HƯỚNG ĐI CỦA ĐẠI HỌC

GS. CAO HUY THUẦN

Tôi không biết rõ đại học Việt Nam đang đi thế nào và sẽ đến đâu, nhưng tôi biết đại học ở bên ngoài, trên thế giới, đang đi làm sao, đang biến chuyển thế nào, và tôi cũng biết: với thời đại của toàn cầu hóa, những biến chuyển đó sẽ lan rộng ra đến ta, đại học Việt Nam sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng. Vậy nói chuyện bên ngoài cũng là nói chuyện của ta, tranh luận bên ngoài sẽ giúp ta thấy rõ vấn đề hơn để tự mình tìm hướng đi cho chính mình.

Tôi sẽ nói chuyện với các bạn sinh viên về đại học

Tôi chân thành cảm tạ Đại Học Hoa Sen đã cho tôi vinh dự được góp phần mở đầu năm học với một "bài giảng đầu năm". Điều này nói lên hai ý nghĩa. Một, là uy tín và quan hệ của Đại Học Hoa Sen đang mở rộng ra đón thế giới đại học ở bên ngoài. Hai, là tầm quan trọng của những lễ lược truyền thống trong đại học mà lễ khai giảng là một. Bản thân tôi, khi còn là sinh viên, tôi đặc biệt thích truyền thống mở đầu năm học bằng một bài giảng đầu năm dành cho toàn thề sinh viên, không phân biệt lớp cao lớp thấp. Đến khi đi dạy, tôi lại đặc biệt thích bài nói chuyện cuối năm học, khi cấp phát bằng, trong các đại học Mỹ. Ai học môn dân tộc học đều biết: lễ nghi quan trọng vô cùng trong xã hội, bởi vì đó là cách truyền đạt ý nghĩa và cảm xúc đến đầu và tim của mỗi thành viên, thắt chặt tình liên đới và thắp lên một hoài bão cộng đồng. Bởi vậy, tôi rất hân hạnh và sung sướng được làm sống lại một truyền thống đẹp đẽ của đại học với bài khai giảng đầu năm này.

Tôi sẽ nói chuyện với các bạn sinh viên về đại học. May mắn cho tôi, đề tài đã có sẵn; đó là đề tài của Hội Thảo vừa diễn ra hôm qua, hôm kia, tại Đại Học Hoa Sen: " Hướng đi của Đại học Việt Nam vào thế kỷ 21". Tôi không biết rõ đại học Việt Nam đang đi thế nào và sẽ đến đâu, nhưng tôi biết đại học ở bên ngoài, trên thế giới, đang đi làm sao, đang biến chuyển thế nào, và tôi cũng biết: với thời đại của toàn cầu hóa, những biến chuyển đó sẽ lan rộng ra đến ta, đại học Việt Nam sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng. Vậy nói chuyện bên ngoài cũng là nói chuyện của ta, tranh luận bên ngoài sẽ giúp ta thấy rõ vấn đề hơn để tự mình tìm hướng đi cho chính mình.

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 3: NHỮNG LẬP LUẬN CỦA MADISON PHẢN ĐỔI PHƯƠNG ÁN NEW JERSEY

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 19 tháng Sáu năm 1787

Ngày 19 tháng Sáu, Madison đã có một bài phát biểu dài phản đối mọi đề xuất của Paterson. Với những lập luận rất chặt chẽ, ông đã viện dẫn rất nhiều ví dụ về lịch sử những Liên bang của châu Âu, để chứng minh sự cần thiết phải xây dựng một liên bang duy nhất.

Trong đó, các tiểu bang phải đại diện theo qui mô dân số. Đó là con đường duy nhất để duy trì sự ổn định và thịnh vượng của 13 tiểu bang Bắc Mỹ. Chính nhờ những lập luận sắc bén của ông mà Hội nghị đã đồng ý sử dụng Phương án Virginia làm nền tảng cơ bản cho mô hình chính quyền liên bang.

Sau này, những lập luận đó lại được Madison sử dụng trong các bài luận văn Người Liên bang.

Ngài MADISON: Nhiều đại biểu gây áp lực vì cho rằng Hội nghị này không được trao đủ quyền lực cần thiết để đề xuất bất cứ mô hình nào khác ngoài mô hình liên bang. Ngoài những điều đã được các đại biểu khác trình bày, ông muốn bổ sung thêm rằng không có một kế hoạch liên bang nào như vậy đáp ứng được đòi hỏi cấp bách hiện nay. Một đặc điểm trong chính quyền liên bang là quyền lực không áp đặt trên các cá nhân mà là áp đặt trên tập thể, trên các tiểu bang.

Nhưng trong một số trường hợp, như những vụ cướp biển, chiếm đoạt tài sản trên biển, theo Các điều khoản Hợp bang hiện nay và trong nhiều trường hợp được mở rộng như Ngài Paterson đề nghị, là điều hành trực tiếp đối với các cá nhân. Một đặc điểm khác là chính quyền liên bang không phải trực tiếp do dân chúng mà do các chính quyền tiểu bang chọn ra. Nhưng đại biểu Quốc hội Hợp bang của Connecticut và Rhode Island lại được chọn do dân chúng, chứ không phải do cơ quan lập pháp. Phương án của Ngài Paterson không dự định thay đổi điều này.

Continue reading

KINH NGHIỆM TRUNG QUỐC VÀ MỸ: CHỐNG LẠM THU TRONG GIÁO DỤC

XUÂN QUÂN

Đối phó với tình trạng lạm thu các loại phí, Chính phủ Trung Quốc đã thẳng tay áp dụng các biện pháp “rắn”. Còn đối với hệ thống giáo dục ở Mỹ, mức thu phí cao thấp rất rõ ràng.

Thu đủ các loại phí

Vấn đề phổ biến và gây nhức nhối nhất trong các trường học của Trung Quốc chính là tình trạng thu các loại phí bừa bãi. Tại một số thành phố, muốn cho con cái vào các trường điểm tiểu học và trung học, phụ huynh phải hoa mắt vì các khoản lệ phí: tiền chọn trường điểm, tiền đóng góp sổ vàng cho nhà trường… Thậm chí ở một số trường trọng điểm của Bắc Kinh, lệ phí chọn trường là 3,5 vạn NDT (khoảng 70 triệu đồng).

Chưa hết, một số trường còn đề ra rất nhiều khoản thu khác như tiền hoa hồng bảo hiểm cho học sinh, tiền ăn, tiền dụng cụ học tập để “móc túi” phụ huynh học sinh. Tất nhiên, các khoản thu này đều nằm ngoài sổ sách và không có hóa đơn chứng từ lẫn chữ ký của bộ phận thu tiền.

Đại đa số học sinh và phụ huynh không nắm rõ mức học phí chuẩn hoặc có biết thì cũng cố gắng “dĩ hoà vi quý”, không muốn tranh cãi với nhà trường, sợ ảnh hưởng đến con em mình. Điều này khiến Chính phủ Trung Quốc khó khăn trong việc ngăn chặn hiện tượng này.

Mạnh tay ngăn chặn

Vài năm gần đây, vấn nạn lạm thu trong giáo dục của Trung Quốc ngày càng bức xúc. Làm thế nào để ngăn chặn tình trạng này là vấn đề dư luận xã hội quan tâm. Và mới đây, Chính phủ đã có nhiều động thái chấn chỉnh.

Continue reading

CHỌN HÌNH THỨC NÀO?

ÁNH HỒNG NGÂN – LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2005, giờ đây nhà đầu tư cá nhân trong nước muốn khởi nghiệp kinh doanh đã có hai sự lựa chọn, một là doanh nghiệp tư nhân (“DNTN”) và hai là công ty trách nhiệm hữu hạn (“TNHH”) một thành viên. Tuy nhiên, không ít nhà đầu tư cá nhân băn khoăn không biết là nên thành lập DNTN hay công ty TNHH một thành viên, những điểm được và chưa được của mỗi sự lựa chọn đó là như thế nào?

Về tư cách pháp lý và quản lý doanh nghiệp

Từ trước đến nay, DNTN là một hình thức doanh nghiệp được khá nhiều nhà đầu tư cá nhân trong nước lựa chọn bởi sự gần gũi của nó đối với tập quán kinh doanh của người Việt cũng như tính đơn giản, tự chủ cao trong tổ chức và điều hành doanh nghiệp.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì DNTN có thể được xem là doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân (1). Với bản chất chịu trách nhiệm vô hạn cho chủ sở hữu như vậy, DNTN chứa đựng nhiều rủi ro cho chính sở hữu chủ doanh nghiệp khi mà họ phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tại cùng một thời điểm thì mỗi nhà đầu tư cá nhân chỉ được thành lập và duy trì một DNTN mà thôi (cũng như không phải là thành viên hợp danh của bất kỳ một công ty hợp danh nào khác).

Trong khi đó, công ty TNHH một thành viên lại có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn cá nhân chủ sở hữu đăng ký vào công ty và không bị hạn chế về số lượng công ty TNHH mà một nhà đầu tư cá nhân là thành viên góp vốn được phép thành lập.

Với những quy định như vậy, rõ ràng so với công ty cổ phần hay công ty TNHH, DNTN chứa đựng nhiều rủi ro và hạn chế hơn. Chính vì vậy nên khi soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2005, có khá nhiều ý kiến lo ngại rằng việc cho phép nhà đầu tư cá nhân được quyền thành lập công ty TNHH một thành viên sẽ dẫn đến việc dần dần triệt tiêu DNTN vì nhà đầu tư cá nhân nào cũng mong muốn giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

Continue reading

TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NHÌN TỪ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

QUỐC KHÁNH

“Chúng tôi phải mất 24 tháng một ngày mới được cấp phép đầu tư. Vậy làm sao đơn giản thủ tục đầu tư hơn nữa?”, chủ đầu tư một dự án bất động sản du lịch rộng 300ha vào Cát Bà hỏi tại diễn đàn thảo luận về cơ hội đầu tư bất động sản ngày 21.10 tại TP.HCM.

Không có câu trả lời cụ thể cho nhà đầu tư trong nước này. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh hy vọng trong tương lai sẽ có lời giải khi thực hiện đề án của Chính phủ nhằm giảm 30% thủ tục hành chính.

Trước lời giải đáp mang tính nguyên tắc của nguyên viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, ông Trần Xuân Giá thổ lộ, có lúc ông cũng bi quan về khả năng cải cách thủ tục hành chính trong tám năm có chân trong ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. Hiện có chân trong hội đồng quản trị của một ngân hàng thương mại cổ phần, ông Giá chia sẻ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước: “Vô số cái trong thủ tục hành chính hiện nay cũng hành tôi không kém gì anh”. Cựu bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư xác nhận, một loạt cơ chế tưởng chừng dễ làm, làm nhanh được, mang lại hiệu quả thiết thực, thí dụ bắt đầu từ cải cách thủ tục hành chính, thế mà 15 năm rồi vẫn dẫm chân tại chỗ, cắt bớt thủ tục này mọc ra thủ tục khác.

Thủ tục hành chính rườm rà chỉ là một phần khiến cho môi trường kinh doanh chưa thật sự bình đẳng, thông thoáng, theo đánh giá của ông Giá. Trong suy nghĩ của ông, ba vấn đề trở thành các điểm tắc nghẽn lớn đối với phát triển là thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng yếu kém. Vì vậy, trong báo cáo dự báo kinh tế Việt Nam 2010 trình bày tại diễn đàn về bất động sản, ông Trần Xuân Giá nhấn mạnh đến việc khắc phục những mặt yếu cơ bản của nền kinh tế để có dư địa cho tăng trưởng và phát triển. Trong đó, cơ bản nhất là chất lượng tăng trưởng.

“Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy khuyết điểm của nền kinh tế được nữa”.

TS Trần Xuân Giá

 

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 2: CÁC CUỘC TRANH LUẬN TẠI HỘI NGHỊ LẬP HIẾN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Trong khi các đại biểu cuối cùng đang lần lượt ký tên vào bản Hiến pháp thì đại biểu đáng kính nhất là Franklin chỉ tay vào hình mặt trời sau lưng ghế Chủ tịch Hội nghị, nói với một vài đại biểu đứng gần đó rằng những họa sĩ vẽ nó khó phân biệt được đó là cảnh mặt trời đang mọc hay đang lặn.

Ông nói, trong cuộc họp này, ông thường nhìn vào hình mặt trời với những niềm hy vọng đan xen những nỗi sợ hãi và ông không thể nói được đó là cảnh mặt trời đang mọc hay đang lặn. Nhưng giờ đây, cuối cùng, ông đã cảm thấy hạnh phúc, vì biết chắc rằng đó là cảnh mặt trời đang mọc, chứ không phải đang lặn.

Ghi chép của Madison tại Hội nghị Lập hiến ngày 17 tháng Chín năm 1787

Hội nghị Lập hiến tiến hành theo hình thức thảo luận lần lượt từng điều khoản và từng mô hình chính quyền do các đại biểu đệ trình. James Madison được coi là tác giả chính của bản Hiến pháp, như sau này nhiều người gọi ông là "Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ". Không chỉ tham gia tích cực vào các cuộc thảo luận và đề xuất những giải pháp, Madison còn là người duy nhất không bỏ sót một buổi họp nào và ghi chép lại đầy đủ những cuộc tranh luận tại Hội nghị.

Ngoài bản ghi chép của Madison, còn có các bản chép tay của Rufus King, của Robert Yates và cả Biên bản chính thức của Hội nghị Lập hiến do Thư ký Jackson ghi lại. Nhưng bản ghi chép của Madison đầy đủ hơn bất cứ một bản ghi chép nào, kể cả biên bản của Hội nghị vì Jackson chỉ chép lại những ý kiến đề xuất của các đại biểu, sơ lược nội dung các cuộc tranh luận và kết quả bỏ phiếu cuối cùng.

Tới năm 1840, tức là 53 năm sau khi Hội nghị Lập hiến kết thúc và sau khi Madison mất được 4 năm, theo di chúc của ông, bản ghi chép này mới được công bố với tiêu đề "Những cuộc tranh luận tại Hội nghị Liên bang năm 1787". Có thể vì ông phải thực hiện đúng qui định của Hội nghị là cấm không công bố bất cứ thông tin nào về quá trình hội họp mà bản thân ông bị ràng buộc. Chỉ sau khi tất cả các đại biểu tham dự Hội nghị qua đời, thì Madison mới quyết định cho công bố văn kiện này.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3745/BTP-BTTP NGÀY 26 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CHUYỂN GIAO VIỆC CHỨNG NHẬN HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH SANG TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

Kính gửi:

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Thực hiện Luật công chứng năm 2006, Nghị định số 02/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật công chứng, khoản 8 Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đã quy định về việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch mà Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đang chứng thực sang cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nhằm tách bạch rõ hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực, tăng cường bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch của tổ chức, cá nhân. Bộ Tư pháp đã có Công văn số 978/BTP-HCTP ngày 2/4/2009 gửi các Sở Tư pháp và Công văn số 1939/BTP-BTTP ngày 18/6/2009 gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về vấn đề này. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến ngày 22/10/2009 đã có 37 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyết định chuyển giao các hợp đồng, giao dịch từ Uỷ ban nhân dân sang cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện, còn 26 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa thực hiện việc chuyển giao (danh sách kèm theo).

Ngày 19/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP vè cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại điểm b khoản 4 Điều 26 Nghị định quy định “ 4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm…b) Thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương để đáp ứng yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch  về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất; xem xét, quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch mà Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đang thực hiện sang tổ chức hành nghề công chứng ở những địa bàn cấp huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng được yêu cầu công chứng…”.

Continue reading

CHỈ THỊ SỐ 7823/CT-BGDĐT NGÀY 27 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NĂM HỌC 2009 – 2010

Sau 23 năm đổi mới của đất nước, giáo dục đại học nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Hàng triệu lao động trình độ cao đẳng, đại học, hàng vạn lao động trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đã và đang là lực lượng chủ lực, nòng cốt của quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Số trường đại học, cao đẳng tăng gấp 3,7 lần, số sinh viên tăng gấp 13 lần, số giảng viên tăng gấp hơn 3 lần.

Tuy nhiên giáo dục đại học đang đứng trước thách thức rất to lớn: phương pháp quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng chậm được thay đổi, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ giáo viên, các nhà quản lý và sinh viên. Chất lượng nguồn nhân lực đang là một khâu yếu kém, kéo dài của toàn bộ hệ thống kinh tế. Vì vậy, năm học 2009 – 2010 phải là một năm học khởi đầu cho quá trình 3 năm tập trung đổi mới về chất việc quản lý giáo dục đại học. Đổi mới quản lý nhà nước giáo dục đại học chính là khâu đột phá để nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục đại học. Chủ đề năm học 2009 – 2010 là: “Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội”. Việc đổi mới quản lý giáo dục đại học trong 3 năm tới cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần khẩn trương rà soát, hoàn chỉnh và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý giáo dục đại học theo yêu cầu: Nhà nước ban hành đầy đủ các quy định, quy chế liên quan đến hoạt động của các trường đại học, cao đẳng như: thành lập trường đại học, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, quản lý tài chính, quản lý chất lượng, tuyển dụng, trách nhiệm và chế độ của nhà giáo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, thư viện, quan hệ giữa Ban giám hiệu, Hội đồng trường, Đảng ủy, các đoàn thể ở trường để từ đó các trường đại học, cao đẳng thực hiện quyền tự chủ và nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm trước xã hội và nhà nước theo quy định của Luật Giáo dục. Nhà nước ban hành các quy định về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành khác và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này trong việc quản lý và đánh giá các cơ sở giáo dục đại học.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN: LY HÔN TÒA LẠI GIAO CON CHO BÀ NGOẠI

NGUYÊN TRƯỜNG

Theo luật, chỉ khi cha mẹ, anh, chị, em không còn thì ông bà nội, ông bà ngoại mới có quyền nuôi dưỡng cháu.

TAND TP Bến Tre (Bến Tre) vừa có văn bản kiến nghị gửi chánh án TAND tỉnh Bến Tre về một bản án ly hôn của tòa này bị TAND tỉnh sửa trước đó.

Sơ thẩm: Cha được nuôi

Theo hồ sơ, cuối năm 2008, anh N. nộp đơn ra TAND thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) xin ly hôn với chị Ng.

Tại phiên sơ thẩm tháng 11-2008, anh N. khai vợ chồng họ kết hôn năm 2003, nay đã có một con chung năm tuổi. Sau hai năm chung sống tại TP.HCM, vợ chồng bất đồng quan điểm nên chị Ng. đem con về sống với cha mẹ ruột tại Bến Tre. Nay anh yêu cầu tòa cho ly hôn và được trực tiếp nuôi con, còn tài sản chung và nợ chung thì không có gì.

Ở phiên xử này, chị Ng. chỉ có bản tự khai gửi đến tòa do trước đó chị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, đang phải thụ án sáu năm tù. Theo bản tự khai, chị đồng ý ly hôn, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung mà chỉ yêu cầu được nuôi con.

TAND thị xã Bến Tre nhận định về mặt hôn nhân, hai bên đương sự đều thuận tình chia tay. Về mặt nuôi dưỡng con chung, chị Ng. đang thụ án tù, không có điều kiện nuôi con. Vì vậy, tòa đã chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N., giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa cũng ghi nhận là nếu sau này, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên thì tòa có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Phúc thẩm: Bà ngoại được nuôi

Sau đó, chị Ng. có đơn kháng cáo gửi từ trại giam, yêu cầu tòa phúc thẩm giao con cho mình nuôi. Tháng 3-2009, TAND tỉnh Bến Tre xử phúc thẩm đã ra phán quyết trái ngược hoàn toàn so với cấp sơ thẩm: Giao quyền nuôi con cho chị Ng. Vì chị Ng. đang thụ án tù nên tòa giao cho mẹ chị tiếp tục nuôi dưỡng cháu bé cho đến khi chị chấp hành án xong.

Continue reading

TÒA ÁN THẬT CHO THẾ GIỚI ẢO

GIA VŨ (Theo New Scientist)

Trong khi nền kinh tế toàn cầu còn bùng nhùng trong cơn suy thoái thì hoạt động kinh doanh trong các thế giới ảo như Second Life, Facebook và Everquest lại khởi sắc và phát triển rất nhanh. Ranh giới kinh tế giữa thế giới ảo và thật đang thu hẹp nhanh chóng, làm phát sinh những rắc rối pháp lý cần tới tòa án để phân xử.

Thế giới ảo

Hãng phân tích tài chính Mỹ Piper Jaffray ước tính trong năm 2009, người Mỹ sẽ đổ khoảng 621 triệu USD vào các thế giới ảo. Con số này thậm chí còn cao hơn rất nhiều tại châu Á. Còn theo số liệu của hãng nghiên cứu Plus Eight Star, năm ngoái người dùng đã bỏ khoảng 5 tỉ USD để đầu tư vào các tài sản trong thế giới ảo.

Chẳng hạn như trong Second Life, chỉ tính riêng quý II, cư dân mạng đã giao dịch khoảng 144 triệu USD, tăng 94% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính trung bình, Second Life có mức trao đổi hàng hóa và dịch vụ (dĩ nhiên là ảo) đạt khoảng 600 triệu USD/năm. Hiện Second Life đang là nền kinh tế ảo lớn nhất với giá trị thậm chí còn cao hơn GDP của hàng chục quốc gia trung bình trên the giới cộng lại.

Hàng nghìn người chơi đang kiếm tiền trong thế giới ảo bằng cách buôn bán, trao đổi hàng hóa ảo – từ quần áo, đồ đạc tới các tác phẩm nghệ thuật. Thậm chí, người ta còn tổ chức dịch vụ… cưới ảo, phiên dịch hoặc tư vấn kiến trúc. Số người kiếm hàng trăm nghìn USD từ những dịch vụ kiểu này không phải là hiếm, và đã có rất nhiều “công dân ảo” trở thành tỉ phú trong thế giới thực.

Còn tại Việt Nam, thế giới ảo cũng không phải khái niệm mới lạ. Giao dịch trong các thế giới này cũng sôi động không kém. Một đôi nhẫn “Vô danh” trong game Võ Lâm Truyền Kỳ đã có thời điểm được rao bán hàng trăm triệu đồng; một bộ đồ Hoàng Kim cũng có giá vài chục triệu đồng, và rất nhiều giao dịch có giá trị khác.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4277/TCT-TNCN NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA TỔNG CỤC THUẾ – BỘ TÀI CHÍNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI TRÚNG THƯỞNG TRONG CÁC TRÒ CHƠI TẠI ĐIỂM VUI CHƠI GIẢI TRÍ CÓ THƯỞNG

Kính gửi:

Công ty Cổ phần Quốc tế Hoàng Gia
(Đ/c: Thành phố Hà Long, Tỉnh Quảng Ninh)

Trả lời Công văn số 329 CV/HG ngày 28/9/2009 của Công ty đề nghị hướng dẫn về thời điểm bắt đầu thực hiện và kiến nghị về việc thu thuế TNCN đối với người trúng thưởng theo Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại Điểm vui chơi giải trí có thưởng, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Thời điểm hiệu lực của Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/8/2009 của Bộ Tài chính.

Theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại Điểm vui chơi giải trí có thưởng thì thời điểm hiệu lực của Thông tư là sau 45 ngày kể từ ngày ký, tức là được áp dụng từ ngày 27/9/2009.

Từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày 26/9/2009 (hiệu lực của Thông tư là ngày 27/01/2009) các quy định về xác định thu nhập chịu thuế, khấu trừ thuế, khai thuế đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại Điểm vui chơi giải trí có thưởng được áp dụng theo quy định tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.

2. Về kiến nghị của Công ty đối với việc thu thuế thu nhập cá nhân đối với người trúng thưởng.

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 1: TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ

NGUYỄN CẢNH BÌNH

“Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn Chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”. Bài phát biểu của Patrick Henry, tại Đại hội tiểu bang Virgina, Ngày 23 tháng Ba năm 1775.

Hội nghị Lập hiến

Thứ Sáu, ngày 25 tháng Năm năm 1787, một lớp đất mới được trải lên con đường rải sỏi phía trước tòa nhà Hạ viện tiểu bang Pennsylvania, trên đường Chestnut , giúp những người đàn ông đang họp bên trong tránh khỏi những tiếng ồn ào của những chiếc xe ngựa chạy bên ngoài. Lính gác đứng ở cửa ngăn không cho những đám đông tò mò vào bên trong và giữ họ ở một khoảng cách xa.

Đây là những đại biểu tham dự Hội nghị Liên bang, được các tiểu bang cử đến với nhiệm vụ sửa đổi những thiếu sót của chính quyền đương thời. Hội nghị dự định khai mạc từ ngày 14 tháng Năm, nhưng lúc đó chỉ có mặt các đại biểu của tiểu bang Virginia và Pennsylvania, nên buộc phải hoãn lại.

Scene_at_the_Signing_of_the_Constitution_of_the_United_StatesTrong ngày đầu khai mạc Robert Morris, đại biểu tiểu bang Pennsylvania, nhà "tài chính" của cuộc Cách mạng Mỹ, đã mở đầu Hội nghị bằng việc đề cử Tướng George Washington cho chức Chủ tịch Hội nghị Lập hiến. Phiếu bầu hoàn toàn nhất trí. Với sự nghiêm trang và khiêm tốn, vị Tổng tư lệnh đã thể hiện sự bối rối của mình trong việc làm chủ tọa một Hội nghị trang trọng như vậy và xin lỗi nếu có bất kỳ sai sót nào mà ông có thể mắc phải trong quá trình thảo luận kỹ lưỡng này.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ?

GS. CAO HUY THUẦN – Đại Học Amiens (Pháp)

Bài này nảy ra trong đầu người viết sau khi đọc một bài báo trong Le Monde vào đầu năm nay (24-2-2004) nhan đề: “Sự thức tỉnh công dân của người Trung Quốc”. Bài báo tóm tắt và bình luận một bài viết của một tác giả Trung Quốc, Qiu Feng, đăng trong một tạp chí Trung Quốc, Zinwen Zhoukan, nói về“phong trào tranh đấu mới đang xảy ra hiện nay cho dân quyền” tại láng giềng của chúng ta. “Phong trào”! “tranh đấu”! “dân quyền”! Nghe mà phát sợ! Xin minquan xingdong! Tân dân quyền hành động! Muốn đọc nguyên văn bài viết, nhưng không phải ai cũng thông như cụ Tú Xương,cống hỷ méc xì đây thuộc cả, cho nên đành dựa theo báo Tây để tóm tắt lại chuyện Tàu.

Tác giả Qiu Feng phân tích hơn chục vụ việc đã gây xôn xao trên báo chí Trung Quốc trong năm 2003. Một số những vụ việc đó chẳng có gì mới, vẫn là địa phương nhũng lạm, công an bắt người trái phép: hoặc bắt người rồi lỡ tay đánh chết, hoặc bắt người rồi giam lâu quá, con trẻ ở nhà chết đói, hoặc bắt người vì có chút tư tưởng hơi khác, chuyện quen thuộc cả. Cái mới là trước đây chẳng ai nghĩ đến việc phải làm rùm beng, bây giờ trở thành chuyện phải nói trong dư luận, trong báo chí. Một số vụ việc khác mới hơn: tranh đấu để có thêm ứng cử viên độc lập trong những bầu cử địa phương; tranh đấu để bảo vệ quyền sở hữu nhà cửa… Mới hay cũ, tất cả các vụ việc đó đều mang ba đặc tính: quy tụ được một dư luận quần chúng; kết tinh được một nhu cầu tôn trọng pháp luật; thúc đẩy được một chính quyền trung ương, lúng túng giữa mở và khép, thỉnh thoảng phải can thiệp để sửa sai các quan chức địa phương, tác giả các vụ việc gây phẫn nộ. Đó là quang cảnh mới diễn ra trước sân khấu. Đàng sau sân khấu là một tấm phông vĩ đại vẽ lên bao nhiêu dâu biển của thời thế: đô thị bành trướng, doanh nghiệp Nhà nước đang đóng hòm, nông thôn khủng hoảng, dân quê kéo nhau lên thành phố, giai cấp trung lưu áo mũ xênh xang, tầng lớp doanh nhân cất mình bay bổng … Cái mới ngày nay là càng ngày càng đông dân chúng ý thức phải có luật lệ trong một xã hội đang quá xáo trộn. Chơi còn phải có luật chơi, huống hồ làm ăn! Giữa tấm phông đó, linh động một lớp người mới, một nghề mới: các luật gia. Chẳng phải ngẫu nhiên mà một trong hai “ứng cử viên độc lập” được bầu vào ủy ban nhân dân địa phương ở Bắc Kinh là một luật gia.

Continue reading

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ XÁC LẬP HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó trưởng khoa Kinh tế – Luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Có những nét tương đồng rất cơ bản giữa Việt Nam và các nước theo văn hoá pháp lý romano -germanic trong việc xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng và, nói riêng, các giải pháp cho bài toán về điều kiện xác lập hợp đồng.

Có những nét tương đồng rất cơ bản giữa Việt Nam và các nước theo văn hoá pháp lý romano – germanic trong việc xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng và, nói riêng, các giải pháp cho bài toán về điều kiện xác lập hợp đồng. Pháp luật hợp đồng của Việt Nam đã tiếp nhận và vận dụng khá nhiều khái niệm và chế định đặc trưng của hệ thống đó (1). Các thành tựu của văn hoá pháp lý Anh – Mỹ cũng được tiếp nhận và xuất hiện trong luật Việt Nam như là những yếu tố đóng góp bổ sung vào việc hoàn thiện hệ thống pháp lý (2). Tuy nhiên, do được xây dựng trong một hệ thống tư duy mang tính thực dụng cao, nhiều điểm cơ bản trong lý thuyết hợp đồng trong luật học Anh – Mỹ không phù hợp với tư duy pháp lý truyền thống và đạo đức truyền thống Việt Nam. Bởi vậy, việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam nên được thực hiện chủ yếu trên cơ sở xem xét, so sánh, tham khảo và vận dụng có chọn lọc các thành tựu của hệ thống romano – germanic.

Trong khuôn khổ xây dựng Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, người làm luật phân chia các điều kiện xác lập hợp đồng thành hai nhóm: các điều kiện chung, áp dụng cho tất cả các loại giao dịch, trong đó có hợp đồng, và các điều kiện riêng đối với hợp đồng. Về phương diện khoa học luật, có thể tiếp cận các điều kiện này theo một góc nhìn khác, cho phép phân chia các điều kiện thành hai nhóm: nội dung và hình thức.

1. Điều kiện về nội dung

1.1. Ý chí

1.1.1. Sự tồn tại của ý chí

Đề nghị và chấp nhận đề nghị. Điều chắc chắn là không thể có hợp đồng một khi ít nhất một bên không hề mong muốn giao kết. Sự gặp gỡ của ý chí là điều kiện để một hợp đồng được xác lập. Thế nhưng, có điều kiện còn tiên quyết hơn nữa, đó là ý chí giao kết phải hiện hữu. Luật của Pháp, của Anh – Mỹ, nói chung, của nhiều nước tiền tiến thừa nhận rằng sự hiện hữu của ý chí chỉ được ghi nhận một khi nó được bộc lộ ra ngoài và ở trong tình trạng có thể được người khác nhận biết. Luật Việt Nam hiện hành, vận dụng kinh nghiệm của các nước, có xây dựng các khái niệm về đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng để mô tả và điều chỉnh quá trình bộc lộ đi đến sự gặp gỡ ý chí của các bên trong quan hệ kết ước.

Continue reading

PHẢN BIỆN CÁC GÓC NHÌN KHÁC NHAU VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

ĐẶNG THẾ TRUYỀN – AUSTRALIA

Sự đánh giá, phân tích thực trạng cũng như gợi ý giải pháp mà nhiều chuyên gia kỳ cựu và đầu ngành giáo dục Việt Nam, cũng như của một số người Việt Nam quan tâm tới lĩnh vực này có lẽ toàn diện, sâu sắc, sát thực hơn những gì tôi nhận được từ hai tài liệu vừa được đọc.

Qua Tuần VietNam.net, tôi có cơ hội được đọc "Ý kiến của Trường ĐH Harvard bàn về khủng hoảng giáo dục ĐH ở Việt Nam", cũng như bài tranh luận của Giáo sư Koblitz (sau đây tôi gọi là 2 tài liệu). Sau khi đọc kỹ 2 tài liệu, và phần tổng hợp một số ý kiến của các độc giả khác, tôi xin trao đổi một số vấn đề.

Cần đặt giáo dục ĐH trong giải pháp tổng thể

Về tài liệu của nhóm tác giả ĐH Harvard về khủng hoảng giáo dục ĐH ở Việt Nam và đề xuất của nhóm chuyên gia Harvard về giải pháp. Vì bản đăng trên TuanVietNam.net chỉ là bản tổng hợp nội dung cơ bản, nên có thể không thông tin đầy đủ và chi tiết cần thiết để hiểu một cách cặn kẽ hơn. Cảm nhận của tôi là tài liệu đã phác họa thực trạng nền giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay. Các tác giả cũng cung cấp một số thông tin về giáo dục ĐH ở một số nước khác, tạo điều kiện cho độc giả có thể so sánh thực trạng của Việt Nam với nước ngoài, qua đó hiểu rõ hơn tính cấp bách của việc cải cách giáo dục ĐH trong nước.

Trên cơ sở các phân tích, các tác giả đề xuất phương án xây dựng một cơ sở ĐH mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, phải nói rằng các vấn đề của nền giáo dục Việt Nam đã được nhiều giới quan tâm, như các nhà lập chính sách, những người công tác trong ngành giáo dục, và công chúng (nhất là phụ huynh, các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên, các nhà tuyển dụng…) phát hiện từ khá lâu.

Continue reading

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC THEO TƯ TƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN KHÁNH – Nguyên Bí thứ TƯ Đảng, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ

Những năm gần đây, Việt Nam đã và đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dân chủ và hiện đại. Đây cũng là quá trình tạo dựng những nền tảng quan trọng cho sự đồng thuận theo tư tưởng phát triển của thời kỳ mới đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Những tư tưởng chính của Đảng về sự phát triển của Việt Nam

Tư tưởng cơ bản về sự phát triển của Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là: đưa Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển, trở thành một quốc gia giàu và mạnh, xã hội Việt Nam sẽ là một xã hội ổn định, dân chủ, bình đẳng, công bằng và văn minh, toàn dân Việt Nam có cuộc sống an toàn, phong phú về vật chất và tinh thần. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm và bản sắc dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn, tính dân tộc và tính thời đại.

Tư tưởng phát triển của Việt Nam là sự kế thừa và phát triển lý thuyết về phát triển xã hội của Mác – Ăng-ghen – Lê-nin – Hồ Chí Minh, là kết quả tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm có giá trị của thế giới về phát triển xã hội, phát triển con người.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, những tư tưởng cơ bản này sẽ biến thành những chiến lược, tư tưởng chỉ đạo và chính sách, thể hiện tinh thần khoa học, cách mạng trong thời kỳ mới, phù hợp với những đặc điểm của Việt Nam, với yêu cầu, khả năng hiện thực của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Hai điều kiện cơ bản để thực hiện thành công tư tưởng phát triển của Việt Nam là:

– Những giá trị khoa học, nhân văn và cách mạng của tư tưởng phát triển được truyền bá sâu, rộng trong xã hội và nhân dân, thuyết phục được các tầng lớp nhân dân rằng đó là con đường tốt nhất, hướng đi đúng nhất, cách làm tốt nhất trong điều kiện nước ta để Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, văn minh, hùng mạnh.

Continue reading

PHỤ NỮ THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: KHÓ KHĂN TỪ NHIỀU PHÍA

TS. ĐỖ THỊ THÚY – ViettinBank

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một công việc đầy gian khó đối với cả nam giới lẫn phụ nữ. Nhưng phụ nữ càng gặp nhiều khó khăn hơn khi bước chân vào NCKH, vì bên cạnh hoàn tất nhiệm vụ ở cơ quan, phụ nữ còn phải gánh vác công việc gia đình. Tuy nhiên, bằng niềm đam mê công việc, ham muốn học hỏi để nâng cao và cập nhật kiến thức cho mình, cho đến nay, phụ nữ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có đạt được nhiều thành tựu trong NCKH. Nhiều chị em với cương vị là lãnh đạo, quản lý đã tham gia NCKH để có những phát minh, sáng kiến, cải tiến ứng dụng có kết quả trong sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng thêm của cải cho xã hội và tạo dựng một hình ảnh về lực lượng phụ nữ lãnh đạo và tham gia NCKH.

Chính những đóng góp tích cực và cụ thể của phụ nữ vào thành quả của công cuộc đổi mới đất nước đã, đang làm thay đổi dần những định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội và xã hội đã thừa nhận phụ nữ có khả năng tham gia công việc, khả năng NCKH không thua kém nam giới. Nhưng những khó khăn từ nhiều phía mà người phụ nữ tham gia NCKH phải đối mặt vẫn còn…

Những khó khăn khi phụ nữ tham gia NCKH

Thứ nhất, vẫn còn sự phân biệt nam nữ trong NCKH.

Sự khác biệt về giới là một yếu tố cơ bản khiến người phụ nữ NCKH khó khăn hơn nam giới. Con đường bước ra khỏi cánh cửa gia đình để đi vào các hoạt động nghiên cứu của phụ nữ bao giờ cũng là con đường đầy những chông gai, không phải người phụ nữ nào cũng có thể vượt qua được. Nhất là khi Việt Nam là một nước đang phát triển, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nên họ phải đối mặt với nhiều thách thức, định kiến về bình đẳng giới, về vai trò và năng lực nghiên cứu của phụ nữ; Trong nhân dân, kể cả trong một bộ phận cán bộ, công chức vẫn có nhiều người coi thường phụ nữ. Tư tưởng này chính là căn nguyên tác động đến việc đánh giá các ý tưởng khoa học, công trình nghiên cứu của các cán bộ nữ.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 181/ĐC-CP NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ ĐÍNH CHÍNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH BỔ SUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT, GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Do sơ suất trong khâu đọc soát, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, xin đính chính một số sai sót trong Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:

1. Tại trang 5 dòng thứ 7 từ trên xuống (khoản 5 Điều 9), viết là: “các khoản 1, 2 và 3”.

Nay xin sửa lại là: “các khoản 2, 3 và 4”.

2. Tại trang 21 dòng thứ 13 từ trên xuống (điểm a khoản 1 Điều 32), viết là: “các Điều 27, 28, 29 và 38”.

Nay xin sửa lại là: “các Điều 29, 30 và 31”.

3. Tại trang 21 dòng thứ 15 từ trên xuống (điểm b khoản 1 Điều 32), viết là: “ khoản 6 Điều 29”.

Nay xin sửa lại là: “khoản 4 Điều 31”.

4. Tại trang 22 dòng thứ 8 từ dưới lên (điểm e khoản 1 Điều 34), viết là: “khoản 1 Điều 22”.

Nay xin sửa lại là: “khoản 1 Điều 19”.

5. Tại trang 28 dòng thứ 13, 14 và 15 từ trên xuống (điểm a khoản 2 Điều 41), viết là: “Điều 10, Điều 12, bỏ nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của khu công nghệ cao, khu kinh tế quy định tại các Điều 14, 30, 52, 125, 126, 127 và 141 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP”.

Continue reading

TÌM HIỂU CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÀI HÒA HÓA VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

LÊ DUY

Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm chi tiết hơn các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.

Cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.

Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Continue reading