THỎA THUẬN CỔ ĐÔNG: MỘT NỘI DUNG MỚI CHO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp – Bộ Tư pháp

1. Thỏa thuận cổ đông là gì?

Tình huống thứ nhất: Vì giá cổ phiếu của doanh nghiệp liên tục đi xuống nên các thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) của một công ty niêm yết (Công ty A) thỏa thuận với nhau rằng, để hạn chế tình trạng xả hàng khiến giá cổ phiếu càng xuống thấp, họ sẽ cùng nhau không bán số cổ phiếu mà mình nắm giữ trong thời hạn, ví dụ, 06 tháng.

Tình huống thứ hai: Một nhà đầu tư X (có thể là nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài) dự định đầu tư vào một công ty cổ phần (Công ty B) dưới hình thức mua cổ phần của Công ty B (và có thể của cả một số cổ đông hiện hữu của Công ty B). Để tránh tình trạng các cổ đông khác tháo chạy khỏi doanh nghiệp, một trong những điều kiện mà nhà đầu tư X đặt ra với Công ty B là nhà đầu tư và toàn bộ cổ đông hiện hữu của Công ty B sẽ giao kết một thỏa thuận trong đó quy định rằng, nếu một cổ đông muốn bán toàn bộ hoặc một phần số cổ phần mà cổ đông này sở hữu trong Công ty B cho một bên thứ ba nào khác thì cổ đông này phải chào bán số cổ phần dự định bán cho nhà đầu tư X trước.

Tình huống thứ ba: Một nhà đầu tư Y (thường là nhà đầu tư nước ngoài) dự định đầu tư vào một doanh nghiệp (Công ty C) dưới hình thức mua cổ phần của doanh nghiệp này (nếu Công ty C là công ty cổ phần) hoặc phần vốn góp của một thành viên của doanh nghiệp (nếu Công ty C là công ty trách nhiệm hữu hạn). Để tránh tình trạng tiền vốn của mình bỏ vào doanh nghiệp có thể thất thoát dưới hình thức này hoặc hình thức khác, nhà đầu tư đặt điều kiện cho việc mua cổ phần (hoặc phần vốn góp) của mình là nhà đầu tư và toàn bộ các cổ đông (thành viên) khác cùng Công ty C giao kết một thỏa thuận trong đó quy định rằng, một số vấn đề nhất định (như ví dụ dưới đây) trước khi được đem ra thảo luận và biểu quyết tại HĐQT hoặc đại hội đồng cổ đông (hoặc hội đồng thành viên) của công ty thì phải có sự chấp thuận trước của nhà đầu tư Y. Nói cách khác chỉ khi nhà đầu tư cho phép thì những vấn đề đó mới được đem ra thảo luận và biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông hoặc HĐQT. Những vấn đề này có thể bao gồm:

Continue reading

VIỆC ĐỐI NHÂN XỬ THẾ TẠI DOANH NGHIỆP

TẠ TÚC

Cách đây không lâu, có một bài viết đăng trên báo điện tử Vnexpress với tựa đề “Lãi suất 0% cũng chẳng buồn vay” nói về việc Nhà nước có chính sách cho vay không lãi suất để hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trả lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động nhưng chính sách này đã không thành công vì chỉ có vỏn vẹn ba doanh nghiệp làm hồ sơ xin vay.

Phải chăng vì các doanh nghiệp thừa sức để trả những khoản này? Tất nhiên là không, bởi đã có hàng chục ngàn lao động bị sa thải, số khác thì vẫn bị phát lương chậm và phải vật lộn với cuộc sống khó khăn trong thời buổi khủng hoảng.

Thông tin này không khỏi khiến chúng ta suy nghĩ nhiều về cách ứng xử với nhân viên của các doanh nghiệp lớn, rõ ràng là còn nhiều vấn đề đằng sau những khẩu hiệu rất kêu treo trong văn phòng, những phát biểu hùng hồn của các vị lãnh đạo về những cái gọi là “văn hóa doanh nghiệp”, “con người là then chốt”, “vì cộng đồng”, “vì đất nước”…

Hiểu một cách đơn giản, có lẽ vì muốn giảm thiểu những vấn nạn xã hội có nguyên nhân từ thất nghiệp mà Nhà nước đã đưa ra chính sách này. “May mắn” là một doanh nghiệp nhỏ nên công ty tôi không bị ảnh hưởng quá nhiều của khủng hoảng kinh tế và chưa phải sa thải nhân viên dù việc này cũng khiến chúng tôi lao đao.

Tò mò, tôi cố gắng tìm hiểu nguyên nhân vì sao chính sách trên không được các doanh nghiệp lớn hưởng ứng. Lời giải thích tôi nhận được khá “dễ hiểu”: việc đi vay như vậy chẳng mang lại lợi lộc gì cho doanh nghiệp (chính xác hơn là các ông chủ doanh nghiệp) lại khiến họ mắc thêm nợ nần. Tóm lại, khoản vay này sẽ bị chi “mất hút”, không thu hồi được.

Từ một câu chuyện quảng cáo

Trong những câu chuyện về quảng cáo đọc được khi còn làm giám đốc marketing, tôi rất ấn tượng với câu chuyện nói về một mẩu quảng cáo lạ được coi là “điên rồ” nhất từng được thực hiện.

Continue reading

BÁO CÁO NGÀY 4 THÁNG 11 NĂM 2009 TÓM TẮT KẾT QUẢ GIÁM SÁT “VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN, TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC”

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” (tính từ năm 2006 đến 31/12/2008).

Mục đích chính của cuộc giám sát là đánh giá tình hình ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; qua đó, thấy được những kết quả đã đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; những vướng mắc trong hệ thống văn bản pháp luật và những khó khăn, hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện; làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các cấp, các Bộ/ngành và của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, thực hiện nghiêm và có hiệu quả hơn chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo những nội dung chủ yếu như sau:

PHẦN I

VIỆC BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT, CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ VỐN, TÀI SẢN TẠI TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC

1. Những kết quả đạt được trong việc ban hành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

– Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý vốn, tài sản nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty đã được Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan chú trọng, bám sát các chủ trương, chính sách và Nghị quyết của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý để các tập đoàn, tổng công ty hoạt động và quản lý vốn, tài sản nhà nước.

Continue reading

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 1565/CT-TTG NGÀY 06 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3193/QĐ-BTP ngày 9/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ năm ngày 18 tháng 6 năm 2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Ngày 6 tháng 10 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 1565/CT-TTg về triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chỉ thị đã giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong phạm vi quản lý của ngành, địa phương mình.

Trên cơ sở Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp xây dựng Kế hoạch thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bao gồm các nội dung sau:

A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

I. MỤC ĐÍCH

1. Kịp thời xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; chuẩn bị nội dung và các biện pháp cần thiết để thi hành có hiệu quả Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngay từ khi có hiệu lực pháp luật (ngày 01/1/2010).

2. Tổ chức tốt việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các nội dung của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đến cán bộ, công chức và nhân dân. Thống nhất nhận thức trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân về các nội dung của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

3. Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường để đảm bảo áp dụng thống nhất các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở các ngành, các cấp trong phạm vi cả nước.

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG HỢP CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI VỀ VIỆC THỰC HIỆN LỜI HỨA QUA HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN TỪ KỲ HỌP THỨ 5, QUỐC HỘI KHÓA XII ĐẾN NAY

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,

Để chuẩn bị cho phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, theo chỉ đạo của Lãnh đạo Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã gửi công văn đề nghị các Bộ trưởng trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5 và tại phiên họp thứ 22 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho biết về việc tiếp thu thực hiện lời hứa của mình và đến nay đã nhận được văn bản trả lời của 08 vị Bộ trưởng. Sau đây là tổng hợp tình hình thực hiện các lời hứa qua hoạt động chất vấn:

1- Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã trả lời chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội về một số nhóm vấn đề sau: các biện pháp hỗ trợ nông dân gặp khó khăn trong sản xuất; việc sử dụng gói kích cầu trong nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là hệ thống các công trình thủy lợi; về chế biến nông sản thực phẩm; việc phát triển chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh vật nuôi và cây trồng. Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 104/2009/NĐ-CP NGÀY 9 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH DANH MỤC HÀNG NGUY HIỂM VÀ VẬN CHUYỂN HÀNG NGUY HIỂM BẰNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định Danh mục hàng nguy hiểm, việc vận chuyển hàng nguy hiểm và thẩm quyền cấp Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

2. Đối với hoạt động vận chuyển các chất phóng xạ, ngoài việc thực hiện Nghị định này còn phải thực hiện theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử.

3. Đối với hoạt động vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp ngoài việc thực hiện Nghị định này còn phải thực hiện theo quy định của Nghị định số 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về vật liệu nổ công nghiệp.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng với tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài liên quan đến việc vận chuyển hàng nguy hiểm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Việc vận chuyển các loại hàng nguy hiểm phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh của lực lượng vũ trang giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 46/BC-BTTTT NGÀY 16 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VỀ VIỆC TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TẠI KỲ HỌP THỨ 6, QUỐC HỘI KHÓA XII

Kính gửi: Các vị Đại biểu Quốc hội

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XII, một số đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ Thông tin và Truyền thông về trách nhiệm quản lý của Bộ đối với lĩnh vực quản lý báo chí; nội dung thông tin trên Intemet và triển khai quy hoạch hạ tầng viễn thông. Căn cứ các quy định của Luật tổ chức Quốc hội và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Bộ Thông tin và Truyền thông xin trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, đồng thời cung cấp thêm thông tin cho các đại biểu về tình hình hoạt động báo chí, Intemet, viễn thông và công tác QLNN các lĩnh vục trên mà Bộ Thông tin và Truyền thông đã thực hiện trong thời gian qua như sau:

1. Về công tác quản lý báo chí (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử và việc kiểm tra xử lý các sai phạm theo quy định của pháp luật về báo chí:

Những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Một số nước lớn tiếp tục dùng sức ép kinh tế và chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ nhiều quốc gia. Khủng bố, bạo lực và xung đột sắc tộc tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, khủng hoảng kinh tế đã tác động đến mọi nền kinh tế trên thế giới. Các thành tựu về khoa học – công nghệ tiên tiến có tác động mạnh mẽ, sâu rộng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội quy mô toàn cầu.

Trong nước, tình hình chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng khá; Việt Nam được bầu là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, quan hệ đối ngoại được tăng cường trên nhiều mặt đã đưa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, tình hình thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu đã có tác động nhất định tới đời sống kinh tế – xã hội của đất nước; lợi dụng những mặt tồn tại, yếu kém và tình trạng khiếu kiện trong nước, các thế lực thù địch ở bên ngoài tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá Việt Nam trên nhiều mặt, đặc biệt là hoạt động phá hoại về tư tưởng diễn ra quyết liệt.

Continue reading