LẠI MỘT CÔNG VĂN SỬA NGHỊ ĐỊNH!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấnVFAM Việt Nam

Sau khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (năm 2005) có hiệu lực, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hết hiệu lực thi hành. Việc thành lập doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

Về việc thành lập doanh nghiệp của tổ chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, khoản 3 điều 9 Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp” quy định: “Tổ chức, cá nhân người nước ngoài lần đầu tiên đầu tư thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam được thực hiện như sau:

a) Trường hợp doanh nghiệp dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hơn 49% vốn điều lệ thì phải có dự án đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận đầu tư);

b) Trường hợp doanh nghiệp dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 88/2006/NĐ-CP). Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước”.

Với quy định trên, nhiều doanh nghiệp có thành viên góp vốn là nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài chiếm dưới 50% vốn điều lệ đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 39/2009/TT-BXD NGÀY 9 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG NHÀ Ở RIÊNG LẺ

Căn cứ Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009;
Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 1/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (dưới đây viết tắt là Nghị định 12/2009/NĐ-CP) và Nghị định 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về sửa đổi một số điều của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình,
Bộ Xây dựng hướng dẫn về quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn về quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ trên lãnh thổ Việt Nam.

Việc xây dựng nhà ở riêng lẻ trên các lô đất của dự án nhà ở cũng phải áp dụng theo các quy định của Thông tư này.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các hộ gia đình, cá nhân (dưới đây viết tắt là chủ nhà) khi xây dựng nhà ở riêng lẻ, các chủ đầu tư dự án nhà ở riêng lẻ xây dựng trên các lô đất của dự án (dưới đây viết tắt là chủ đầu tư) và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng nhà ở riêng lẻ thuộc phạm vi điều chỉnh nêu tại Điều 1 của Thông tư này.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: SƠ THẨM KHÔNG XÉT, PHÚC THẨM VẪN XỬ?!

HOÀNG LAM

Tòa sơ thẩm không “đụng” gì đến đất đai, tòa phúc thẩm lại đem đất ra định giá, phân chia…

Tháng 3-2009, TAND tỉnh Kiên Giang đã xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng hùn vốn mở lò đường giữa hai ông Võ Văn Tám, Nguyễn Văn Bảy với ông Lê Văn Tấn (cùng ngụ huyện Tân Hiệp). Điều đáng chú ý là sau phiên phúc thẩm, ông Tấn (bị đơn) đã liên tục khiếu nại, yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm vì cho rằng TAND tỉnh Kiên Giang đã xét xử vượt quá án sơ thẩm…

Sơ thẩm: Không tranh chấp đất

Theo hồ sơ, lò đường trên hoạt động từ năm 1983, do bốn người cùng hùn vốn xây dựng. Năm 1985, các ông giao lò cho nhà nước quản lý. Một năm sau, nhà nước trả lại lò đường cho họ. Mâu thuẫn trong việc phân chia lò đường, các bên đưa nhau ra tòa. Trong bốn thành viên hùn vốn có một người hùn bằng số lượng tài sản không đáng kể như sắt phi, lúa và một con heo nên đã tự nguyện đứng ngoài, không tham gia tranh chấp.

Vụ án được đưa ra xét xử từ năm 1990 cho đến năm 2005 vẫn không ngã ngũ bởi bốn lần tòa sơ thẩm xử là bốn lần tòa phúc thẩm hủy án. Đến tháng 7-2008, TAND huyện Tân Hiệp mở phiên sơ thẩm lần năm. Tại phiên xử này, các bên không yêu cầu giải quyết phần đất đặt lò đường. Phần đất này được xác định là thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Tấn, do con của ông đứng tên trên giấy đỏ. Tài sản còn lại của lò đường gồm một máy kéo, dàn đục, dàn che với tổng giá trị là 12 triệu đồng. Tòa đã chia số tài sản này cho ba thành viên hùn vốn. Theo đó, ông Tấn được giao quyền quản lý sử dụng tài sản còn lại của lò đường nhưng phải thanh toán cho ông Tám 6 triệu đồng, ông Bảy 3 triệu đồng.

Continue reading

HỌC CÁCH LẮNG NGHE NHÂN VIÊN

UYÊN VIỄN

Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng nhờ tiếp xúc, biết lắng nghe nhân viên nên đã tổng hợp được sức mạnh cả tập thể.

Xích lại gần nhau

Chuông reo hết giờ làm việc buổi sáng, hàng trăm nhân viên Công ty TNHH một thành viên Việt Nam Kỹ nghệ súc sản (Vissan), TPHCM, túa xuống khu nhà ăn có gắn máy lạnh. Buổi cơm trưa ở đây, không chỉ có nhân viên mà còn có sự hiện diện của ban lãnh đạo công ty. Khẩu phẩn ăn của ban lãnh đạo cũng tương tự như nhân viên, không có sự chăm chút gì thêm.

Ông Bùi Duy Đức, Tổng giám đốc Vissan, cho biết chuyện ban lãnh đạo cùng ăn cơm với nhân viên là điều rất bình thường ở công ty. Việc này đã diễn ra từ nhiều năm qua.

“Điều đó phần nào thể hiện văn hóa doanh nghiệp tại Vissan sau 39 năm hình thành và phát triển. Ở các phòng ban khác, vấn đề chia sẻ thông tin với cấp dưới, xóa tan những hoài nghi trong nội bộ hoặc lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân viên để hoàn thiện môi trường làm việc ngày càng thân thiện, nâng cao hiệu suất lao động cả tập thể là điều mà Vissan đã làm được. Thông qua bữa cơm trưa, những người lãnh đạo lại có dịp tiếp xúc với nhân viên, được nghe những câu chuyện thường ngày của họ để hai bên cùng hiểu và xích lại gần nhau”, ông Đức nói.

Tại Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC Việt Nam, những người trong ban giám đốc và trưởng các bộ phận cũng thường chủ động tiếp xúc với nhân viên nhằm giúp họ cân bằng giữa môi trường làm việc và cuộc sống gia đình.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 113/2009/TT-BQP NGÀY 7 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ QUỐC PHÒNG HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 127/2008/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Căn cứ Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị định số 127/2008/NĐ-CP);
Căn cứ Nghị định số 104/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng;
Sau khi có ý kiến của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Công văn số 3740/LĐTBXH-VL ngày 05 tháng 10 năm 2009, của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tại Công văn số 3628/BHXH-CSXH ngày 08 tháng 10 năm 2009;
Xét đề nghị của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị,

THÔNG TƯ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP về đối tượng áp dụng; thời gian, hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp; mức đóng, căn cứ đóng, phương thức đóng bảo hiểm thất nghiệp; các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là đơn vị) trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

a. Đối với đơn vị dự toán: Lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu; lao động hợp đồng do các đơn vị giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ mười hai (12) tháng đến ba mươi sáu (36) tháng và hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

b. Đối với đơn vị hạch toán: Người lao động giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn với các đơn vị.

Continue reading

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI: THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. TRẦN DU LỊCH – Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Nếu tính từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (năm 1991) đến nay, có thể thấy các nghị quyết của Đảng đều quán xuyến quan điểm: Gắn các vấn đề kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Trong các kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế – xã hội qua từng thời kỳ, đặc biệt trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 và Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo (được Thủ tướng Chính phủ ban hành tháng 5-2002), đều thể hiện rất rõ quan điểm gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong bài toán phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu và chính sách cụ thể; cũng như đang tồn tại và nảy sinh nhiều vấn đề cần được tiếp tục giải quyết.

Những thành tựu nổi bật

Về kinh tế, kết quả thực hiện chiến lược 10 năm (2001 – 2010) ước tính GDP tăng bình quân 7,2%/năm (năm 2009 – 2010, ước theo kế hoạch của Chính phủ); GDP tuyệt đối tăng 2 lần; GDP/đầu người tăng 3,17 lần và đã vượt ngưỡng 1.000 USD. Hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất gia tăng đáng kể: Đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng GDP đã giảm từ 70% (giai đoạn kế hoạch 1991 – 1995) xuống còn khoảng 52% (giai đoạn 2006 – 2010); đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng GDP đã tăng từ 16% (giai đoạn kế hoạch 1991 – 1995) lên khoảng 20% (giai đoạn 2006 – 2010); đóng góp của yếu tố tăng trưởng tổng hợp (TFP) đã tăng từ 14% (giai đoạn kế hoạch 1991 – 1995) lên khoảng 28% (giai đoạn 2006 – 2010). Các số liệu trên cho thấy, hiệu quả quản lý nền kinh tế đất nước được nâng cao trong vòng 20 năm qua, nền kinh tế đất nước tăng trưởng liên tục và thuộc nhóm "thị trường mới nổi" có nhiều tiềm năng; vị trí kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao đáng kể.

Tiến bộ và công bằng xã hội càng thể hiện rõ nét hơn những thành quả của tăng trưởng kinh tế. Thông thường, để đo tính chất công bằng trong phát triển, người ta thường sử dụng 3 loại thang đo: (1) – Ngũ phân vị (chia các tầng lớp dân cư làm 5 tầng, dựa theo sự cách biệt trong chi tiêu, mỗi phân tầng là 20%, xem xét độ chênh lệch giữa các tầng); (2) – Hệ số bất bình đẳng GINI (được tính từ 0 đến 1) và (3) – Đường cong lô-ren (lorent). Ở nước ta, cứ hai năm một lần, Tổng cục Thống kê đều tiến hành điều tra và công bố sự chênh lệch giàu nghèo theo thang đo thứ nhất

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: CHƯA ÁP DỤNG ĐÚNG THỦ TỤC KHỞI KIỆN

THANH XUÂN

Khởi kiện là quyền của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Việc khởi kiện phải theo trình tự thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng đơn khởi kiện nội dung đầy đủ nhưng không ghi năm sinh của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay chính người khởi kiện thì tòa trả lại đơn khởi kiện (?)

Cuối tháng 12.2008, bà Nguyễn Thị Tuyết gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp kiện bà Nguyễn Thị Thanh Mộng về tranh chấp ranh giới đất. Do không biết năm sinh của bà Mộng nên trong đơn khởi kiện bà Tuyết không ghi năm sinh. Sau khi nhận hồ sơ, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung yêu cầu bà Tuyết phải bổ sung năm sinh của bà Mộng. Bà Tuyết phải làm đơn gửi đến Công an thị trấn Lai Vung, xin cho biết năm sinh của bà Mộng để hoàn tất đơn khởi kiện. Lúc này Tòa án mới bắt đầu thụ lý giải quyết vụ án.

Vấn đề đặt ra ở đây là khi khởi kiện, người khởi kiện phải bảo đảm các thủ tục tại Tòa án như: đơn khởi kiện, các hồ sơ chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Quan trọng nhất là công dân khởi kiện phải làm đơn theo mẫu, quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng Dân sự như: ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, địa chỉ của người khởi kiện; người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có; tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… Như vậy, pháp luật tố tụng không quy định người khởi kiện phải biết năm sinh của người bị kiện và nội dung đơn khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện. Tuy nhiên trên thực tế, nếu không có năm sinh của người bị kiện thì người khởi kiện có thể khởi kiện vì Tòa án sẽ không thụ lý vụ việc.  Tòa án không chỉ yêu cầu người khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện mà còn yêu cầu người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng phải có năm sinh.

Continue reading