TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: LƯƠNG TÂM NGƯỜI CẦM CÂN, NẢY MỰC Ở ĐÂU?

TIỂU PHƯƠNG

Tại phiên toà xét xử ly hôn giữa bà Lê Thị Tiến và ông Diêm Đăng Bình, trú tại thôn An Liễu, xã Lam Cốt (Tân Yên, Bắc Giang), nhiều người không khỏi day dứt trước những câu hỏi của cả bốn đứa con dành cho cha đẻ của mình: Từ khi con được sinh ra, đã bao giờ bố coi chúng con là con chưa, hay chỉ là đám nô lệ?

Bà Tiến và ông Bình lập gia đình năm 1974. Thời gian đầu, cuộc sống không có xô xát gì lớn, nhưng càng về sau, ông càng trở nên độc đoán, đối xử tàn nhẫn với vợ con. Những trận đòn vô cớ liên tiếp dội lên đầu. Bà đã từng nhập viện tâm thần điều trị hơn một tháng vì bị chồng đánh cho đến gần ngất xỉu, làm ảnh hưởng dây thần kinh não.

Công an xã Lam Cốt và chính quyền địa phương đã nhiều lần can thiệp, ông Bình tỏ ra ăn năn hối lỗi, nhưng sau đó lại chứng nào, tật nấy. Không chỉ với vợ, ngay cả những đứa con đẻ của ông cũng sẵn sàng chịu trận bất kể lúc nào.

Theo lời bà Tiến và các con trình bày, ông Bình cũng đã xác nhận trước toà: Gia đình vừa làm ruộng, vừa chăn nuôi và sau này làm thêm nghề xay sát gạo. Nhà ông bà có cả một gian chứa thóc, lúc nào thóc trong nhà cũng có hàng chục tấn. Nhưng gian thóc đó bị ông khoá chặt, mẹ con bà không bao giờ được bước chân vào.

Đi chợ bán gạo về nộp lại tiền cho ông. Hàng tháng, ông cân ra một số thóc nhất định cho cả nhà ăn, nếu không đủ thì lấy khoai, sắn trừ bữa. Con trai út nấu cháo lỡ để rớt xuống đất, ông bắt con cúi xuống liếm hết. Một lần, đi làm về không thấy con trai lớn nấu cơm, ông Bình xúc một bát… phân bò bắt con phải ăn, nó không chịu, ông đánh.

Không những thế, mẹ con bà còn bị phía gia đình ông Bình luôn tìm cớ xỉ vả, chì chiết, doạ dẫm… Ngay cả người em dâu đằng nhà chồng cũng tự cho mình "cái quyền" sỉ nhục bà.

Continue reading

ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ: MỜ NHẠT TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN

CẨM VÂN

Tài sản vô hình (trong đó có tài sản trí tuệ) đang ngày càng được thừa nhận là có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Sử dụng hiệu quả việc định giá nhãn hiệu là yếu tố cốt lõi trong việc quản lý loại tài sản này. Trong nền kinh tế “mới”, nhãn hiệu với ý nghĩa nhân tố trung tâm của thương hiệu chính là nền tảng của thành công. Thế nhưng, qua nhiều cuộc khảo sát được tiến hành tại một số quốc gia phát triển, định giá nhãn hiệu hầu như chưa được nghiên cứu, thiếu sự thống nhất về nguyên tắc, tiêu chuẩn, thuật ngữ và vì vậy, thực tiễn về hoạt động định giá còn mờ nhạt.

Dần dần được các doanh nghiệp quan tâm

Định giá nhãn hiệu bắt đầu thịnh hành từ khoảng những năm 1980. Các tiêu chuẩn kế toán gần đây mới có yêu cầu lập báo cáo về các giá trị tài sản vô hình trong bảng cân đối tài chính. Cho nên, có thể nói, định giá nhãn hiệu đang ngày càng thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp (DN). Trong cuộc khảo sát năm 1997 ở Anh cho thấy 57% DN chưa định giá tài sản trí tuệ cho quản lý nội bộ, nhưng đã có 76% thực hiện định giá trong các giao dịch và chỉ có 26% thực hiện định giá cho mục đích tăng khả năng tài chính. Năm 1998, tiến hành khảo sát 253 DN hàng đầu ở Bắc Mỹ thì 63% DN cho rằng rất cần thiết phải định giá các sáng kiến, sáng chế song chỉ có 14% đã thực hiện công việc này và 12% sử dụng việc định giá cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh. Gần đây nhất, vẫn còn không ít DN nhận xét, việc định giá gặp rất nhiều khó khăn và chưa phải là trách nhiệm thường xuyên của người quản lý kinh doanh và thường giao việc định giá cho các luật sư nội bộ của DN.

Tuy nhiên, tình hình đang được cải thiện rõ rệt thông qua các chương trình huấn luyện về quản lý vốn và tài sản trí tuệ do nhiều tổ chức tiến hành ở cả phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đã mở rất nhiều cuộc hội thảo và có nhiều công trình nghiên cứu về định giá tài sản vô hình ở các cấp độ khác nhau, kể cả cấp chính phủ, cấp DN và trong cộng đồng nghiên cứu khoa học. Hội đồng tiêu chuẩn định giá quốc tế (IVSC) đã đưa ra các dự thảo về các nguyên tắc, phương pháp định giá tài sản vô hình. Các tổ chức, hiệp hội định giá tại Hoa Kỳ, Anh, Đan Mạch cũng đưa ra dự thảo về thống nhất và tiêu chuẩn hoá phương pháp định giá tài sản vô hình và một số đối tượng tài sản trí tuệ.

Continue reading

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN MỘT SỐ NƯỚC

TS. NGUYỄN THỊ KIM THOA – – Vụ pháp luật Hình sự -Hành chính, Bộ Tư pháp

Tự do thông tin là một quyền cơ bản đối với mỗi con người. Quyền này cho phép và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một sự bảo vệ quan trọng chống lại các hình thức lạm dụng, các việc làm sai trái và tham nhũng. Quyền này cũng có thể đem lại lợi ích cho các Chính phủ thông qua việc đem lại sự minh bạch và cởi mở trong các quá trình ra quyết định và qua đó cải thiện lòng tin của công chúng đối với các hoạt động của Chính phủ (1).

1. Lợi ích của việc ban hành luật tiếp cận thông tin

Đến năm 2009, đã có 86 nước trên thế giới ban hành Luật về Tiếp cận thông tin. Quốc gia đầu tiên ban hành luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin là Thụy Điển (năm 1766), sau đó một số nước khác cũng có đạo luật riêng như Mỹ ban hành Luật Tự do thông tin (năm 1966), Canada (1983), Hungary (1992), Anh (năm 2000), Nam Phi (năm 2000)… Ở châu á, một số nước đã ban hành luật này như Thái Lan (12/1997), Hàn Quốc (1/1998), Nhật Bản (4/2001), Ấn Độ (năm 2005), Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… Một số quốc gia khác cũng đang trong quá trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành nghị định riêng để điều chỉnh về vấn đề này.

Theo Báo cáo về tiếp cận thông tin trên thế giới thì việc ban hành luật về tiếp cận thông tin mang lại một số lợi ích cơ bản sau đây:

1.1. Thu hút sự tham gia của công chúng và thực hiện dân chủ

Tự do thông tin là yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự tham gia của công chúng vào các công việc xã hội. Đồng thời, công chúng chỉ thực sự có khả năng tham gia vào các quá trình dân chủ khi họ có đầy đủ các thông tin về các chính sách và hoạt động của Chính phủ. Dân chủ là dựa trên sự đồng thuận của các công dân và sau đó Chính phủ thông báo cho các công dân về các hoạt động của mình và thừa nhận quyền của các công dân được tham gia vào các công việc của Chính phủ.

Continue reading

KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH

Trong giới hạn bài viết này, tác giả muốn trình bày 3 vấn đề chính đó là (1) Tổng quan về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) VN; (2) Khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của DNNVV VN; (3) Nhận định những hệ quả hạn chế tài chính của các DNNVV và kiến nghị giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho các DNNVV VN.

Để thực hiện các nội dung trên bài viết này sử dụng nguồn số liệu thứ cấp của Tổng cục Thống kê, và nguồn số liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra chọn mẫu doanh nghiệp nhỏ và vừa VN qua một số đề tài nghiên cứu do tác giả chủ trì trong hai năm 2005-2006 (điều tra 230 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến tại 3 tỉnh Tiền Giang, Bình Dương và TP.HCM; và điều tra 200 doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thuộc các ngành sản xuất công nghiệp tại TP.HCM). Các doanh nghiệp được chọn khảo sát trong các cuộc điều tra trên ít nhất có 3 năm hoạt động trở lên. Phương pháp phân tích số liệu điều tra sử dụng trong bài viết này là phân tích tuần suất, tính toán một số chỉ số tài chính và khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ các quỹ tài chính nhà nước của các DNNVV thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Các kết quả tính toán sẽ được so sánh với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có qui mô lớn.

1.Tổng quan về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) VN

Theo quy định tại Nghị định 91/2001/CP của Thủ tướng Chính phủ VN ban hành năm 2001, các doanh nghiệp có qui mô vốn dưới 10 tỷ đồng VN và qui mô lao động dưới 300 người được coi là các DNNVV. Căn cứ vào các tiêu chí trên, đặc biệt tiêu chí về vốn thì đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (kinh tế tư nhân) của VN là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số liệu thống kê doanh nghiệp đến ngày 31/12/2005 của Tổng cục Thống kê VN phản ánh qua Bảng 1 dưới đây cho thấy rõ nhận định này.

Báng 1: Qui mô doanh nghiệp VN theo lao động, vốn phân theo thành phần kinh tế tính đến ngày 31/12/2005

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: RỐI HỢP ĐỒNG CHO THUÊ HỆ THỐNG CHƠI BOWLING

HOÀNG YẾN

Khi có tranh chấp, tòa này bảo hợp đồng cho thuê vô hiệu, tòa kia lại nói hợp pháp.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa hoãn xử vụ tranh chấp giữa Công ty cho thuê tài chính Kexim Việt Nam và Công ty TNHH thương mại Chí Đạt để nghiên cứu thêm. Đây là một vụ tranh chấp hợp đồng cho thuê hệ thống thiết bị chơi bowling (được lắp đặt, khai thác tại Trung tâm Bowling Đầm Sen) kéo dài hơn 10 năm qua với năm lần xét xử mà vẫn chưa xong. Ngoài lấn cấn xung quanh chuyện hợp đồng cho thuê có vô hiệu hay không, cơ quan tố tụng còn “đau đầu” khi xử lý hậu quả phát sinh.

Đầu xuôi, đuôi tranh chấp

Tháng 8-1999, Kexim khởi kiện Chí Đạt ra TAND TP.HCM. Theo đơn kiện, tháng 2-1998, Kexim ký hợp đồng cho Chí Đạt thuê hệ thống thiết bị chơi bowling cùng hệ thống máy phát điện (tổng giá trị gần 1,6 triệu USD và hai tỷ đồng). Thời hạn cho thuê là 36 tháng với giá thuê khoảng 51,5 ngàn USD và 71 triệu đồng/tháng. Cạnh đó, Kexim còn cho Chí Đạt thuê hệ thống máy điều hòa nhiệt độ (trị giá 405 ngàn USD) với giá thuê 13,2 ngàn USD/tháng…

Cuối tháng 2-1999, Kexim đã giao toàn bộ hệ thống thiết bị cho Chí Đạt lắp đặt và kinh doanh tại Trung tâm Bowling Đầm Sen. Tuy nhiên từ tháng 11-1999, Kexim không nhận được bất kỳ khoản tiền thanh toán nào từ Chí Đạt nên nảy sinh tranh chấp.

Không thống nhất được, Kexim khởi kiện, yêu cầu Chí Đạt phải thanh toán, bồi thường tổng chi phí mua các hệ thống thiết bị, lãi tích lũy, lãi quá hạn, giá trị còn lại của tài sản và phạt vi phạm hợp đồng tổng cộng hơn 2,7 triệu USD. Ngoài ra, Chí Đạt còn phải thanh toán chi phí liên quan đến việc thu hồi nợ của Kexim như phí luật sư, chi phí phát mại tài sản…

Continue reading