TRÁCH NHIỆM DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM SỰ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP, CHÍNH PHỦ VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ

GERD MUTZ – Giáo sư Kinh tế và Chính sách xã hội, Đại học Khoa học ứng dụng Munich, Cộng hoà Liên bang Đức, Giáo sư Chính sách xã hội, Đại học Bozen (Italy)

Người dịch: ThS.VŨ MẠNH TOÀN – Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Bài viết bàn về vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và trong xã hội dân sự. Sau những phân tích sâu sắc nội hàm định nghĩa trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp, tác giả phân tích vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp ở châu Á. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam với một vốn hiểu biết phong phú.

Dẫn luận

Mối liên hệ giữa doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự đang lan rộng ra toàn thế giới. Ở phương Tây, các chương trình trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp đã xuất hiện ở nhiều doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau. Tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm của trách nhiệm doanh nghiệp. Thông qua các chương trình khác nhau, công dân doanh nghiệp (người lao động) đã được cử tới các tổ chức xã hội hoặc tham gia vào các dự án xã hội. Trong những năm gần đây, trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp được nhìn nhận như là bộ phận của quản lý bền vững với mục đích chính là đưa môi trường xã hội và môi trường sinh thái vào nội dung (của công tác) quản lý chứ không chỉ đơn thuần tính đến các chỉ số phát triển kinh tế.

Trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp là những phát kiến của các doanh nghiệp có nguồn gốc từ Mỹ và được áp dụng ở đó từ hơn hai mươi năm trước. Ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, những chương trình này đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới: không chỉ ở châu Âu, mà còn ở Nam Mỹ và ở châu Á.

Continue reading

LÃI SUẤT CƠ BẢN VÀ TRẦN LÃI SUẤT

NGUYỄN QUANG A

Trong thảo luận về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, nhiều đại biểu Quốc hội đã không nhất trí với việc Ngân hàng Nhà nước tìm cách loại bỏ "lãi suất cơ bản", một công cụ hữu hiệu "để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất"; "để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng".

Một phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư  pháp của Quốc hội nói rằng Uỷ ban của bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản. Thậm chí bà còn gay gắt đặt câu hỏi, rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích "bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?".

Tôi cũng nhiều khi không tán thành các chính sách của Ngân hàng Nhà nước và cũng có nhiều ý kiến về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước. Ý kiến của tôi nhiều lúc cũng khá gay gắt. Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên về thái độ góp ý có phần quy chụp như vậy của một đại biểu Quốc hội. Còn ngạc nhiên hơn khi được biết ý kiến của một số đại biểu khác "đã bày tỏ thái độ đồng thuận với bà".

Riêng về lãi suất cơ bản, tôi ủng hộ Ngân hàng Nhà nước, không chỉ trong Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước mà còn trong các kiến nghị trước của họ đã bị Uỷ ban của bà Phó chủ nhiệm bác bỏ. Theo tôi, liên quan đến lãi suất cơ bản, những người soạn thảo và Ngân hàng Nhà nước đã thực sự bảo vệ lợi ích của đất nước.

Tất cả các ngân hàng trung ương đều dùng lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất cho vay tối thiểu của mình (bank rate) khi chiết khấu các hối phiếu của các ngân hàng thương mại  hay cho chúng vay. Đây là một công cụ mà không ngân hàng trung ương nào từ bỏ để kiểm soát soát lãi suất và tín dụng. Lãi suất cơ sở hay cơ bản (base rate) là lãi suất mà các ngân hàng thương mại lấy làm cơ sở để định ra lãi suất cho vay hay lãi suất tiền gửi của  mình.

Continue reading

CÔNG CỤ PHÁP LÝ BỊ LÃNG QUÊN

PHẠM THÁI QUÍ

Công tác xét xử, giải quyết các vụ, việc về hôn nhân và gia đình của ngành Toà án cho thấy, tình trạng vi phạm chế độ một vợ một chồng xảy ra tương đối nhiều, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi nhưng rất ít khi bị xử lý.

Kết hôn chưa được bao lâu thì vợ chồng anh T, chị H phát sinh mâu thuẫn. Do suy nghĩ nông nổi nên chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tuy giận chồng bỏ đi, nhưng chị vẫn mong anh T đến đón về sum họp gia đình. Nào ngờ, anh T không đoái hoài đến chị nữa. Biết đã lỡ bước ra đi thì rất khó quay trở về nên chị H làm đơn yêu cầu TAND huyện TH giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Sau khi thụ lý vụ án, TAND huyện TH đã triệu tập anh T đến để hoà giải, nhưng anh T cố tình vắng mặt. Toà án phải cử cán bộ về địa phương để xác minh và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tiến hành hoà giải. Khi nhóm cán bộ của Toà án đến trụ sở UBND xã thì được biết, anh T. đã cưới vợ khác và sắp sinh con.

Trường hợp của anh S và chị L còn tệ hơn. Trong thời gian chị L về nhà mẹ đẻ sinh con, anh S đã quen biết rồi phát sinh tình cảm với chị V. Bỏ qua tình nghĩa vợ chồng, vượt cả rào cản pháp luật, anh S đã quyết định đến chung sống như vợ chồng với chị V mà không quan tâm đến mẹ con chị L nữa. Khi đứa con chung của anh S và chị V đến tuổi đi học, anh S đưa con đến đăng ký nhập học thì nhà trường không chấp nhận, vì cháu không có giấy khai sinh. Lúc này anh S mới làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn với chị L để được kết hôn với chị V…

Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng. Nguyên nhân xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, trước hết là do hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế nhưng không được các tổ chức, đoàn thể tuyên truyền, giải thích để họ chấm dứt hành vi vi phạm. Trong khi đó, những người vợ hợp pháp lại luôn quan niệm không nên “vạch áo cho người xem lưng”, do đó cam chịu mà không lên tiếng. Một nguyên nhân quan trọng nữa là do thiếu trách nhiệm, nên chính quyền địa phương đã làm ngơ, không xử lý kịp thời để răn đe giáo dục đối tượng vi phạm. Cán bộ địa phương vẫn coi việc chung sống không hợp pháp là chuyện tình cảm riêng tư nên ít quan tâm, xử lý.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: GHEN ẨU PHẢI ĐỀN TIỀN

NGUYÊN TRƯỜNG

Không chứng cứ, một phụ nữ vẫn đi rêu rao rằng bà hàng xóm ngoại tình với chồng mình. TAND tỉnh Bến Tre vừa xử phúc thẩm một vụ đòi bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Tòa tuyên bác kháng cáo, y án sơ thẩm, buộc vợ chồng bà C. phải bồi thường 5,4 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần cho người hàng xóm là bà N. Ngoài ra, tòa cũng buộc vợ chồng bà C. phải công khai xin lỗi bà N. tại tổ nhân dân tự quản nơi hai bên sinh sống.

Tình ngay lý gian?

Theo hồ sơ, bà C. trình bày rằng một ngày cuối tháng 12-2008, thấy chồng đi khỏi nhà, bà liền theo dõi và thủ sẵn cái máy ảnh. Đến nhà bà N., bà đứng ngoài rình một lát thì xông vào, thấy chồng mình và bà N. đang ôm nhau trên bộ ván nên lấy máy ảnh ra chụp nhiều kiểu.

Ngược lại, bà N. kể lúc đó bà đã phân bua ngay là chồng bà C. đến mua rượu, thấy nhà có mỗi mình bà nên giở chứng làm càn nhưng bà C. nhất quyết không nghe, còn kêu người đến làm chứng. Người làm chứng đến không chứng kiến được gì cả nhưng cũng lớn tiếng bảo bà N. quá đáng dù bà đã cố gắng giải thích là “ông ấy cưỡng bức tôi”. Sau đó thì mạnh ai về nhà nấy.

Một tuần sau, cả cái xóm chợ nơi hai bên sinh sống ai ai cũng truyền miệng nhau rằng “Bà N. giựt chồng bà C.”. Vì lẽ đó, bà N. chẳng dám ra đường, con cái bị mọi người dè bỉu, gia đình hục hặc. Qua tìm hiểu, gia đình bà N. biết được vợ chồng bà C. đem sự việc trên kể cho nhiều người nghe. Người chồng thì bảo trước giờ có quan hệ lén lút với bà N., còn người vợ thì luôn miệng khẳng định bà N. giựt chồng mình. Đến một ngày, con gái bà N. không chịu được lời bàn ra tán vào đã đến gặp bà C. yêu cầu chấm dứt việc tuyên truyền này. Hai bên lại cự cãi um xùm và bà C. chửi thẳng là “Má mày giựt chồng tao”…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: THẨM PHÁN TỰ . . . XỬ ÁN

HỒNG THỦY

Được phân công giải quyết vụ án "Tranh chấp hợp đồng vay", thẩm phán TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) Lê Ngọc Tuấn – đã cố tình "ngâm" hồ sơ vụ kiện đến hơn hai năm. Sau đó, vị thẩm phán này đã tự "sáng tác" ra "đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện" và giả mạo chữ ký của đương sự để ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (QĐĐCVGQVA).

Năm 2000, bà Trương Kế Hữu Hiền (ngụ tại số 5 đường Hùng vương, phường 2, TX Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) có cho ông Trần Văn Đức (ngụ tại 2524 Phạm Thế Hiển, phường 6, quận 8, TP.HCM) vay 50 triệu đồng với lãi suất 1,2% tháng.
Để bảo đảm cho khoản vay này, ông Đức được ông Võ Văn Bé uỷ quyền thế chấp căn nhà và thửa đất tại số 112 ấp Khánh An, xã Trân Khánh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 556177 do UBND huyện Lấp Vò cấp ngày 16.7.1997, cho bà Hiền. Giấy uỷ quyền này được ông Ngô Văn Khoa – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Khánh Trung – xác nhận.
Sau đó, do làm ăn thua lỗ, ông Đức không trả được nợ và lãi. Ngày 06.5.2002, bà Hiền làm đơn khởi kiện ông Đức, ông Bé ra TAND huyện Lấp Vò. Vụ án được giao cho thẩm phán Lê Ngọc Tuấn giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán Tuấn đã cố tình kéo dài thời gian, không đưa ra xét xử . Bà Hiền đã nhiều lần đến gặp thẩm phán Tuấn và cả Chánh án TAND huyện Lấp Vò Nguyễn Văn Mỹ yêu cầu đưa vụ kiện ra xét xử nhưng chỉn lời câu trả lời là cứ chờ.

Mãi đến ngày 9.5.2008, bà Hiền mới nhận được giấy mời của TAND huyện Lấp Vò triệu tập đến để giải quyết vụ việc. Nhưng khi đến toà án thì không có ai giải quyết nên phải ra về.
Ngày 02.6.2008, TAND huyện Lấp Vò lại triệu tập bà Hiền đến giải quyết vụ kiện. Tại đây, bà Hiền bất ngờ nhận được QĐĐCVGQVA số 20/QĐ.ĐC ngày 10.6.2004 do thẩm phán Lê Ngọc Tuấn ký.

Continue reading