LUẬT TỐT CHƯA ĐỦ!

DIỆP VĂN SƠN

Luật tốt chưa đủ, khi dưới luật còn rất nhiều những nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị… ban hành kém chất lượng, thiếu tính khả thi. Muốn cho một nền hành chính có hiệu quả, hiệu lực và thông suốt, yêu cầu đầu tiên có tính tiên quyết: các văn bản hành chính phải có chất lượng.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất của Chính phủ, bộ ngành và chính quyền địa phương các cấp là làm sao cho các văn bản ban hành đạt chất lượng cao nhất. Nhưng làm thế nào để đo được chất lượng ban hành văn bản? Có những văn bản dễ dàng nhận thấy là kém chất lượng. Đó là những văn bản trái với Hiến pháp và pháp luật, phi thực tế, rõ ràng không khả thi, chứa đựng nhiều sai lầm không thể chấp nhận được… Ngoài những trường hợp hiển nhiên đó, rất khó có thể đánh giá chất lượng của việc ban hành văn bản. Một khiếm khuyết lâu nay rất dễ nhận thấy và đã để lại nhiều hệ luỵ là việc phân tích chính sách ít được quan tâm đúng mức để làm cơ sở cho việc ban hành văn bản. Thậm chí ngay trong luật ban hành các văn bản pháp luật cũng không đề cập đến công đoạn phân tích chính sách.

Có thể thấy các văn bản kém chất lượng thường xuất phát từ những nguyên nhân sau: không thiết lập được những ưu tiên chính sách chính yếu, không đưa ra được những lựa chọn khó khăn giữa các mục tiêu mâu thuẫn nhau, hoặc không chuyển hoá được những ưu tiên thành các văn bản cụ thể. Có tình trạng thường xuyên né tránh các quy trình, nguyên tắc chính thức trong việc ban hành văn bản. Hoặc do vai trò của tổ chức không rõ ràng, hoặc do có sự mâu thuẫn giữa các chương trình công tác của các bộ ngành, hoặc vì cả hai lý do này, cộng với thất bại trong việc lấy ý kiến của tất cả các bộ có liên quan về các quyết định cụ thể, các ý kiến đệ trình lên Chính phủ được soạn thảo sơ sài và không đánh giá đầy đủ về các chi phí. Nguy hại nhất là có sự cố tình “cài cắm” những nội dung có lợi cho nhóm lợi ích này, nhưng bất lợi cho nhóm khác! Đây là những nhóm thường là vô hình, không chịu trách nhiệm, nhưng lại tác động lên chính sách từ bên ngoài Chính phủ.

Continue reading

XÁC ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI NGƯỜI BỊ HẠI ĐÃ CHẾT TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – Tòa án nhân dân TPHCM

Vấn đề xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định các vấn đề có liên quan trong vụ án mà Hội đồng xét xử cần phải giải quyết, đặc biệt là việc xác định tư cách người đại diện hợp pháp của người bị hại đã chết trong các vụ án hình sự.

Đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Người đại diện theo pháp luật bao gồm:

1.Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

2.Người giám hộ đối với người được giám hộ;

3.Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

4.Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

5.Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;

6.Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác;

7.Những người khác theo pháp luật quyê định.

Đại diện theo ủy quyền

1.Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyề giữa người đại diện và người được đại diện.

2.Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.

Continue reading

TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN: LIỆU CÓ “CHÍN ÉP”?

MINH ÁNH

Xung quanh chuyện về tập đoàn kinh tế tư nhân đang có những đề xuất đòi “chính danh”, những băn khoăn xuất hiện song hành cùng sự kỳ vọng về sự lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân. Nhớ lại, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời, cùng với sự phát triển nhanh của cộng đồng doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân xuất hiện như những dấu ấn mới.

Những cái tên như Tập đoàn HIPT, Tập đoàn Thái Tuấn, Tập đoàn Việt Á, Tập đoàn Mai Linh, Tập đoàn Hòa Phát… bắt đầu được biết đến một cách thuyết phục và ấn tượng.

Câu chuyện tự phong

Thị trường chấp nhận những cái tên này một cách nhanh chóng bởi sự tăng trưởng, phát triển và sức lan tỏa mạnh của chính thương hiệu mà những doanh nghiệp đó tạo dựng. Khi đó, không có quá nhiều băn khoăn về tiền tố tập đoàn trong những thương hiệu được công bố.

Tuy nhiên, mọi việc lại có vẻ không dễ dàng ở khía cạnh pháp lý. Vướng mắc lớn xuất hiện ngay từ những thủ tục đầu tiên, tưởng chừng như rất nhỏ, là đăng ký tên gọi của doanh nghiệp khi chính các tập đoàn tư nhân đầu tiên của Việt Nam quyết định đăng ký đổi tên cho phù hợp với vị thế và quy mô mới. Có lẽ mọi sự rắc rối bắt đầu từ những từ chối của cơ quan đăng ký kinh doanh khi không tìm thấy quy định về tiền tố tập đoàn trong tên gọi. Khi đó, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải vào cuộc. Và những cái tên công ty cổ phần tập đoàn A, công ty TNHH tập đoàn B xuất hiện như một sự dung hòa giữa pháp lý và đời sống doanh nghiệp.

Continue reading

NHỮNG MÂU THUẪN TRONG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT KHIẾU NẠI TỐ CÁO, LUẬT ĐẤT ĐAI, PHÁP LỆNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VÁN HÀNH CHÍNH TRONG MỘT VỤ VIỆC CỤ THỂ

LS. VÕ THÀNH VỊ

Tóm tắt nội dung vụ việc Ngày 30/12/1998, Chính Phủ ban hành Quyết định số 1168/QĐ-TTg về việc cho Công ty Thương mại Củ Chi thuê 2.206.433m2 đất để đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi tại các Xã Tân An Hội, Trung Lập Hạ và thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi- TP.HCM.

Ngày 30/09/2004, Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi có Quyết định số 6187/QĐ-UB về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, nhà cửa, vật kiến trúc, hoa màu đối với hộ gia đình của ông Nguyễn Văn Đức.

Ông Đức có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích đất 17.196m2 trong diện tích 2.206.433 m2 nêu trên, khiếu nại Quyết định số 6187 của Ủy ban Nhân dân huyện Củ Chi là ông chưa có quyết định thu hồi đất theo từng hộ gia đình.

Ông Đức khiếu nại Quyết định số 1168 chỉ gửi cho các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện quyết định theo thẩm quyền, không có gửi cho ông để thi hành, chưa xác định diện tích đất của từng hộ dân bị thu hồi đất, số tờ bản đồ, số thửa, loại đất. Đến nay, ông Đức chưa có quyết định thu hồi đất theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ.

Ngày 24/08/2007 Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi có Quyết định số 3881/QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của ông Đức . Ngày 14/09/2007 ông Đức làm đơn khiếu nại quyết định số 3881 gửi đến ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) TP.HCM.

Ngày 11/09/2008 UBND TP.HCM có Quyết định số 3898/QĐ- UBND bác đơn khiếu nại của ông Đức, quy định: “Đây là quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch UBND thành phố, đối với khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đức. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này, ông Nguyễn Văn Đức có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định”.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: ĐÒI TIỀN TỈ VÌ BỊ “CHÔM” BÀI PHỐI ÂM KARAOKE?

HỒNG TÚ

Ngày 25-11 – 2009, TAND TP.HCM đã thụ lý vụ Công ty Cổ phần Dịch vụ Phú Nhuận (Maseco) kiện Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ-Sản xuất điện tử Cali và Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ Đông Hải. Maseco tỏ ra bức xúc vì cho rằng mình đã phải tốn rất nhiều công sức, chi phí để sáng tạo ra các sản phẩm phối âm MIDI từ các bài hát có sẵn.

Theo đơn kiện, Maseco cho rằng Cali và Đông Hải đã xâm phạm quyền tác giả bài phối âm MIDI Karaoke của mình nên yêu cầu hai công ty trên chấm dứt hành vi xâm phạm, thu hồi toàn bộ số đĩa karaoke đã bán ra thị trường và xin lỗi công khai. Ngoài ra, Cali còn phải bồi thường hơn 8 tỉ đồng, Đông Hải bồi thường gần 4,5 tỉ đồng và thanh toán 380 triệu đồng tiền bản quyền cho Maseco.

Sử dụng không xin phép?

Maseco là nhà sản xuất đầu đĩa thương hiệu Arirang. Năm 2004, Maseco đã được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận quyền tác giả cho bài phối âm Maseco Midi Vision từ Vol 1 đến Vol 36 với hơn 3.000 bài hát thể hiện dưới hình thức tập tin định dạng MIDI.

Sự việc trở nên ầm ĩ khi Maseco gửi văn bản tới cơ quan chức năng tố cáo nhiều công ty, trong đó có Cali và Đông Hải đã tự ý sử dụng các sản phẩm phối âm MIDI Karaoke của Maseco để kinh doanh thu lợi. Maseco cũng gửi nhiều văn bản cho Cali và Đông Hải yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm và thu hồi toàn bộ đĩa karaoke đã bán ra thị trường.

Phúc đáp Maseco, Cali khẳng định mình chỉ có chức năng sản xuất các mặt hàng điện tử, không có chức năng sản xuất, phát hành, kinh doanh băng đĩa nên không liên quan gì. Cali chỉ thừa nhận trong quá trình bán các đầu máy karaoke sáu số mang nhãn hiệu California, có bán kèm đĩa nhạc mua lại từ Đông Hải.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 1359/QĐ-BHXH NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ CẤP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THẺ BẢO HIỂM Y TẾ.

TỔNG GIÁM ĐỐC BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

Căn cứ Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
Căn cứ Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-TC ngày 14 tháng 8 năm 2009 của Liên Bộ Y tế – Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế;
Xét đề nghị của Trưởng Ban Cấp sổ, thẻ.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định về cấp, quản lý và sử dụng thẻ bảo hiểm y tế thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Điều 2. Quy định các chữ viết tắt

Trong văn bản này, các chữ viết tắt và rút gọn được hiểu như sau:

– Bảo hiểm xã hội: viết tắt là BHXH;

– Bảo hiểm y tế: viết tắt là BHYT;

– Khám bệnh, chữa bệnh: viết tắt là KCB;

– Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: gọi chung là BHXH tỉnh;

– Bảo hiểm xã hội các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: gọi chung là BHXH huyện;

– Cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc Đại lý thu BHYT: gọi chung là đơn vị quản lý đối tượng.

Continue reading

NHO GIÁO VÀ PHÁP LUẬT

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Nho giáo, “một cái nhà đẹp, lâu ngày không ai sửa sang, đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống”, tưởng như đã hoang tàn vụn nát trước đủ luồng triết lý Tây phương, liệu có còn giá trị đáng kể gì trong cuộc kiến thiết hệ thống pháp luật Việt Nam. Một câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người đương thời và các thế hệ con cháu mai sau. Bài viết dưới đây bước đầu nghiên cứu vai trò và giới hạn của pháp luật trong những phương cách tác động đến thói quen hành xử của con người, sự tương tác giữa các phương pháp của Nho giáo và phương pháp điều chỉnh của pháp luật, cũng như đưa ra một vài thiển ý góp phần làm cho pháp luật nước ta ngày càng gần hơn với cuộc đời.

Các giáo trình nhà nước và pháp luật đại cương ngày nay thường hối hả phổ biến những phương thức tổ chức kinh tế, xã hội từ Cộng sản Nguyên thuỷ, xã hội Nô lệ, xã hội Phong kiến, xã hội Tư bản, xã hội Xã hội Chủ nghĩa và tiến tới Cộng sản Chủ nghĩa, thậm chí có lúc “cố gọt bỏ thực tế của dân tộc mình để làm sao nhét nó vào được cái khuôn khổ đã có sẵn ấy”. Từ thuyết đó, nảy sinh ra các kiểu nhà nước, các kiểu pháp luật. Khi cắt nghĩa nhà nước và pháp luật, người ta dựa vào triết lý pháp quyền phương Tây, mà không bắt nguồn tử triết lý sống của người Việt Nam về vũ trụ, con người và xã hội. Có những tư duy mới được vay mượn vào nước ta, ví dụ “nhà nước pháp quyền”, nếu chưa biết quy nạp vào đâu, thì cứ theo công thức sáo mòn ấy, không ít người suy luận bừa rằng đó cũng là một kiểu nhà nước. Tuy nhiên giới học thức đúng đắn đã bắt đau tỉnh ngộ; “pháp luật không chỉ là công cụ” trong tay người cam quyền.

Nếu cứ theo khuôn khổ đó, thì điều gì là riêng biệt trong lịch sử phát triển nhà nước và pháp luật Việt Nam. Bên cạnh nền văn hóa Trung Hoa, nền văn hóa pháp luật Việt Nam có những đặc sắc gì? Hết thảy những điều này đều cần có lời giải đáp, bởi con người hành xử theo thói quen, tập tục, bản lĩnh, tâm thức của dân tộc mình. Sau chiến tranh lạnh, ý thức hệ tư tưởng không còn là hố ngăn con người. Tự do thương mại toàn cầu làm cho pháp luật được hài hoà hoá ngày càng nhanh. Trong bối cảnh đó, níu giữ lấy bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có văn hóa pháp lý, trở nên hệ trọng, hệt như giữ lấy sự độc lập quốc gia trước sự xâu xé của thực dân trong thế kỷ XIX. Muốn giữ quốc tuý và rửa nhục nghèo nàn cho đất nước, mượn cách nói của cụ Lương Văn Can (bảo quốc tuý, tuyết quốc sỉ), người học luật nước ta trước hết phải hiểu và tìm cách tôn vinh văn hóa pháp lý và triết học pháp quyền của dân tộc mình.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN VÀ TRÁCH NHIỆM NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS. LÊ THI – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Sau khi định nghĩa khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm nhà nước, xác định trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam và trách nhiệm của cá nhân công dân nước Việt Nam, tác giả đã tập trung phân tích mối quan hệ mật thiết, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam và trách nhiệm của công dân Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo tác giả, bồi đắp sức mạnh liên hợp, tổng hợp giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nhà nước vì lợi ích chính đáng của mỗi người dân và lợi ích chung của toàn thể cộng đồng xã hội cần có sự cố gắng từ cả hai phía người dân và nhà nước, cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân của toàn thể công dân và ý thức trách nhiệm nhà nước của toàn thể bộ máy, của cán bộ, nhân viên nhà nước.

1. Về định nghĩa khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm nhà nước

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, trách nhiệm là khái niệm của ý thức đạo đức ý thức pháp luật, nói lên nhân cách con người trong việc thực hiệnnghĩa vụ do xã hội đặt ra cho con người. Nội dung vấn đề trách nhiệm đặt ra là: con người hoàn thành và hoàn thành đến mức độ nào, hoặc không hoàn thànhnhững yêu cầu xã hội đặt ra cho họ.

Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hành độngnghĩa vụ,hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc điểm cho hành động có ý thức của con người.

Con người ngày càng nhận thức được các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội thì năng lực chi phối tự nhiên, xã hội càng lớn và trách nhiệm con người đối với hành vi của mình càng lớn hơn.

Về mặt pháp lý, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyềnnghĩa vụ, quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn.

Theo Từ điển Triết học (Nxb Mátxcơva, 1986), trách nhiệm là phạm trù đạo đức và luật học phản ánh thái độ đạo đức, pháp luật của cá nhân đối với xã hội(đối với nhân loại nói chung). Thái độ này biểu thị ở sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật.

Continue reading