực và tiêu cực của đường chữ U (biên giới lãnh hải) trên Biển Nam Trung Hoa (NTH) cũng như các điểm đáng quan tâm còn chưa rõ ràng. Các tác động tích cực của đường này bao gồm nhận định cho rằng đường này không phải là chủ ý của Đài Loan và Trung Quốc nhằm gộp biên giới quốc tế vào biên giới quốc gia (national framework). Các tác động tiêu cực bao gồm những gánh nặng đối với lực lượng hải quân Trung Quốc. Bài báo này cũng sẽ trả lời những câu hỏi về  bản chất mối quan hệ giữa đường chữ U và các vùng đặc quyền kinh tế của Cộng sản Trung Quốc (Communist Exclusive Economic Zones), lập luận rằng mối quan hệ phi mâu thuẫn này cần được xem như là sự bảo hiểm hai lần mà cả Đài Loan và Trung Quốc đang nỗ lực đầu tư.

Continue reading

Ý KIẾN TỔNG KẾT CỦA PHÓ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN ĐỨC KIÊN TẠI PHIÊN HỌP THỨ 26 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ DỰ THẢO LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Kính thưa các đồng chí.

Thời gian cũng hết rồi nhưng chúng tôi thấy cũng có thể gom lại một số ý kiến kết thúc mục này.

Kính thưa các đồng chí,

Thời gian thì vẫn còn và cũng còn một số bước nữa đương nhiên cũng phải làm khẩn trương trước khi hoàn chỉnh trình chính thức tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội xem xét thông qua, cho nên tiếp tục gợi mở để các đồng chí cơ quan chủ trì soạn thảo, chủ trì thẩm tra nghiên cứu thêm để sẽ báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội nếu thấy cần thiết một số điểm trước khi hoàn chỉnh dự án luật để trình với Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7. Việc trình tiếp một số vấn đề xét thấy cần thiết với Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể diễn ra vào phiên họp tháng 4 hoặc cùng lắm là phiên họp xép của đầu tháng 5. Nhưng chúng ta với tinh thần chuẩn bị trình vào phiên họp tháng 4 Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vấn đề thứ nhất, về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước như thế nào thì chúng ta cũng thống nhất với nhau một tinh thần tức là thể chế chính trị của chúng ta có khác, cho nên mô hình tổ chức và mô hình quản trị quốc gia trên các lĩnh vực nó cũng khác, nó phù hợp với điều kiện nước ta. Chính vì thế cho nên hướng chung đồng ý với việc xác định địa vị pháp lý như trong dự thảo. Nhưng những điều quy định ở trong dự án luật phải tiến dần đến những chức năng, nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương để nó phù hợp với Nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết của Bộ Chính trị.

Chính vì thế cho nên bữa trước khi làm việc với các ngành tôi có đề nghị với các đồng chí có một phụ lục để gửi các vị đại biểu Quốc hội, một bên nếu là Ngân hàng Nhà nước thì chức năng và nhiệm vụ cụ thể anh làm những việc gì? một bên là Ngân hàng Trung ương chức năng nhiệm vụ cụ thể anh làm những việc gì, cái nào giống nhau, cái nào khác nhau để các vị đại biểu Quốc hội người ta xem xét, người ta đối chiếu với những nội dung quy định ở trong dự thảo luật này. Đề nghị các đồng chí cũng cố gắng sưu tầm và chuẩn bị.

Continue reading

“LÁCH” THUẾ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

PHẠM ĐỨC THÀNH

Ngày 12.8.2009, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 161/2009/TT-BTC hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản. Thông tư đã quy định cụ thể cách xác định đối tượng nộp thuế, các trường hợp được miễn thuế, tạm thời chưa thu thuế, áp dụng thuế suất… Tuy nhiên, áp dụng những quy định này đã phát sinh một số điểm bất hợp lý.

Quy định “mở”

Theo quy định tại Điều 6 của Thông tư 161, khi chuyển nhượng bất động sản, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn một trong hai cách nộp thuế: Một là, nộp 25% của phần chênh lệch giữa giá bán và giá gốc; Hai là, nộp 2% trên tổng giá trị của nhà, đất khi chuyển nhượng. Quy định này được đánh giá là mang tính “mở”, do đó sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn cách thức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình đối với Nhà nước. Tuy nhiên, chính quy định này khi áp dụng trong đời sống xã hội đã tạo ra kẽ hở để các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường nhà đất “lách” luật, trốn thuế. Tùy từng trường hợp và hợp đồng cụ thể, cá nhân, tổ chức sẽ lựa chọn cách nộp thuế sao cho có lợi nhất. Cụ thể, đối với những hợp đồng mà người bán không thu được nhiều lãi từ việc chuyển nhượng thì họ sẽ chọn cách nộp 25% tổng giá trị chênh lệch khi chuyển nhượng. Nhưng nếu hợp đồng đó có lãi nhiều, họ sẽ tìm cách khai thấp hơn nhiều lần giá trị thực tế của căn nhà, lô đất và đăng ký nộp thuế 2% trên tổng số giá trị tài sản đó.

Continue reading

Giải quyết việc làm góp phần bảo đảm ổn định xã hội và TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

ĐẶNG NHƯ LỢI – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Việc làm có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động và đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Sau 20 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, song tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa…Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngày 6/72007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2005 – 2010 với:

– Mục tiêu chung: tạo việc làm cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 – 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.

– Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, tạo việc làm cho 2 – 2,2 triệu lao động, trong đó: thông qua các dự án vốn vay tạo việc làm từ Quỹ quốc gia tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động; từ xuất khẩu lao động tạo việc làm cho 40 – 50 vạn lao động.

+ Thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn và giới thiệu cho 4 triệu lao động.

Continue reading

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM GÓP PHẦN BẢO ĐẢM ỔN ĐỊNH XÃ HỘI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

ĐẶNG NHƯ LỢI – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Việc làm có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động và đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Sau 20 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, song tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa…Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngày 6/72007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2005 – 2010 với:

– Mục tiêu chung: tạo việc làm cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 – 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.

– Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, tạo việc làm cho 2 – 2,2 triệu lao động, trong đó: thông qua các dự án vốn vay tạo việc làm từ Quỹ quốc gia tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động; từ xuất khẩu lao động tạo việc làm cho 40 – 50 vạn lao động.

+ Thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn và giới thiệu cho 4 triệu lao động.

Continue reading

VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA BẢN TUYÊN NGÔN PHỔ QUÁT VỀ QUYỀN LÀM NGƯỜI (10 – 12 – 1948)

NGUYỄN NGỌC LANH

Hoàn cảnh đòi hỏi

Đại chiến II sắp kết thúc, phe Trục sắp đầu hàng, do vậy các nước chủ chốt thuộc phe Đồng Minh là Anh, Mỹ, Nga đã dự kiến xây dựng một nền hoà bình lâu dài cho nhân loại. Muốn vậy, mọi người phải sống trong một thế giới có tổ chức. Đó là cơ sở để năm 1945 Liên Hiệp Quốc được thành lập và Hiến Chương của nó ra đời.

Để vĩnh viễn loại trừ thảm hoạ chiến tranh, điều tiên quyết là phải tôn trọng phẩm giá từng con người, đồng nghĩa với phải bảo vệ và mở rộng QUYỀN LÀM NGƯỜI (human rights) của mỗi cá nhân.

Rốt cuộc phải có một Bản Tuyên Ngôn phổ quát về QUYỀN LÀM NGƯỜI.

Dưới đây xin gọi tắt là Bản Tuyên Ngôn

– Chúng ta thường dịch Human Rights là “nhân quyền” hoặc “quyền con người”. Chẳng qua chi là chuyện chọn từ ngữ. Tôi mạn phép dùng “quyền làm người” do tình hình thực thi các quyền này trên thực tế.
– Từ ngữ cũng quan trọng, nhưng quan trọng nhất là quan niệm: Đây là các quyền bẩm sinh của mỗi con người (đó là quyền tự do, khiến một con người khác một con vật), chứ không phải quyền của toàn khối dân tộc không chịu phụ thuộc vào dân tộc khác (tức quyền độc lập).
– Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ 1946 đã phân biệt rất rõ điều này, với câu nói đến nay nhắc lại, vẫn thấy tính thời sự: Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa.

Ngay thời đó, các quốc gia trong Liên Hợp Quốc đã thống nhất quan điểm: Bản Tuyên Ngôn về QUYỀN LÀM NGƯỜI khi được công bố phải chiếm một vị trí cao cả, phải có giá trị vĩnh hằng và phổ quát; nội dung phải tương xứng với thiên chức của nó: Là minh triết của nhân loại.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4799/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 18 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ MỨC LƯƠNG LÀM CƠ SỞ ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Kính gửi:

 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang

Trả lời công văn số 661/SLĐTBXH-LĐTL-BHXH ngày 8/12/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về tiền lương và Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước thì các mức lương trong thang lương, bảng lương được dùng làm cơ sở để thỏa thuận mức lương ghi trong hợp đồng lao động. Mức lương ghi trong hợp đồng lao động là cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động.

Như vậy, đối với công ty nhà nước thì áp dụng thang lương, bảng lương tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP và mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ (khi Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung thì thực hiện theo quy định mới) làm cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động.

Đối với doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp FDI thì áp dụng thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng làm cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP và Thông tư số 28/2007/TT-BLĐTBXH ngày 5/12/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong đó mức tiền lương để trả cho lao động làm công việc giản đơn không qua đào tạo trong điều kiện lao động bình thường không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; đối với lao động làm nghề, công việc đòi hỏi qua học nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định (từ ngày 01/01/2010 mức lương tối thiểu vùng được quy định Nghị định số 97/2009/NĐ-CP và số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ).

Continue reading