GIÁO DỤC: XIN CHO TÔI NÓI THẲNG

GS. HOÀNG TỤY

1. Giáo dục sa sút không phải vì thiếu tiền mà vì quản lý kém

Sau một mùa thi THPT và ĐH-CĐ nặng nề, căng thẳng giả tạo và lãng phí vô lối, không có ở đâu ngoài Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ 21, trường học chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức đã bước vào khai giảng năm học mới, khởi động một chu kỳ khổ dịch đầy lo âu cho cả thầy lẫn trò.

Giữa lúc đời sống trăm mối tơ vò mà trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đầy rẫy những bản tin chữ to nào là học phí cao, tiền trường leo thang, tiểu học công lập có nơi thu học phí 70-80 nghìn đồng/tháng, THCS, THPT vừa đầu năm học phụ huynh phải è cổ đóng góp cả chục khoản tiền “tự nguyện” bắt buộc. Trong khi đó chương trình học đã nhiều năm bị phê phán quá tải vẫn chưa hề giảm tải, sách giáo khoa sai sót đến mức đính chính không xuể vẫn cứ phải dùng, chương trình phân ban THPT bộc lộ bất cập ngay khi mới đưa ra thực hiện nhưng vẫn sẽ giữ nguyên cho đến 2015.

Khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh tích cực” nghe thì hay, nhưng băn khoăn lớn là làm thế nào trong hai năm tới chấm dứt được nạn “đọc, chép” trong khi mọi thứ khác, từ chương trình, sách giáo khoa, tổ chức học tập cho đến thi cử và nhiều chuyện cốt lõi khác về tư duy giáo dục vẫn căn bản gần y nguyên như nửa thế kỷ trước. Thật xót xa khi học sinh được khuyên “học làm người trước khi học chữ” mà có nơi nhân danh chuẩn hóa giáo viên người ta buộc các thầy cô chưa đạt chuẩn phải đeo trước ngực tấm biển “giáo viên chưa đạt chuẩn” khi vào lớp. Quản lý thiếu nhân tính như thế tránh sao được những chuyện đau lòng như thầy bắt trò liếm ghế, trò tạt a-xit thầy, học sinh lớp 11-12 đâm chém nhau ngay trước cổng trường, v.v. Nói chống bệnh thành tích mà trước kia tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt trên 90%, nay sau hai năm thi cử nghiêm túc hơn, tỉ lệ đó cũng đã dần dần trở lại xấp xỉ… 90%, không biết phép lạ nào đã nâng cao chất lượng học tập nhanh chóng như vậy.

Continue reading

LOẠI TRANH CHẤP NÀO PHẢI QUA HÒA GIẢI TẠI CẤP XÃ?

PHẠM THÁI QUÍ

Thực tế, việc tranh chấp liên quan đến đất đai xảy ra dưới rất nhiều kiểu, dạng và trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Hiểu thế nào là tranh chấp đất đai để khoanh vùng những loại tranh chấp phải qua thủ tục hòa giải tại cấp xã vẫn chưa có sự thống nhất. Từ đó, dẫn đến tình trạng“đánh nhầm hơn bỏ sót”- một trong những nguyên nhân làm ách tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay.

Vấn đề đặt ra

Luật Đất đai năm 2003 cũng như Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ mới chỉ quy định tranh chấp đất đai phải qua hòa giải tại UBND cấp xã, nhưng chưa quy định cụ thể bắt buộc phải hòa giải đối với những tranh chấp đất đai thuộc loại nào. Căn cứ vào quan hệ pháp luật về tranh chấp có thể phân loại: tranh chấp về quan hệ pháp luật đất đai (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất); tranh chấp về các hợp đồng dân sự như: chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tranh chấp tài sản chung (quyền sử dụng chung về đất đai); tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Vậy, theo quy định của Luật Đất đai, có phải tất cả các dạng tranh chấp trên đều phải thông qua việc hòa giải tại cấp xã hay không ?

Nhận thức chưa thống nhất

Qua hơn hai năm thực thi các quy định của Luật Đất đai 2003 về việc giải quyết tranh chấp đất đai, việc xác định loại tranh chấp nào bắt buộc phải qua hòa giải ở cấp xã vẫn chưa có sự thống nhất. Về vấn đề này, hiện nay đang tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tất cả các tranh chấp đất đai, như tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất, đều bắt buộc phải qua hòa giải tại cấp xã thì đương sự mới có quyền khởi kiện đến Toà án.

Continue reading

XỬ Ở TÒA …, TÒA XỬ, … CẦN MỘT QUYẾT ĐỊNH SÁNG SUỐT

T . T

Một cá nhân nguyên là cán bộ của Nhà hát Chèo Việt Nam đã chiếm dụng 62 m2 đất (gồm có 01 nhà cấp 4 là 21m2) trong khu tập thể của Nhà hát Chèo Việt Nam (Khu tập thể Nhà hát Chèo Việt Nam nằm trong khuôn viên của Trường Sân Khấu điện ảnh) từ năm 1993 đến nay. Hơn 15 năm qua, Nhà hát Chèo Việt Nam liên tục có công văn đòi lại đất, nhưng cá nhân này không trả. Bộ chủ quản (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) có quyết định thu hồi đất bị chiếm dụng nhưng cũng không thực hiên được. Buộc lòng cơ quan nhà nước phải kiện cá nhân ra toà. Trớ trêu thay, mặc dù sai đúng đã rõ ràng, nhưng trong khi Toà sơ thẩm xử Bộ thắng thì Toà phúc thẩm lại xử Bộ thua.

Đơn của ông Bùi Đắc Sừ – Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam nêu rõ: ông Lê Xuân Thịnh – nguyên là cán bộ của Nhà hát Chèo Việt Nam đã chiếm dụng 62m2 đất (gồm có 01 nhà cấp 4 là 21 m2) trong khu tập thể của Nhà hát Chèo Việt Nam (Khu tập thể Nhà hát Chèo Việt Nam nằm trong khuôn viên của Trường Sân Khấu điện ảnh) từ năm 1993 đến nay.

Từ những năm 1969, ông Lê Xuân Thịnh cùng một số cán bộ Nhà hát Chèo Việt Nam ở trong khu nhà kính của Trường Sân khấu Điện ảnh do Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) quản lý. Sau khi Trường Sân khấu Điện ảnh trưng dụng khu nhà kính, gia đình ông Thịnh cùng với 6 hộ khác của Nhà hát Chèo xuống ở tại khu tập thể của Trường Sân khấu Điện ảnh. Xuất phát từ đơn xin được cấp đất của ông Thịnh, Hội đồng nhà đất Nhà hát Chèo đã họp và thống nhất đề nghị lên Bộ Văn hóa Thông tin nguyện vọng xin được cấp đất của ông Thịnh. Theo quyết định số 2306/QĐ-NĐ ngày 24.08.1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin xét đề nghị của Hội đồng phân phối nhà đất của Bộ đã cấp cho ông Thịnh 50m2 đất với điều kiện ông Thịnh phải trả nhà cũ trong khu tập thể Trường Sân khấu Điện ảnh. Trước khi được giao đất, ông Lê Xuân Thịnh đã nộp đơn xin được cấp đất và có cam kết sẽ trả lại 62m2 đất (gồm có 01 nhà cấp 4 là 21m2) tại nhà số 08 dãy B tổ 22 tập thể Trường Sân khấu Điện ảnh cho Nhà hát chèo Việt Nam. Nhưng ngay sau khi được nhận bàn giao đất mới ở khu ao Chèo, ông Lê Xuân Thịnh đã bán 50m2 đất trong khu ao Chèo vừa được phân, đồng thời ông Thịnh vẫn ngang nhiên chiếm giữ nhà đất cũ trong khu tập thể của Nhà hát Chèo Việt Nam, trong khi tất cả những đồng nghiệp của ông Thịnh được phân chỗ ở mới đã trả lại nhà trong khu tập thể để Nhà hát phân cho cán bộ khác chưa có chỗ ở.

Continue reading

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ: GÓC NHÌN TỪ ĐẠO LUẬT SARBANES – OXLEY

DUY CƯỜNG

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán. Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán. Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng

Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

Continue reading

ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: CẦM CHUÔI VẪN ĐỨT TAY?

TUẤN LINH

Tài sản đã thế chấp nơi ngân hàng nhưng chủ tài sản vẫn đem bán cho ai đó, kiện tụng chán chê nơi pháp đình và rốt cục, ít nhiều ngân hàng vẫn chịu thiệt. Không ít kiến nghị về bất cập trong đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng lời “hứa” của các nhà làm luật cứ… để đấy!

Những ngày qua, dư luận ồn ào xung quanh vụ giám đốc một doanh nghiệp đem thửa đất đã thế chấp tại ngân hàng bán cho nhiều đối tượng. Sự việc vỡ lở, vị giám đốc nói trên bị bắt, ngân hàng bỗng nhiên dính vào vòng lao lý.

Thắng kiện vẫn thiệt thòi

Chưa biết tòa phân xử thế nào nhưng bao quát từ các vụ kiện tương tự, dù ngân hàng được xử thắng kiện (trên cơ sở đảm bảo đầy đủ thủ tục pháp lý: hợp đồng vay vốn, nhận tài sản thế chấp hợp pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm…) nhưng ít nhất vẫn phải chia sẻ rủi ro với những nguyên đơn khác. Một lý do có quan điểm “rộng lượng”: “Họ cũng là nạn nhân nên cần được chia sẻ!”.

Ông Trương Thanh Đức, Giám đốc Ban Pháp chế Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt cho biết: với quy trình, thủ tục khá chặt chẽ trong việc cho vay có tài sản thế chấp, về mặt pháp lý, ngân hàng thường “nắm đằng chuôi”. Nhưng trớ trêu, ngân hàng thường nhận lại phần thua thiệt không nhiều thì ít, khi phát sinh tranh chấp trên thực tế.

Ông Đức nêu dẫn chứng, trong thời gian còn làm việc tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIBank), VIBank đã từng theo đuổi một vụ kiện mấy năm trời do khách hàng bán tài sản đã thế chấp. Mặc dù ngân hàng làm đúng thủ tục, quy trình nhưng khi ra tòa, bên làm đúng vẫn bị thua! Lý do “thua” được tòa đưa ra là: bên nguyên đơn kia cũng là người mua, cũng bị chịu thiệt hại. Chưa kể, sự “thua” khác còn ở chỗ phải theo kiện tụng hàng năm trời, tốn kém thời gian, chi phí, tổn hại đến uy tín thương hiệu…

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 80/2009/NĐ-CP NGÀY 01 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XE Ô TÔ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI ĐĂNG KÝ TẠI NƯỚC NGOÀI CÓ TAY LÁI Ở BÊN PHẢI THAM GIA GIAO THÔNG TẠI VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc tham gia giao thông của người lái xe là người nước ngoài và xe ô tô chở người của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái ở bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc xe ô tô chở người của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái ở bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam.

2. Xe ô tô chở người của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái ở bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam phải thực hiện các quy định của Nghị định này, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của Việt Nam. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế đó.

Continue reading

ĐI TÌM TRIẾT LÝ CỦA LUẬT PHÁ SẢN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội

Đạt mục đích bằng nhiều công cụ khác nhau:

Sau hơn mười năm thực hiện không thành công, Luật PSDN 1993 đang được xem xét sửa đổi. Vượt ra khỏi những hạn chế mang tính kỹ thuật lập pháp, tính chưa đồng bộ của các đạo luật tố tụng và cách triển khai thực hiện đạo luật này, cần xem xét nguyên nhân của sự bất thành này trong khung cảnh của nhiều công cụ tái tổ chức doanh nghiệp thua lỗ. Những bình luận tổng quan ở trên cho phép dự báo vai trò của pháp luật phá sản trong tương lai sẽ không thay đổi đáng kể. Đối với doanh nghiệp nhà nước, Luật phá sản sẽ vẫn chỉ là một công cụ tái tổ chức yếu ớt; tòa án sẽ không thể mau chóng thay thế các cơ quan hành chính chủ quản trong việc phục hồi doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp dân doanh, chững nào khái niệm trách nhiệm hữu hạn chưa trở thành phổ biến và cá nhân chủ nợ không được tuyên bố miễn trách, chừng đó các thiết chế đòi nợ tập thể có sẵn trong xã hội Việt Nam sẽ thay thế Luật phá sản.

Xác định tình trạng mất khả năng thanh toán:

Mất khả năng thanh toán là dấu hiệu đầu tiên cần được làm rõ bởi pháp luật phá sản. Chỉ khi lâm vào tình trạng này, các thiết chế của tái tổ chức hoặc thanh lý tư pháp mới được áp dụng. Cần làm rõ và lựa chọn một trong hai khái niệm: (i) mất khả năng thanh toán và (ii) lâm vào tình trạng phá sản. Tình trạng thua lỗ trầm trọng, kéo dài, không mang tính chất kẹt tiền tức thời này đã phần nào được nhận diện qua các dấu hiệu quy định tại điều 6, Nghị định số 189/CP [1994]. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh các dấu hiệu này chỉ để suy đoán doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán, chứ không có ý nghĩa doanh nghiệp đã phá sản, cần phải thu hồi, phát mại và thanh lý sản nghiệp. Vì lý do đó, nhiều nước đã đổi tên luật phá-sản thành luật mất khả năng thanh toán. Thêm nữa, mất khả năng thanh toán thường dựa trên tiêu chí không thanh toán nợ đến hạn (dòng tiền)hoặc tổng nợ vượt quá tài sản có (cân đối tài sản). Muốn áp dụng rộng rãi luật mất khả năng thanh toán như là một biện pháp tái cơ cấu, phải mở rộng và đơn giản hoá đối tượng áp dụng, tránh dùng các tiêu chí khó định lượng. Cách quy định của điều 3 Dự thảo, theo thiển ý của tôi, đã đi đúng xu hướng này.

Continue reading

VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT Ở XÃ TÂN MỸ, HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG: PHẦN NHẬN ĐỊNH TRONG BẢN ÁN GIÁM ĐỐC THẨM CỦA TÒA DÂN SỰ TANDTC LÀ KHÔNG ĐÚNG

TRƯƠNG CÔNG MINH

Hàng ngày, có nhiều vụ việc, và không phải vụ việc nào, vụ án nào cấp lãnh đạo cao nhất của Tòa án Nhân dân tối cao cũng có thể để mắt tới được. Tuy vậy, vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ở xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mà Báo NĐBND đề cập tới lâu nay, thì lãnh đạo Tòa án Nhân dân tối cao nên quan tâm và quan tâm chặt chẽ, bởi phần nhận định trong bản án giám đốc thẩm của Tòa dân sự Tòa án Nhân dân tối cao cho thấy không chỉ là trình độ của cán bộ xa với yêu cầu, mà còn thiếu sự công tâm của quan tòa.

Tóm tắt vụ án

Vào tháng 12 năm 2000, bà Trần Thị Tuyết Nhung nhờ ông Nguyễn Thiện Dân mua hộ bà diện tích đất 19.235 m2 của ông Trần Văn Phái và diện tích đất 4.933m2 đất của ông Trần Văn Sang, tổng cộng là 24.168m2, đều có nguồn gốc đất khai hoang từ năm 1980 tại xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trước đó, ông Dân đã mua cho mình diện tích đất 8.468 m2 của ông Duyên. ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên đã cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất  24.168m2 cho bà Nhung (số 01376 ngày 16/4/2001) và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất 8.468m2 cho ông Dân (số 00647 ngày 30/10/2000). Như vậy bà Nhung là chủ diện tích đất 24.168m2 và bà đã tiến hành làm nhà trên diện tích đất này.

Hơn 5 năm sau, ngày 29/6/2006 ông Dân có đơn khởi kiện đòi bà Nhung trả cho ông 7.850 m2 đất và tài sản trên đất với căn cứ do ông xuất trình là “Bản ghi nhớ về hợp tác du lịch sinh thái” được ông và bà Nhung ký ngày 21/5/2001, trong đó có các quy ước hai bên góp đất hợp tác đầu tư, bà Nhung góp 16.318m2, ông Dân góp 8.468m2 và 7.850m2 (lấy ra trong số 24.168m2 của bà Nhung). Do hai bên không thực hiện hợp tác đầu tư nên ông yêu cầu Tòa án buộc bà Nhung trả cho ông 7.850m2 đất và giá trị tài sản trên đất.

Tại bản án sơ thẩm số 26/2007/DSST ngày 15.5.2007, Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên đã xử bác yêu cầu của ông Dân đòi đất và giá trị tài sản trên đất của bà Nhung.

Ngày 25.5.2007 ông Dân kháng cáo bản án sơ thẩm.

Continue reading

GIẢI QUYẾT CÁC VỤ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: KHÔNG CHỈ LÀ THẨM QUYỀN TƯ PHÁP

HOÀI NHÂN

Theo quy định của Luật Đất đai, Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ và một số văn bản dưới luật có liên quan, những trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hoặc chưa có GCNQSDĐ nhưng đã có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1,2,5 Điều 50 của Luật Đất đai, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước xác định thẩm quyền thụ lý giải quyết các vụ, việc tranh chấp đất. Tuy nhiên, thực tế việc xử lý các vụ việc liên quan đến lĩnh vực đất đai rất phức tạp, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan tư pháp thường xảy ra, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Cụ thể, với những quy định hiện hành thì hầu hết các vụ tranh chấp đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì hiện nay công tác xác lập quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình đã đi vào giai đoạn hoàn thiện. Do vậy, những năm trước đây, chính quyền địa phương thường mạnh tay với những đối tượng có hành vi cản trở việc sử dụng đất hoặc xây dựng công trình, nhà trái phép trên đất đã giao cho người khác một cách hợp pháp thì nay, những biện pháp như xử phạt hành chính, cưỡng chế, buộc tháo gỡ… không mấy khi được sử dụng, trách nhiệm thường được đẩy sang Tòa án, dẫn đến giải quyết vụ việc kéo dài, kéo theo nhiều hệ lụy cho người dân. Có vụ việc, nếu được xác định thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương, xử lý theo thủ tục hành chính sẽ bớt đi nhiều công đoạn và giảm bớt sự phiền hà không đáng có cho người dân.

Có thể dẫn chứng một số vụ việc để thấy rõ điều này. Điển hình là vụ tranh chấp đất của những hộ dân tại thôn Lộ Diêu, xã Hoài Mỹ, Hoài Nhơn,  Bình Định. Năm 2007, UBND xã Hoài Mỹ quyết định thanh lý mặt bằng và tài sản khu chợ Lộ Diêu, do hoạt động không hiệu quả để quy hoạch đất ở khu dân cư.

Continue reading

XUNG QUANH MỘT BẢN ÁN DÂN SỰ BẤT THƯỜNG TẠI VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ: CÔNG LÝ PHỤ THUỘC VÀO … SỐ ĐÔNG?

TRẦN QUYẾT

Mặc dù đã đánh giá đây là một bản án còn có “thiếu sót” và trên thực tế chính Chánh án TAND tỉnh cũng khẳng định là chưa thực hiện đúng các quy định pháp luật, nhưng không hiểu sao, bản án dân sự này vẫn được các cấp xét xử của Phú Thọ giữ nguyên khiến cho lòng tin của người dân nơi đây về cán cân công lý đang bị lay động. Sự vào cuộc khẩn thiết của TANDTC và VKSNDTC để bảo vệ quyền lợi cho những người dân “thấp cổ bé họng” là điều hết sức quan trọng vào lúc này.

Khẳng định thêm một lần nữa về quan điểm của mình với ĐS &PL trong buổi làm việc ngày 1.10.2009, ông Nguyễn Tiến Quang, Chánh án TAND tỉnh Phú Thọ cho biết: "Đây là một bản án còn nhiều thiếu sót, không được thực hiện đúng các quy định pháp luật. Vậy mà các ý kiến khác vẫn công nhận. Vì số đông tôi phải thực hiện theo thôi. Nhưng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm của mình về việc cần phải xem xét lại bản án này”.

Sự việc với nhiều mâu thuẫn và bất thường được diễn ra khi ngày 3.3.2009, trong Quyết định 22/2009/QĐDS-ST của TAND TP.Việt Trì công nhận sự thỏa thuận của các đương sự “Lê Thị Kiều Dung có trách nhiệm trả lại cho Nguyễn Thị Thu Hoàn số tiền 724.550.000đ, thời hạn cuối cùng là ngày 31.3.2009, phải chịu lãi suất số tiền trả chậm theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước nếu thanh toán chậm. Phía anh Khoa và bà Tỉnh không liên quan đến việc vay nợ giữa chị Dung và chị Hoàn”. Dù đã xác định, bà Tỉnh (tên đầy đủ là Đỗ Thị Tỉnh – PV) không hề liên quan đến việc vay nợ này, nhưng với sự khẳng định lạ lùng: "Chiếc xà lan máy số đăng kiểm V19 -00334, số đăng ký hành chính PT -0611H đứng tên bà Đỗ Thị Tỉnh là tài sản thuộc sở hữu của chị Lê Thị Dung”, TAND TP.Việt Trì đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với chiếc xà lan này nhằm thi hành án dân sự cho chị Dung mà không hề dựa trên một cơ sở pháp lý nào. Trong khi đó, trong hồ sơ vụ án, chưa có bất cứ thủ tục chuyển nhượng, tặng, cho nào của bà Tỉnh đối với chị Dung.

Continue reading

RÒ RỈ ĐƯỜNG DÂY ĐIỆN CÔNG CỘNG GÂY CHẾT NGƯỜI: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ LIỆU ĐÃ ĐỦ VÀ THỎA ĐÁNG

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Thêm một vụ rò rỉ đường dây điện công cộng làm chết người. Lần này, lỗi tác nghiệp đã được khẳng định, một quan chức ngành điện phụ trách địa bàn nơi xảy ra vụ việc đã bị đình chỉ chức vụ và một số cán bộ, nhân viên khác đang bị xem xét để làm rõ trách nhiệm.

Có vẻ như so với những lần tai nạn trước đây, lần này sự việc đang diễn ra phù hợp hơn với trông đợi của mọi người. Điều đó cho phép nghĩ rằng sức ép của xã hội, nhất là của các phương tiện truyền thông, đang phát huy được tác dụng tích cực, kích thích sự hữu hiệu hoá luật pháp như là một công cụ điều chỉnh ứng xử của con người, đặc biệt là của người nắm giữ chức vụ công.

Một khi sự cố, tai nạn, nói chung một sự việc đáng tiếc nào đó xảy ra và gây hậu quả xấu, thì cách giải quyết tốt nhất là áp dụng các biện pháp chế tài pháp lý đối với tác giả của sự việc và buộc người này phải khắc phục hậu quả. Thông thường, theo bản năng tự vệ để sinh tồn, người bị quy trách nhiệm về thiệt hại luôn tìm cách chối bỏ, rũ bỏ hoặc ít nhất làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình. Đứng ở cực đối lập bên kia, xã hội, cụ thể là nhà chức trách, người bị thiệt hại và công luận luôn phải cố gắng làm thế nào để đặt “đương sự” ở trong tình trạng không thể chạy chối hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho người khác mà phải chấp nhận để trách nhiệm được quy cho mình, một cách rành mạch, dứt khoát.

Tuy nhiên, liên quan đến vụ tai nạn vừa rồi, việc xác định và chế tài về mặt pháp lý những con người cụ thể ở những cương vị cụ thể chỉ giải toả được một phần nỗi bức xúc của xã hội. Đây không phải là lần đầu tiên một thiết bị công cộng bị khuyết tật và gây chết người trong quá trình vận hành. Mới cách nay không lâu, một học sinh lớp 8 cũng bị điện giật chết theo một “kịch bản” không khác mấy. Ai dám nói chắc và nói một cách thuyết phục rằng việc chế tài một số người trực tiếp liên quan trong vụ này sẽ có tác dụng bảo đảm hoặc ít nhất cũng sẽ giảm thiểu rủi ro xảy ra những chuyện tương tự trong tương lai?

Continue reading

KHÔNG PHÙ HỢP THỰC TẾ

TRẦN SƠN NGHĨA

Nếu lương bình quân của người lao động dưới 5 triệu đồng một tháng thì lương bình quân của thành viên chuyên trách hội đồng quản trị, tổng giám đốc không được vượt quá 10 lần là một nội dung của Dự thảo Nghị định quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với các công ty có phần vốn góp chi phối của Nhà nước, đang được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội lấy ý kiến.

Có nhiều ý kiến cho rằng, nội dung này của dự thảo không  phù hợp với thực tế thị trường hiện nay. Một mặt, theo ông Trần Bảo Minh, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Vinamit, việc khống chế mức lương trần ở các công ty có phần vốn góp chi phối của Nhà nước sẽ làm cho loại hình doanh nghiệp này khó tuyển dụng được người tài và giữ họ gắn bó lâu dài với công ty. Ngoài ra, đặc thù kinh doanh của từng ngành khác nhau làm cho số lượng nhân công và trình độ lao động của mỗi doanh nghiệp khác nhau, dẫn đến mức lương của mỗi đơn vị khác nhau. Đơn cử, ở một doanh doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động trực tiếp có mức lương thấp, mức lương trần của vị giám đốc công ty cũng bị ảnh hưởng theo.

Ngược lại, theo tổng giám đốc của một công ty trong ngành nông nghiệp, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “lương giám đốc cao hơn nhân viên 10 lần thì tôi mừng quá…! Mức lương hiện giờ của tôi thấp hơn dự thảo quy định nhiều”. Hiện lương của ông chỉ cao hơn lương nhân viên chưa tới ba lần. Do ngành nông nghiệp có đặc thù riêng, lợi nhuận thấp và Nhà nước vẫn còn hỗ trợ, trừ các ngành kinh doanh như lúa gạo, thủy sản, các sản phẩm từ sữa.

Vị giám đốc trên cũng nói rằng, dù vậy, nhưng so với lương của những tổng công ty nhà nước hoạt động trong ngành phân bón hoặc xây dựng thì mức lương cao hơn nhân viên 10 lần lại quá thấp so với mức lương thực nhận của họ. Vì vậy, để dự thảo nghị định này đi vào cuộc sống, Nhà nước nên cân nhắc quy định lại mức lương trần, theo từng ngành nghề khác nhau. Không thể so sánh mức lương của một tổng giám đốc công ty nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, mỗi năm mang về cho Nhà nước vài trăm triệu đô la với mức lương của một giám đốc hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, phụ thuộc vào mùa vụ, thu nhập bất thường.

Continue reading