NHỮNG BIẾN ĐỔI QUAN TRỌNG TRONG GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM

GS.TS. TRẦN NGỌC HIÊN

Sự hình thành và phát triển đội ngũ trí thức luôn gắn liền với những điều kiện lịch sử của dân tộc và thời đại. Đội ngũ đó phải là sản phẩm của giai đoạn phát triển của dân tộc và thời đại. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức nước ta giai đoạn 2011 – 2020 cần chú ý đến giai đoạn ấy có thể có những biến đổi gì trong sự phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế và xã hội.

Đó là những biến đổi hình thành môi trường hoạt động và phát triển của trí thức. Do đó, phải xây dựng đội ngũ trí thức phù hợp với môi trường biến đổi giai đoạn 2011 – 2020. Trên cơ sở những dự báo biến đổi giai đoạn mới mà nhìn lại thực trạng đội ngũ trí thức hiện nay, từ đó tìm ra phương hướng và giải pháp phát triển trí thức cho giai đoạn tới. Dự báo những biến đổi giai đoạn 2011 – 2020 có quan hệ trực tiếp đến vai trò và trách nhiệm trí thức và định hướng xây dựng đội ngũ trí thức

Bài viết chỉ nêu vắn tắt một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1 – Biến đổi quan trọng nhất là đổi mới mô hình phát triển.

Kinh tế thị trường từ hướng phát triển phiến diện nhằm tăng của cải (cho chủ đầu tư) chuyển sang hướng phát triển đồng thời về kinh tế, xã hội, môi trường. Đây là sự thay đổi mô hình phát triển, do những khủng hoảng xã hội và tàn phá môi trường của tất cả các nền kinh tế thị trường. Cuộc đấu tranh cho tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường ngày càng sâu rộng ở phạm vi thế giới tạo ra sức ép thay đổi.

Ở nước ta, việc đổi mới mô hình phát triển cũng đã trở thành vấn đề cấp bách do những hậu quả về xã hội và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa những năm qua. Chỉ có đổi mới mô hình phát triển thì mới chuyển quá trình tăng trưởng số lượng hiện nay sang quá trình phát triển chất lượng, trên cơ sở ấy mà đạt đến số lượng nhiều hơn. Nếu không, ngay số lượng đã đạt được cũng sẽ giảm dần, trong khi dân số tăng lên, vấn đề xã hội và môi trường sẽ trầm trọng hơn.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

THS. NGUYỄN TUẤN ANH

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì ngân hàng được hiểu là: những tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Từ vai trò ngày càng quan trọng của dịch vụ ngân hàng, ngân hàng đã được coi là bà đỡ của nền kinh tế.

Bài viết này tập trung phân tích một số tác động hoạt động của hệ thống NHTM đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua và đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM tới nền kinh tế.

Khái quát về tăng trưởng kinh tế và tác động của NHTM đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng GDP của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, thường là trong 01 năm. Sự gia tăng này được đánh giá trên hai góc độ: số tuyệt đối và số tương đối. Xét trên góc độ số tuyệt đối, tăng trưởng kinh tế được phản ánh thông qua quy mô GDP tăng thêm. Về số tương đối, tốc độ tăng GDP cho thấy tăng trưởng kinh tế là nhanh hay chậm. Tăng trưởng kinh tế thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố:

– Các nhân tố định lượng: bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu (AD) như: chi cho tiêu dùng (C), chi đầu tư (I), chi tiêu của Chính phủ (G) và chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX); cũng như các nhân tố làm biến động tổng cung (AS) gồm: vốn (K), lao động (L), tài nguyên (R), khoa học – công nghệ (T).

– Các nhân tố định tính: thể chế kinh tế – chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, đặc điểm tôn giáo, địa vị các thành viên trong cộng đồng và khả năng tham gia của họ vào quản lý phát triển đất nước.Như vậy, hoạt động của hệ thống NHTM tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua cung ứng vốn (K) và được thể hiện qua các yếu tố sau:

(1) Khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng vốn luân chuyển.

Continue reading