KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHỮNG THÁCH THỨC XÃ HỘI TOÀN CẦU MỘT CÁCH NHÌN TỪ NƯỚC ĐỨC

GS. TS. GERHARD KRUIP – Đại học Mainz, Đức ( Người dịch: ThS.CAO THU HẰNG; Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG  – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

Trong bài viết này, tác giả, dưới góc nhìn từ nước Đức, đã phân tích một cách khái quát những lợi ích và thách thức xã hội toàn cầu của kinh tế thị trường tự do. Từ đó, trình bày ý tưởng của Giáo hội Thiên Chúa giáo và Tin Lành ở Đức về “nền kinh tế thị trường xã hội”, cái được coi là con đường tốt nhất để thực hiện tự do và công bằng trong xã hội hiện đại; phân tích những nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường xã hội cũng như những vấn đề đặt ra hiện nay của kinh tế thị trường xã hội ở nước Đức. Đặc biệt, từ những kinh nghiệm vận dụng kinh tế thị trường xã hội ở Đức, tác giả đã có một số ý kiến đóng góp nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến sự chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam.

Nhận xét sơ bộ

Khái quát sự phát triển của các nước khác nhau trên thế giới cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế mở với thị trường thế giới và có những cải cách nhằm tạo ra nhiều tự do hơn cho các cơ chế thị trường tự do đã thu được nhiều thành công về kinh tế hơn so với những nước vẫn duy trì mô hình kế hoạch hoá tập trung và tự cung tự cấp. Vấn đề ở đây dường như không phải là sự phụ thuộc vào những cấu trúc của kinh tế thế giới, mà (đúng hơn) là sự cô lập với tính năng động của nền kinh tế thế giới và toàn cầu hoá(1). Ví dụ điển hình cho nhận xét này là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam – một nước có đường lối phát triển rất đặc biệt và ấn tượng. Kể từ khi tuyên bố đổi mới năm 1986 và bắt đầu chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Trong những năm qua, Việt Nam đã trở thành nước có nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai trên thế giới. Điều này giúp cải thiện mức sống của người dân và chống đói nghèo(2). Tuy nhiên, cuộc khng hoảng tài chính hiện nay cho thấy, một sự phụ thuộc lẫn nhau như vậy cũng là nguyên nhân của nhiều vấn đề. Mặc dù vậy, việc thực hiện những mục đích phát triển sẽ trở nên dễ dàng hơn trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề thông qua sự hợp tác quốc tế thay vì quay lại thời kỳ của chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập.

I. Những lợi ích của nền kinh tế thị trường tự do 

Tại sao thị trường tự do lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhiều hơn? Những lợi thế của thị trường tự do là gì? So với nền kinh tế kế hoạch tập trung, theo tôi, nền kinh tế thị trường tự do có ít nhất 6 lợi thế, mà lúc này, tôi xem như một “mô hình lý tưởng” (Ideal model) – theo cách nói của Max Weber(3).

Continue reading

BÀI HỌC TỪ MỘT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) Việt Nam cần mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho thực tế là đại bộ phận hợp đồng đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ, khi phía Việt Nam mua hàng theo điều kiện CIF hoặc CFR thì người bán nước ngoài sẽ tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch không rõ ràng với giá cước thấp. Câu chuyện dưới đây là minh chứng.

Bốc dỡ gạo xuất khẩu tại cảng

Cuối năm 2006 một Doanh nghiệp ở Hà Nội nhập lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá 1.400.000 USD, từ một Cty ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2000, cảng TP HCM và Hải Phòng. Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ. Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp lý của con tàu cũng như chủ tàu. Theo điều kiện CFR, người bán đã thuê tàu PLJ của chủ tàu BJS ở Hong Kong chở lô hàng về Việt Nam. Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng Việt Nam, khi đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước.

Ngay lập tức người bán thông báo cho người mua biết vụ việc. Họ giải thích rằng họ đã nhận đủ tiền bán hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và về măt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra vì theo điều kiện CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hóa đã chuyển tư người bán sang người mua kể từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua ngay lập tức phản đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán không thấy có quy định nào buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho rằng cần làm việc với hãng bảo hiểm để đòi bồi thường (lô hàng được mua bảo hiểm của BMI và BVI ở Việt Nam). Tuy nhiên phía bảo hiểm khẳng định theo điều kin bảo hiểm ICC 1982 (Institute Cargo Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được miễn mọi trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ. Một số ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để đòi bồi thường. Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải Việt Nam (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông lệ quốc tế (Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận chuyển cũng được thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa xảy ra trong trường hợp tàu bị bắt giữ.

Continue reading

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005: Những vấn đề cần quan tâm

LỆ HẰNG

Theo quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Dưới đây là những đặc điểm cơ bản cũng như một số ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 141)

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 143)

Continue reading

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005: NHỮNG VẪN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

LỆ HẰNG

Theo quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Dưới đây là những đặc điểm cơ bản cũng như một số ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 141)

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 143)

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 9: TRANH LUẬN VỀ QUYỀN PHỦ QUYẾT CỦA TÒA ÁN VÀ CÁCH BẦU CHỌN THẨM PHÁN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 21 tháng Bảy năm 1787

Mặc dù điều khoản thiết lập nhánh tư pháp liên bang đã được Hội nghị thảo luận từ giữa tháng Sáu, nhưng sau này, do nhiều thay đổi và biến động, nên Hội nghị đã đưa ra thảo luận lại, đặc biệt là việc có trao quyền phủ quyết cho các thẩm phán không.

Thật bất ngờ là các đại biểu chủ chốt nhất của Hội nghị như Madison, Mason, G. Morris và James Wilson, những người được coi là khôn ngoan và thông thái nhất, lại hoàn toàn thất bại trong việc thuyết phục các đại biểu khác chấp nhận cho phép Tòa án Tối cao tham gia vào quyền phủ quyết của Tổng thống.

Trong những buổi họp này, cách thức bầu chọn thẩm phán cũng được thảo luận kỹ càng, bởi mục đích của cơ quan này là sự độc lập và sáng suốt, không chỉ để xét xử dân chúng mà còn để phán xét mọi sai trái của nhánh hành pháp cũng như nhánh lập pháp. Tuy nhiên, cũng như nhiều vấn đề phức tạp khác, sau khi đồng ý cho phép Quốc hội chọn lựa thẩm phán, khi bản dự thảo Hiến pháp được thảo luận lại vào cuối tháng Tám, Hội nghị lại trao quyền chọn thẩm phán cho Tổng thống.

Ngài WILSON: Đề xuất sửa đổi điều khoản số 10, nên viết là "nhánh tư pháp quốc gia sẽ cùng với bộ máy hành pháp giữ quyền phủ quyết các đạo luật do Quốc hội ban hành". Trước đây, đề xuất này đã được đưa ra nhưng bị bác bỏ. Nhưng ông tin vào tác dụng tích cực của qui định này, nên ông buộc phải nêu lại. Bộ máy tư pháp cần có cơ hội khuyên can và ngăn chặn sự tiếm quyền của dân chúng cũng như của Quốc hội. Các thẩm phán sẽ là những người giải thích Hiến pháp nên phải có trách nhiệm bảo vệ nó.

Cách thiết lập tòa án hiện nay cho phép cơ quan này có quyền lực lớn, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Luật pháp có thể không công bằng, có thể không khôn ngoan, có thể nguy hiểm, có thể mang tính phá hoại, nên sẽ không sáng suốt nếu không trao cho các thẩm phán quyền phủ quyết. Hãy để họ cùng chia sẻ quyền phủ quyết các đạo luật với Tổng thống. Họ sẽ phân tích những bộ luật và sẽ sử dụng quyền lực của mình chống lại những quan điểm sai trái của cơ quan lập pháp.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4347/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC TRIỂN KHAI NGHỊ ĐỊNH SỐ 98/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUI ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC CHO DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, CƠ QUAN, TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI, TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ CÁ NHÂN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Kính gửi:

– Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để triển khai thực hiện Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 98/2009/NĐ-CP); Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện một số công việc sau:

1. Tổ chức phổ biến trực tiếp đến nhà đầu tư các quy định phải thực hiện tại Nghị định số 98/2009/NĐ-CP; phối hợp với Liên đoàn Lao động địa phương đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện ở các doanh nghiệp trên địa bàn.

2. Tuyên truyền, giải thích trên các phương tiện thông tin truyền thông (đài truyền hình, đài phát thanh, các báo) về nội dung của Nghị định số 98/2009/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan quy định về quyền, lợi ích đối với người lao động mà người sử dụng lao động phải thực hiện.

3. Khi triển khai thực hiện cần nắm vững và giải thích thống nhất cho doanh nghiệp một số nội dung sau:

a) Người lao động hưởng mức lương tối thiểu theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP là người lao động làm công việc giản đơn nhất không phải qua học nghề trong điều kiện lao động bình thường.

b) Người lao động đã qua học nghề hưởng lương theo quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP bao gồm:

Continue reading

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. TRẦN THÀNH – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Nói về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải ba vấn đề có tính thời sự, song cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Ba vấn đề đó là: 1) Vấn đề thiết kế mô hình cụ thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2) Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. 3) Vấn đề tạo lập những điều kiện, cơ sở cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng.

Khi chủ nghĩa xã hội bước vào cải tổ, cải cách, đổi mới, một số nhà lý luận, chính trị gia xã hội chủ nghĩa đã đề xuất xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền. Đề xuất này đã làm nảy sinh những ý kiến chỉ trích, phản ứng từ không ít người. Khi đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, một số người đã cho rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền là từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Có người lại coi việc xây dựng nhà nước pháp quyền là thừa nhận sự phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà quyền lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thống nhất, không phân chia, và do vậy, không phù hợp. Cũng có người đặt vấn đề, khi đề cập tới nhà nước kiểu mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin không hề nói tới nhà nước pháp quyền và do vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền trong chủ nghĩa xã hội là không theo quan điểm của các nhà kinh điển, v.v.. Từ một phía khác, có ý kiến lại cho rằng, trong nhà nước pháp quyền, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân và do vậy, không cần phải phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa nữa.

Continue reading

CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM: Nhận diện và giải pháp thực hiện

GS.TS. ĐỖ HUY – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Để làm rõ vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích bốn thời kỳ thực hiện vấn đề này ở Việt Nam, từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay. Đó là:

1) Thời kỳ mất công bằng toàn diện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; 2) Thời kỳ cống hiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; 3) Thời kỳ phân phối bình quân trên cơ sở tập thể hoá và quốc doanh hoá; 4) Thời kỳ đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề phải giải quyết, như hệ thống chuẩn mực xã hội, năng suất lao động, quyền lực, nhất là quyền sở hữu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp thực hiện, trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền, hiện đại hoá lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trước năm 1945, Việt Nam là một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, tuyệt đại bộ phận nhân dân sống lầm than, cơ cực trong bất công của thân phận người dân mất nước. Hơn 90% người nông dân không có ruộng cày phải đi làm thuê, cấy mướn. Người công nhân trong nhà máy, hầm mỏ bị bóc lột sức lao động đến cạn kiệt. Nhiều tộc người ở miền xa, miền sâu còn sống du canh, du cư, không nhà ở, sinh hoạt như người cổ xưa. Đói nghèo, sự bất bình đẳng toàn diện là bức tranh tổng quát của xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc giải phóng vĩ đại đối với mọi bất công và đặt cơ sở cho một tiến trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội kiểu mới. Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng này mang lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam phải được độc lập, nhân dân Việt Nam phải được tự do. Đó là công bằng xã hội lớn nhất trong quan hệ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân Việt Nam trong cộng đồng nhân loại. Như tất cả các dân tộc khác, nhân dân Việt Nam phải có quyền quyết định vận mệnh của mình.

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không chỉ xác lập quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại; nó còn thống nhất quyền lợi của các dân tộc đa số và dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cuộc cách mạng ấy đã đem lại cơ hội để đồng bào miền ngược, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa phát triển mọi khả năng của mình.

Continue reading

CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM: NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

GS.TS. ĐỖ HUY – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Để làm rõ vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích bốn thời kỳ thực hiện vấn đề này ở Việt Nam, từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay. Đó là:

1) Thời kỳ mất công bằng toàn diện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; 2) Thời kỳ cống hiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; 3) Thời kỳ phân phối bình quân trên cơ sở tập thể hoá và quốc doanh hoá; 4) Thời kỳ đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề phải giải quyết, như hệ thống chuẩn mực xã hội, năng suất lao động, quyền lực, nhất là quyền sở hữu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp thực hiện, trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền, hiện đại hoá lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trước năm 1945, Việt Nam là một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, tuyệt đại bộ phận nhân dân sống lầm than, cơ cực trong bất công của thân phận người dân mất nước. Hơn 90% người nông dân không có ruộng cày phải đi làm thuê, cấy mướn. Người công nhân trong nhà máy, hầm mỏ bị bóc lột sức lao động đến cạn kiệt. Nhiều tộc người ở miền xa, miền sâu còn sống du canh, du cư, không nhà ở, sinh hoạt như người cổ xưa. Đói nghèo, sự bất bình đẳng toàn diện là bức tranh tổng quát của xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc giải phóng vĩ đại đối với mọi bất công và đặt cơ sở cho một tiến trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội kiểu mới. Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng này mang lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam phải được độc lập, nhân dân Việt Nam phải được tự do. Đó là công bằng xã hội lớn nhất trong quan hệ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân Việt Nam trong cộng đồng nhân loại. Như tất cả các dân tộc khác, nhân dân Việt Nam phải có quyền quyết định vận mệnh của mình.

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không chỉ xác lập quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại; nó còn thống nhất quyền lợi của các dân tộc đa số và dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cuộc cách mạng ấy đã đem lại cơ hội để đồng bào miền ngược, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa phát triển mọi khả năng của mình.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NGUYÊN ĐƠN 83 TUỔI, BỊ ĐƠN 84 TUỔI

VIỆT CƯỜNG

* Vụ án kéo dài hơn 7 năm, đã có bốn cụ là đồng nguyên đơn và người liên quan qua đời ở tuổi 72 đến 84!
* Cần nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử

Nguyên đơn đột quị tại Tòa

Theo trình bày của ông Nguyễn Văn Bé (SN 1926), cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn Hạo và Trang Thị Nga là chủ khu vườn 4.370 mét vuông tại xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, cho con trai là Nguyễn Văn Ngàn trực tiếp quản lý sử dụng, được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) năm 1999. Vợ chồng cụ Hạo có 10 người con, gồm: Nguyễn Văn Điệu (SN 1918), Nguyễn Thị Tỷ (SN 1920, chết), Nguyễn Văn Đủ (SN 1922), Nguyễn Thị Trâm (SN 1924), Nguyễn Văn Ngàn (SN 1926), Nguyễn Văn Bé (SN 1927), Nguyễn Thị Chính (SN 1930), Nguyễn Thị Mười (SN 1932), Nguyễn Thị Khéo (SN 1936) và Nguyễn Văn Su (SN 1940).

Cụ Nga qua đời năm 1968, cụ Hạo qua đời năm 1977, không để lại di chúc. Có sổ đỏ, ông Ngàn định sang nhượng khu đất, các anh chị em trong gia tộc phát hiện ngăn chặn dẫn đến tranh chấp. UBND xã Long Hòa hòa giải ngày 21-2-2002 không thành.
Vụ tranh chấp được TAND huyện Cần Giờ thụ lý ngày 28-5-2002. Hai ông Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Đủ đại diện cho chín anh em đứng nguyên đơn. Do ông Nguyễn Văn Điệu và bà Nguyễn Thị Trâm đã mất nên con là Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Chiếm thay thế. Quá trình tố tụng, ông Đủ bị đột quỵ tại phòng làm việc số 2, TAND Cần Giờ vào ngày 27-6-2002. Sau hơn hai năm, ngày 13-7-2004 thẩm phán Nguyễn Lê Thiên Hương ký quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì “thời hiệu khởi kiện đã hết”. Trước đó, bị đơn Nguyễn Văn Ngàn có đơn xin xác nhận lại nguồn gốc khu đất 4.370 mét vuông do ông khai phá chứ không phải “của cha mẹ để lại” như đã khai trước đó. Tuổi cao, bệnh tật, ông Đủ không chịu nổi cú sốc khi vụ án bị đình chỉ nên đã qua đời ngày 22-1-2005. Ngày 28-2-2005, thẩm phán TANDTP Vũ Thị Hòa ký quyết định phúc thẩm số 320/QĐPT bác đơn kháng cáo.

Continue reading